Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

cảm nhận của anh/chị về bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương ( giúp mình với/ khô…

cảm nhận của anh/chị về bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương ( giúp mình với/ khô…

cảm nhận của anh/chị về bài thơ Thương Vợ của Trần Tế Xương ( giúp mình với/ không coppy trên mạng giúp mình nhé/ cảm ơn đã giúp ạ)
Hỏi bởi: Phượng Phạm
2 câu trả lời
▲ 1✔
Chào các em học sinh yêu quý của cô! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau khám phá và cảm nhận một kiệt tác của thi ca Việt Nam, bài thơ “Thương Vợ” của nhà thơ Trần Tế Xương. Cô biết bài thơ này có thể hơi khó hiểu với một số bạn, nhưng đừng lo lắng, chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào từng câu chữ, từng hình ảnh để hiểu rõ hơn tấm lòng của nhà thơ nhé.

Để có một bài cảm nhận sâu sắc, chúng ta sẽ đi qua các bước sau, bám sát kiến thức đã học trong Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11.

Bước 1: Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm.

Trước hết, chúng ta cần nhớ lại một vài thông tin cơ bản về nhà thơ Trần Tế Xương (Trần Đan). Ông là một nhà thơ lớn cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, sống trong thời kỳ xã hội Việt Nam có nhiều biến động. Thơ của ông thường mang đậm tính hiện thực, phê phán xã hội và thể hiện tình cảm chân thành với người thân yêu.

Về bài thơ “Thương Vợ”, đây là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của ông, thể hiện sâu sắc tình yêu thương và sự đồng cảm của nhà thơ đối với người vợ tần tảo, hy sinh của mình. Bài thơ được viết theo thể thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật, một thể thơ cổ có quy tắc khá chặt chẽ.

Bước 2: Đọc và cảm nhận từng câu, từng ý trong bài thơ.

Chúng ta sẽ cùng nhau đi vào phân tích từng cặp câu, từng câu thơ để thấy rõ cái “thương” của nhà thơ.

Câu thơ đầu tiên:
“Quanh năm buôn bán ở nơi chợ búa,”

Câu thơ này đã khắc họa ngay hình ảnh người vợ với công việc hàng ngày. “Quanh năm” cho thấy sự vất vả, không ngừng nghỉ. “Buôn bán ở nơi chợ búa” lại gợi lên hình ảnh một không gian ồn ào, náo nhiệt nhưng cũng đầy bon chen, vất vả. Người vợ phải gánh vác chuyện cơm áo gạo tiền, lo cho gia đình.

Câu thơ thứ hai:
“Chén mắm, giió hành, nó cũng quen.”

Hai câu này tiếp nối câu trên, miêu tả những vật dụng quen thuộc trong cuộc sống mưu sinh của người vợ. “Chén mắm”, “gió hành” là những thứ giản dị, thậm chí là nghèo khổ. Việc “nó cũng quen” cho thấy sự chai sạn, chấp nhận với cuộc sống khó khăn của người vợ. Nhưng đằng sau đó là sự tần tảo, là sức chịu đựng phi thường.

Câu thơ thứ ba và thứ tư:
“Thân tôi uốn éo trên lưng thuyền,
“Đôi khi vặn mình trong tiếng gió.”

Đây là những hình ảnh nhân hóa đầy ấn tượng. “Thân tôi uốn éo trên lưng thuyền” gợi lên hình ảnh con thuyền tròng trành trên sông nước, và người vợ phải “uốn éo” theo nhịp điệu ấy để mưu sinh. “Đôi khi vặn mình trong tiếng gió” lại cho thấy sự khó khăn, vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt. Tiếng gió ở đây không chỉ là gió tự nhiên mà còn có thể là tiếng thị phi, sóng gió cuộc đời.

Câu thơ thứ năm và thứ sáu:
“Leo lẻo trên mâm, người ta ăn,
“Chén ngà, đĩa ngọc, tôi không ham.”

Hai câu này cho thấy sự tương phản rõ rệt giữa cuộc sống của người vợ và những người giàu sang. “Leo lẻo trên mâm, người ta ăn” gợi lên hình ảnh những bữa ăn thịnh soạn của người khác. Nhưng người vợ lại thốt lên: “Chén ngà, đĩa ngọc, tôi không ham.” Câu này thể hiện sự từ chối khéo léo, không ganh ghét với cuộc sống của người khác, nhưng đồng thời cũng làm nổi bật lên sự thiệt thòi, vất vả của chính mình. Bà không màng đến vật chất xa hoa.

Câu thơ thứ bảy và thứ tám:
“Chồng chưa ăn, ai dám ăn cơm,
“Khi chồng đói, ai dám đi chơi.”

Hai câu thơ cuối cùng là lời khẳng định tình yêu thương, sự hy sinh, đức hạnh của người vợ. Đây là những lời nói đầy trách nhiệm và lòng vị tha. “Chồng chưa ăn, ai dám ăn cơm” cho thấy người vợ luôn đặt chồng con lên trên hết. “Khi chồng đói, ai dám đi chơi” càng nhấn mạnh sự chăm sóc, lo lắng chu đáo của người vợ dành cho chồng. Đây là nét đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam.

Bước 3: Tóm tắt và khái quát cảm nhận.

Qua từng câu chữ, chúng ta thấy rõ tình cảm của nhà thơ Trần Tế Xương dành cho người vợ. Ông không chỉ đơn thuần ca ngợi mà còn thể hiện một sự đồng cảm sâu sắc, một nỗi xót xa cho những vất vả, hy sinh thầm lặng của người vợ.

Bài thơ “Thương Vợ” là một bức chân dung sống động về người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ, những người phụ nữ tần tảo, giàu đức hy sinh, luôn vun vén cho gia đình.

Tấm lòng “thương vợ” của nhà thơ được thể hiện qua:
* Sự thấu hiểu sâu sắc những vất vả, gian lao của người vợ trong cuộc sống mưu sinh.
* Sự xót xa, đồng cảm trước những thiệt thòi, hy sinh của người vợ.
* Sự trân trọng, đề cao phẩm giá, đức hạnh cao đẹp của người vợ.

Bước 4: Nêu ý nghĩa và giá trị của bài thơ.

“Thương Vợ” không chỉ là tiếng lòng của một người chồng dành cho vợ mà còn là tiếng nói chung, thể hiện một nét đẹp văn hóa, một đạo lý làm vợ, làm chồng trong xã hội Việt Nam. Bài thơ nhắc nhở chúng ta biết trân trọng những người phụ nữ thân yêu, biết ơn những hy sinh thầm lặng của họ.

Nhà thơ Trần Tế Xương đã dùng ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi nhưng lại có sức gợi cảm mạnh mẽ, để lại cho chúng ta một bài học về tình yêu thương, sự sẻ chia và lòng biết ơn.

Các em thấy đấy, bài thơ tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một thế giới tình cảm. Cô hy vọng qua buổi học hôm nay, các em đã cảm nhận rõ hơn về vẻ đẹp của bài thơ “Thương Vợ” và tình cảm của nhà thơ Trần Tế Xương. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, các em cứ mạnh dạn hỏi cô nhé!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 0

Nhắc đến những nhà thơ trào phúng trung đại thì người ta nhớ đến đầu tiên có lẽ là Trần Tế Xương. Quả thật thơ ông mang những nét trào phùng đặc biệt nhất, nó không nhẹ nhàng nhưng thâm thúy sâu cay như Nguyễn Khuyến mà nó sâu cay, cười mỉa mai trước những cái sự đời. Cũng giống như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương cũng có bài thơ tự cười mình, không chỉ cười xã hội mà ông còn cười chính bản thân mình. Và cũng chính vì thế mà Nguyễn Khuyến có bài tự trào thì Trần Tế Xương cũng có bài Thương vợ. Nhan đề bài thơ gợi lên cho ta tình cảm của nhà thơ dành cho người vợ mình nhưng đồng thời nội dung bài thơ còn thể hiện một tiếng cười về bản thân bất tài vô dụng của Trần Tế Xương.

Hai câu thơ mở đầu Trần Tế Xương đã kể lên những nỗi vất vả của người vợ thương yêu của mình. Đó là sự vất vả được hiện lên và mục đích của công việc ấy:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Hình ảnh người vợ của Trần Tế Xương hiện lên giống như những người phụ nữ, người mẹ nào trong hình dáng người phụ nữ ngày xưa với cái nghề buôn bán. Chỉ cần có thế mà biết bao nhiêu hình ảnh giản dị hay lam hay làm của người phụ nữ xưa hiện ra. Đó là hình ảnh người phụ nữ áo nâu váy đụp gánh tất cả những hàng hóa trên đôi vai nhỏ bé của mình ra chợ rồi lại từ chợ về nhà. Người vợ của nhà thơ hiện lên cũng với hình ảnh ấy và công việc ấy đặc biệt rằng công việc ấy được diễn ra thường xuyên qua hai từ “quanh năm”. Người phụ nữ ấy làm việc vất vả quanh năm cũng chỉ một công việc đó từ năm này qua năm khác. Thế nhưng địa điểm không phải trên những mặt đất bằng phẳng mà lại ở mom sông gợi sự vất vả, nguy hiểm. Như vậy vợ nhà thơ là một người không những vất vả mà còn phải đối mặt với nguy hiểm. Thế nhưng bà Tú làm như vậy để được gì, không chỉ nuôi bản thân mình mà bà Tú còn phải nuôi đủ “năm con với một chồng”. Ở đây nhà thơ đang tự cười chính bản thân mình. Chồng cũng trở thành một con số đếm ngang hàng với những đứa con trong gánh nặng của người vợ. Không những thế còn là “nuôi đủ” càng chứng tỏ gánh nặng của người vợ kia. Giờ đây quang gánh kia không chỉ đơn giản là những mặt hàng của bà nữa mà trên đó còn có cả năm con với một người chồng.

Sang hai câu thơ tiếp theo người chồng gánh nặng kia lại tiếp tục thể hiện lòng thương vợ của mình và những vất vả mà bà Tú phải trải qua hàng ngày:

“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

Ông chồng người mà được coi là trụ cột của gia đình không chỉ về tinh thần mà còn về kinh tế nhưng giờ đây lại là gánh nặng của vợ mình. Bà Tú phải lặn lội với những nguy hiểm khi đi vào những con đường vắng mà chỉ có một mình. Hình ảnh con cò trong câu ca dao xưa tượng trưng cho người phụ nữ nghèo khổ lại được nhà thơ sử dụng trong bài thơ của mình. Không biết rằng có biết bao nhiêu những khó khăn và nguy hiểm đang rình dập và nuốt lấy vợ mình. Vượt qua những nguy hiểm khó khăn ấy bà Tú vẫn đi đến chợ mom sông trên những buổi đò eo sèo những lời của người mua kẻ bán. Họ đang mặc cả với nhau từng đồng một để lo cho gia đình mình.

Và rồi nhà thơ nói đến duyên phận của mình với vợ và như thay vợ nói lên cái thở dài chán nản trước một người chồng mà lại gánh nặng như một người con thứ sáu trong nhà:

“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,

Năm nắng, mười mưa, dám quản công. ”

Người xưa hay có quan niệm về duyên và nợ, hai người lấy nhau thì là có duyên có nợ từ kiếp trước, còn yêu nhau mà không lấy được nhau thì đó là có duyên nhưng không có nợ. Ở đây bà Tú lại có duyên có cả nợ với nhà thơ nên mới chịu cảnh khó khăn khổ cực như thế. Một chữ duyên, hai chữ nợ, thôi thì đành phận với nhau. Nhà thơ lại thể hiện sự vất vả của vợ mình qua “năm nắng, mười mưa”. Câu thơ ấy như gợi lên sự khó nhọc mà trong ca dao cũng nhắc đến như “một nắng hai sương”. Có thể thấy rằng chính cái số đếm cụ thể ấy đã làm nổi bật lên sự khó nhọc của bà Tú. Thế nhưng Bà Tú còn hiện lên đẹp hơn khi không quản công gánh nặng ấy. Bà thương chồng thương con và hi sinh cho chồng con mà không một lời than vãn.

Nhưng chính sự không than vãn và đức hi sinh ấy khiến cho nhà thơ không thể nào yên lòng được:

“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không!”

Thương vợ Trần Tế Xương cũng như đang tự cười bản thân mình và hai câu thơ cuối này là tiếng chửi to nhất, sâu cay nhất. Tác giả tự thấy bản thân mình ăn ở bạc không thể giúp đỡ được gì cho người vợ chân yếu tay mềm hơn mình rất nhiều, ngẫm thấy có chồng cũng như không. Phải chăng nhà thơ đang chửi rủa dằn vặt chính bản thân mình vì không thể nào giúp đỡ cho vợ?

Qua đây ta thấy nhà thơ Trần Tế Xương thể hiện sự thương vợ sâu sắc. Bài thơ giống như một bức thư, một dòng nhật kí mà nhà thơ muốn gửi đến vợ mình. Đặc biệt bản thân ông ý thức rõ được sự vô dụng của mình mà tự thấy xấu hổ mà tự chửi chính mình. Nói tóm lại dù thế nào đi nữa thì qua đây chúng ta cũng biết được tâm trạng và tình cảm của Trần Tế Xương dành cho vợ mình.

Đánh giá 5 sao giú mình nhé ! cảm ơn bạn

Trả lời bởi: nguyenchikhanh2009

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo