Các bạn cho mình hỏi là tại sao sinx ≠ 0 thì tương đương được x ≠ kπ ( k € Z ) v…
Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích từng bước một nhé.
Bước 1: Hiểu về định nghĩa hàm số sin(x) trong vòng tròn lượng giác
Trong chương trình Toán 10 mới, đặc biệt là các bộ sách như Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo hay Cánh diều, chúng ta thường sử dụng vòng tròn lượng giác để hiểu về các giá trị lượng giác.
Vòng tròn lượng giác là một đường tròn có bán kính bằng 1, tâm trùng với gốc tọa độ O(0,0) của hệ trục tọa độ Oxy. Mọi góc lượng giác đều có thể được biểu diễn bằng một điểm trên vòng tròn này.
Giá trị của sin(x) tại một góc x được định nghĩa là tung độ (giá trị y) của điểm biểu diễn góc x trên vòng tròn lượng giác.
Bước 2: Xác định khi nào sin(x) bằng 0
Bây giờ, chúng ta cần tìm xem khi nào thì tung độ (giá trị y) của điểm biểu diễn góc x trên vòng tròn lượng giác bằng 0.
Quan sát vòng tròn lượng giác, ta thấy điểm có tung độ bằng 0 nằm trên trục hoành Ox.
Có hai điểm trên vòng tròn lượng giác có tung độ bằng 0:
- Điểm thứ nhất: nằm ở phía bên phải của trục hoành, tương ứng với góc 0 radian (hoặc 0 độ).
- Điểm thứ hai: nằm ở phía bên trái của trục hoành, tương ứng với góc π radian (hoặc 180 độ).
Đây là những điểm mà giá trị sin của góc tại đó bằng 0.
Bước 3: Tìm tất cả các góc mà sin(x) = 0
Tuy nhiên, chúng ta không chỉ xem xét các góc từ 0 đến 2π. Các góc lượng giác có thể quay nhiều vòng, theo cả chiều dương và chiều âm.
Nếu một góc x làm cho sin(x) = 0, thì các góc x + 2kπ (với k là một số nguyên bất kỳ, k ∈ Z) cũng sẽ có cùng điểm biểu diễn trên vòng tròn lượng giác, và do đó, sin(x + 2kπ) = sin(x).
Vì vậy, các góc làm cho sin(x) = 0 là:
- Các góc tương ứng với điểm bên phải trục hoành: 0, 2π, -2π, 4π, -4π, …
- Các góc tương ứng với điểm bên trái trục hoành: π, 3π, -π, 5π, -3π, …
Ghép hai tập hợp góc này lại, chúng ta thấy một quy luật chung: các góc này đều là bội số nguyên của π.
Cụ thể, chúng ta có thể viết chung tất cả các góc này dưới dạng: x = kπ, với k ∈ Z.
Điều này có nghĩa là: sin(x) = 0 khi và chỉ khi x = kπ, với k là một số nguyên bất kỳ.
Bước 4: Suy luận điều kiện sin(x) ≠ 0
Bây giờ, chúng ta xem xét điều kiện ngược lại: sin(x) ≠ 0.
Nếu sin(x) ≠ 0, điều đó có nghĩa là x không được phép là bất kỳ góc nào mà làm cho sin(x) bằng 0.
Dựa trên Bước 3, chúng ta đã xác định được rằng sin(x) = 0 khi x = kπ (k ∈ Z).
Do đó, để sin(x) ≠ 0, thì x không được phép bằng kπ (k ∈ Z).
Chúng ta có thể biểu diễn điều này bằng ký hiệu: x ≠ kπ, với k ∈ Z.
Kết luận:
Vậy, khi sin(x) ≠ 0, điều đó tương đương với việc x ≠ kπ, với k là một số nguyên bất kỳ (k ∈ Z).
Lý do áp dụng ở đây là chúng ta dựa vào định nghĩa giá trị sin trên vòng tròn lượng giác và tính chất tuần hoàn của hàm số lượng giác.
Hy vọng cách giải thích này đã giúp bạn hiểu rõ hơn. Nếu còn thắc mắc nào, đừng ngần ngại hỏi nhé!
\(\sin x=0\) (*)
Bấm shift sin 0 ta có \(x=0\)
Giải theo công thức nghiệm \(\sin x=m\), ta có \(x=0+k2\pi\) và \(x=\pi-0+k2\pi\)
Viết \(-k\) hay \(k\) cũng không ảnh hưởng vì k là số nguyên bất kì. Do đó có thể viết lại 2 họ nghiệm:
\(x=k2\pi\) (biểu diễn bởi điểm A)
\(x=\pi+k2\pi\) (biểu diễn bởi điểm A’)
Gộp hai điểm này lại ta có \(x=k\pi\)
Đáp án:
Giải thích các bước giai
theo đường tròn lượng giác ở 0 và \(\pi\) thì dóng sang sin =0 vì theo tính chất tuấn hoàn thì cứ \(\pi\) là sin =o nên để sin \(\neq\) 0 thì x \(\neq\) k\(\pi\)