Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài vội vàng- tác giả xuân diệu 17 câu tiế…

Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài vội vàng- tác giả xuân diệu 17 câu tiế…

Cảm nhận của em về đoạn thơ sau trong bài vội vàng- tác giả xuân diệu 17 câu tiếp
Hỏi bởi: Toán Nguyễn
2 câu trả lời
▲ 4
Chào các em học sinh yêu quý! Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào phân tích một đoạn thơ đầy sức sống và mãnh liệt trong bài “Vội Vàng” của nhà thơ Xuân Diệu. Các em hãy mở sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11, tập 1 trang 73 và cùng đọc lại 17 câu thơ tiếp theo.

Đoạn thơ mà chúng ta sẽ tập trung phân tích bắt đầu từ câu “Ta muốn ôm…” cho đến hết bài thơ.

Bước 1: Đọc kỹ và nắm bắt nội dung chung của đoạn thơ.

Các em hãy đọc thầm hoặc đọc to đoạn thơ này. Khi đọc, hãy chú ý đến những hình ảnh, từ ngữ, cảm xúc mà nhà thơ sử dụng. Các em có thấy sự gấp gáp, thôi thúc trong từng câu chữ không? Tác giả đang muốn nói lên điều gì?

Bước 2: Phân tích từng câu, từng hình ảnh, biện pháp tu từ.

Chúng ta sẽ đi lần lượt, từng câu, từng ý để làm rõ những gì tác giả muốn gửi gắm.

Đầu tiên là câu “Ta muốn ôm cả đất trời, ta muốn riết mây trời, ta muốn say cánh bướm, ta muốn nohồi, ta muốn thâu đêm…”

* “Ôm cả đất trời”: Đây là một hình ảnh ẩn dụ, thể hiện khát vọng mãnh liệt, bao trùm của Xuân Diệu đối với cuộc sống. Không chỉ đơn thuần là ôm, mà là “ôm cả”, “ôm trọn”, cho thấy sự cuồng nhiệt, muốn chiếm lĩnh, muốn hòa mình vào vạn vật.
* “Riết mây trời”: Từ “riết” ở đây gợi lên một hành động rất mạnh mẽ, xiết chặt, muốn giữ lấy, không muốn buông ra. Nó không chỉ là nhìn ngắm mà là muốn đồng hóa, muốn cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp của bầu trời.
* “Say cánh bướm”: Hình ảnh cánh bướm tượng trưng cho vẻ đẹp mong manh, phù du, nhưng cũng đầy quyến rũ của thiên nhiên. “Say” ở đây không chỉ là say mê ngắm nhìn mà còn là say trong cái đẹp ấy, như bị cuốn hút hoàn toàn.
* “Nohồi”: Có thể hiểu là muốn sống cho đầy đặn, cho trọn vẹn, không bỏ phí bất kỳ một khoảnh khắc nào.
* “Thâu đêm”: Muốn kéo dài thời gian, muốn tận hưởng trọn vẹn cuộc sống, không muốn để thời gian trôi đi vô ích.

Tiếp theo là những câu: “Ta muốn tắt nắng đi, cho màu người ấm gắt. Ta muốn buộc gió lại, cho hương đời thơm ngát. Ta muốn giam cơn mưa, cho đời ta mưa nắng.”

* “Tắt nắng đi, cho màu người ấm gắt”: Ở đây, Xuân Diệu thể hiện một quan niệm rất độc đáo về cái đẹp. Tác giả muốn “tắt nắng” – cái biểu tượng của vẻ đẹp rực rỡ, chói chang bên ngoài, để tập trung vào “màu người” – vẻ đẹp nội tại, tình cảm, sự nồng nàn của con người. “Ấm gắt” là một từ ngữ rất mạnh, thể hiện sự mãnh liệt, sự say đắm. Nó cho thấy tác giả muốn con người được sống trong bầu không khí tình yêu, nồng nàn, cháy bỏng.
* “Buộc gió lại, cho hương đời thơm ngát”: Tương tự, tác giả muốn “buộc gió” – cái vô hình, cái lang thang, để giữ lại “hương đời” – những gì tinh túy, đẹp đẽ nhất của cuộc sống, của tình yêu. “Thơm ngát” là một trạng thái cảm xúc, một sự say mê tột cùng.
* “Giam cơn mưa, cho đời ta mưa nắng”: Câu này có thể hiểu theo hai cách. Một là tác giả muốn kiểm soát cả những yếu tố tự nhiên, muốn đưa vào cuộc sống của mình cả những gì ngọt ngào và cả những gì cay đắng để cảm nhận trọn vẹn. Hai là, đây là một sự cường điệu để nhấn mạnh khát vọng muốn trải nghiệm mọi cung bậc của cuộc sống, không bỏ sót một điều gì.

Bây giờ là những câu tiếp theo: “Ta muốn yêu, ta muốn say, ta muốn đến tận cùng, ta muốn là tất cả…”.

* Đây là những lời khẳng định cho khát vọng sống mãnh liệt, mãnh liệt đến phi thường. “Yêu”, “say”, “đến tận cùng” đều là những trạng thái cảm xúc đỉnh cao. “Muốn là tất cả” là đỉnh điểm của sự khát khao, muốn hòa nhập, muốn bao hàm cả vũ trụ trong mình.

Cuối cùng là hai câu: “Ôi thời gian, 10 năm, 20 năm, thời gian đã lấy mất tôi rồi. Linh hồn tôi gửi vào đâu?”.

* Hai câu thơ này đột ngột chuyển sang một giọng điệu khác, đó là sự băn khoăn, day dứt, tiếc nuối. “Thời gian đã lấy mất tôi rồi” cho thấy tác giả ý thức rất sâu sắc về sự hữu hạn của đời người. Bao nhiêu khát vọng, bao nhiêu mong muốn, nhưng thời gian lại trôi đi quá nhanh, cướp đi những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ, của cuộc đời.
* “Linh hồn tôi gửi vào đâu?”: Câu hỏi tu từ này thể hiện sự suy tư, day dứt về ý nghĩa của cuộc sống, về sự tồn tại của bản thân trước sự trôi chảy không ngừng của thời gian. Nó cho thấy dù khát vọng sống mãnh liệt đến đâu, nhà thơ vẫn không khỏi cảm thấy bàng hoàng, lo sợ trước sự biến mất của bản thân.

Bước 3: Tổng hợp và đánh giá.

Sau khi phân tích chi tiết, chúng ta có thể rút ra những cảm nhận chung về đoạn thơ này.

* Về nội dung: Đoạn thơ thể hiện một khát vọng sống mãnh liệt, say đắm và cuồng nhiệt của tuổi trẻ. Đó là khát vọng được cảm nhận, được trải nghiệm, được chiếm lĩnh mọi vẻ đẹp của cuộc sống, của tình yêu. Tuy nhiên, đan xen trong đó là nỗi băn khoăn, day dứt về sự trôi chảy của thời gian và sự hữu hạn của đời người.
* Về nghệ thuật: Tác giả đã sử dụng rất nhiều biện pháp tu từ đặc sắc như:
* Ẩn dụ: “Ôm cả đất trời”, “màu người”, “hương đời”.
* Nhân hóa: “Thời gian đã lấy mất tôi rồi”.
* Điệp từ, điệp cấu trúc: “Ta muốn…”, “ta muốn…” lặp đi lặp lại, tạo nên nhịp điệu dồn dập, khẩn trương, nhấn mạnh khát vọng.
* Ngắt nhịp gấp gáp: Các câu thơ ngắn, nhiều dấu phẩy, dấu chấm than thể hiện sự thôi thúc, nôn nóng.
* Sử dụng từ ngữ giàu sức gợi, giàu cảm xúc: “riết”, “say”, “nô hội”, “thâu đêm”, “ấm gắt”, “thơm ngát”, “tận cùng”.

Bước 4: Liên hệ với đoạn trước và ý nghĩa toàn bài.

Đoạn thơ này là sự tiếp nối và phát triển những ý tưởng đã được gợi mở ở những câu thơ trước. Nếu những câu đầu bài là sự khẳng định “tôi yêu đời”, thì đoạn này là sự thể hiện cụ thể, mãnh liệt nhất cái tình yêu đời ấy, cái khao khát sống ấy. Nỗi băn khoăn ở cuối bài như một điểm nhấn, làm cho bức tranh về cái tôi trữ tình của Xuân Diệu trở nên đa chiều, sâu sắc hơn.

Kết luận: Đoạn thơ “Vội Vàng” 17 câu tiếp là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Diệu: dồi dào, mãnh liệt, cuồng nhiệt và đầy sáng tạo. Nó không chỉ là tiếng lòng của một thi sĩ mà còn là tiếng nói chung của tuổi trẻ với khát vọng sống mãnh liệt, với tình yêu say đắm dành cho cuộc đời này.

Các em về nhà xem lại bài và chuẩn bị cho phần tiếp theo nhé!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

Thơ Xuân Diệu tinh tế, gợi cảm, độc đáo trong chất liệu cũng như trong bút pháp thi ca. Nhắc tới ông, ta không thể không nhắc tới một bài thơ in đậm dấu ấn và phong cách của ông: Vội vàng. Bài thơ vừa như một nguồn cảm xúc trào dâng vừa là tuyên ngôn sống của một nhà thơ khao khát yêu đời. Đặc biệt, nếu phần đầu tiên của bài thơ là ước muốn táo bạo cùng vẻ đẹp độc đáo của mùa xuân thì sang phần thơ thứ hai, nhà thơ đã thể hiện quan niệm nhân sinh mới mẻ về thời gian và tuổi trẻ.

      Thời gian trong thơ ca trung đại là thời gian “tuần hoàn” nghĩa là thời gian được hình dung như một vòng tròn liên tục tái diễn, hết một vòng lại quay về vị trí xuất phát, cứ trở đi rồi trở lại mãi mãi. Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn “tĩnh”, lấy cả sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo cho thời gian. Còn đối với Xuân Diệu, ông có quan niệm rất mới về thời gian:

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già,

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.

      Nếu người xưa luôn yên tâm bình thản trước sự trôi chảy của thời gian bởi họ quan niệm thời gian là tuần hoàn thì Xuân Diệu lại quan niệm thời gian, mùa xuân, tuôi trẻ một đi không trở lại. Thế nên ông luôn hốt hoảng lo âu khi thời gian trôi mau. Điều thi sĩ sợ là tuổi trẻ qua đi, tuổi già mau tới bới thời gian như một dòng chảy mà mỗi một khoảnh khắc trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Cách sử dụng cặp từ đối lập “tới – qua”, “non – già” đã cho thấy sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước bước đi của thời gian. Cùng với hàng loạt câu thơ văn xuôi theo lối định nghĩa cùng sự lặp lại liên tiếp điệp ngữ “nghĩa là”, Xuân Diệu đã khẳng định chắc nịch một sự thật hiển nhiên không gì phủ nhận: Dù xuân đương tới, xuân còn non nhưng xuân sẽ qua, sẽ già, sẽ hết và tuổi trẻ cũng mất. Đối diện với sự thật hiển nhiên mà phũ phàng ấy, Xuân Diệu không khỏi thảng thốt. Liên tiếp các dấu phẩy được huy động tạo nên điệu thơ ngậm ngùi, nghẹn ngào:

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu đến nữa không phải rằng gặp lại.

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

      “Lòng tôi” và “lượng trời” vốn đã là hai thế cực tương phản của sự hạn hữu và vô hạn. Tuy nhiên trong góc nhìn của Xuân Diệu thì cái vốn hữu hạn như đời người lại được mở rộng đến vô cùng “lòng tôi rộng” còn thứ vốn tưởng chừng vô hạn trong thời gian của đất trời lại trở nên nhỏ bé “lượng trời cứ chật”. Một loạt hình ảnh được đặt trong thế tương phản đối lập cao độ “rộng” – “chật”, “xuân tuần hoàn” – “tuổi trẻ chẳng hai lần”, “còn” – “chẳng còn”. Điều đó đã góp phần làm nổi bật tâm trạng tiếc nuối trước thời gian, cuộc đời.

      Sự hạn hữu của đời người với thời gian được thể hiện rõ nét nhất ở dòng thơ “Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”. Đúng vậy, giữa cái mênh mông của vũ trụ, vô cùng, vô tận của thời gian, tuổi trẻ, sự sống của con người bỗng trở nên quá ngắn ngủi. Nhưng ở đây, Xuân Diệu không tiếc cho mình, tiếc cho tuổi trẻ mà điều ông tiếc nhất chính “cả đất trời”.

      Suy ngẫm về điều đó, Xuân Diệu càng cảm nhận thấm thía sự phôi pha, phai tàn đang âm thầm diễn ra trong lòng vũ trụ trên cả hai trục không gian và thời gian.

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

Phải chăng sợ độ phai tàm sắp sửa.

      Thời gian vốn vô hình, vô ảnh, không mùi, không vị, đi vào thơ Xuân Diệu bỗng có mùi, có vị chia phôi, dường như khắp không gian đâu đâu cũng vọng lên khúc chia li, lời than thầm tiễn biệt. Tựa như ta nghe thấy có chút gì xao xuyến rưng rưng vừa uất ức nghẹn ngào vừa tiếc nuối hụt hẫng trong từ “rớm” ấy.

      Gió đùa trong lá không phải là những âm thanh vui tươi, sống động của thiên nhiên mà vì hờn tủi trước sự trôi chảy của thời gian. Chim hót những bản nhạc chào xuân rộn ràng bỗng ngừng bặt, chẳng có mối nguy hiểm nào cả, mà vì chúng sợ độ tàn phai, héo úa. Vậy là vạn vật cứ thế chảy trôi theo quy luật vận hành tự nhiên của nó mà không sao cưỡng lại được.

      Khép lại phần thơ là dòng thơ tràn ngập cảm xúc:

Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa…

      Đến đây thi sĩ đã vỡ lẽ chẳng bao giờ có thể tắt nắng buộc gió, níu giữ mãi tuổi trẻ mùa xuân ở lại. Phép điệp “chẳng bao giờ” được lặp lại hai lần càng nhấn mạnh thêm tâm trạng bàng hoàng tiếc nuối ấy. Khát vọng cháy bỏng, ước muốn táo bạo đã tan thành mây khói. Chỉ còn lại nỗi bàng hoàng, thảng thốt mà càng trở nên da diết hơn với dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Và trong sự bất lực, Xuân Diệu dường như tìm ra một cách giải quyết:

“Mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm”

      Lời thơ như một lời giục giã, thúc giục con người hãy đứng lên đừng buồn vì sự chia li sẽ đến mà lãng quên đi thực tại. “Mau đi thôi”, mau cố gắng trân trọng lấy từng phút giây hiện tại để tận hưởng bữa tiệc tươi vui mà thiên nhiên mùa xuân đã bày sẵn trước mắt ta.

      Chỉ với 17 câu thơ nhưng dường như Xuân Diệu đã cho ta thấy một quan niệm nhân sinh rất tiến bộ về thời gian, về mùa xuân và tuổi trẻ của tác giả. Ta cũng nhận ra mặc dù Xuân Diệu thể hiện tâm trạng nuối tiếc thời gian và cuộc đời nhưng qua đó ta còn bắt gặp một khát khao mạnh mẽ, một tình yêu say đắm mà ông dành cho đời.

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo