Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Cho ba lực F1→=MA→; ,F2→=MB→; F3→=MC→ cùng tác động vào một vật tại điểm M và đứ…

Cho ba lực F1→=MA→; ,F2→=MB→; F3→=MC→ cùng tác động vào một vật tại điểm M và đứ…

Cho ba lực F1→=MA→; ,F2→=MB→; F3→=MC→ cùng tác động vào một vật tại điểm M và đứng yên. Cho biết cường độ của F1→=F2→ = 50N và AMBˆ=60 độ. Tìm cường độ và hướng của lực F3→.
Hỏi bởi: Đào Hương Trà
2 câu trả lời
▲ 4
Chào các em học sinh thân mến! Hôm nay, cô và các em sẽ cùng nhau chinh phục một bài toán vật lý thú vị, liên quan đến kiến thức về lực và hình học mà chúng ta đã học. Bài toán này nằm trong chương trình Vật lý lớp 10, sách giáo khoa, và nó sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự cân bằng lực.

Chúng ta bắt đầu nhé!

Bài toán:
Cho ba lực \(\vec{F_1} = M\vec{A}\); \(\vec{F_2} = M\vec{B}\); \(\vec{F_3} = M\vec{C}\) cùng tác động vào một vật tại điểm M và vật đứng yên. Cho biết cường độ của \(\vec{F_1} = \vec{F_2} = 50N\) và góc \(\widehat{AMB} = 60^\circ\). Tìm cường độ và hướng của lực \(\vec{F_3}\).

Phân tích bài toán:

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ các ký hiệu trong đề bài.
– \(\vec{F_1}\), \(\vec{F_2}\), \(\vec{F_3}\) là các vectơ lực.
– \(M\) là điểm vật chịu tác dụng lực.
– \(A\), \(B\), \(C\) là các điểm mà các vectơ lực hướng tới hoặc có thể hiểu là điểm cuối của các vectơ lực xuất phát từ \(M\).
– Cường độ của lực được ký hiệu là \(F_1\), \(F_2\), \(F_3\).
– \(\widehat{AMB}\) là góc tạo bởi hai vectơ \(\vec{MA}\) và \(\vec{MB}\), hay chính là góc giữa hai hướng của hai lực \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\).
– “Vật đứng yên” có nghĩa là vật đang ở trạng thái cân bằng. Theo định luật 1 Newton, khi vật đứng yên hoặc chuyển động thẳng đều, hợp lực tác dụng lên vật bằng không.

Giải bài toán:

Bước 1: Áp dụng điều kiện cân bằng lực.

Vì vật đứng yên, nên tổng hợp lực tác dụng lên vật bằng không. Điều này có nghĩa là:
\[ \vec{F_1} + \vec{F_2} + \vec{F_3} = \vec{0} \]
Từ phương trình này, ta có thể suy ra:
\[ \vec{F_3} = -(\vec{F_1} + \vec{F_2}) \]
Điều này cho chúng ta biết rằng lực \(\vec{F_3}\) có cường độ bằng với cường độ của hợp lực \(\vec{F_{12}} = \vec{F_1} + \vec{F_2}\) nhưng ngược chiều.

Bước 2: Tìm hợp lực của \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\).

Chúng ta cần tìm hợp lực \(\vec{F_{12}} = \vec{F_1} + \vec{F_2}\). Để làm được điều này, chúng ta sẽ sử dụng quy tắc hình bình hành để cộng hai vectơ lực.
Ta dựng một hình bình hành \(MANB\) với hai cạnh là \(\vec{MA}\) và \(\vec{MB}\) (tương ứng với \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\)). Khi đó, đường chéo \(MN\) của hình bình hành chính là vectơ hợp lực \(\vec{F_{12}}\).
\[ \vec{F_{12}} = \vec{F_1} + \vec{F_2} \]

Bước 3: Tính cường độ của hợp lực \(\vec{F_{12}}\).

Trong hình bình hành \(MANB\), ta có:
– \(MA = F_1 = 50N\)
– \(MB = F_2 = 50N\)
– \(\widehat{AMB} = 60^\circ\)

Vì \(MANB\) là hình bình hành, nên hai góc kề một cạnh có tổng bằng \(180^\circ\). Do đó, góc \(\widehat{ANB}\) hoặc \(\widehat{MNA}\) có thể không phải là \(60^\circ\). Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý đến góc giữa hai vectơ \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\) khi áp dụng công thức tính độ dài đường chéo hình bình hành hoặc sử dụng định lý cosin.

Trong trường hợp này, hai lực \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\) có độ lớn bằng nhau và góc xen giữa là \(60^\circ\).
Ta có thể xem tam giác \(AMB\) (nếu coi \(M, A, B\) là các điểm tạo nên vectơ lực). Tuy nhiên, theo quy tắc hình bình hành, chúng ta xét hình bình hành \(MANB\).
Trong hình bình hành, góc \(\widehat{ANB}\) là góc kề bù với \(\widehat{AMB}\) nếu \(A, M, B\) là các đỉnh liên tiếp. Nhưng ở đây, \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\) là hai cạnh xuất phát từ \(M\).

Xét tam giác \(AMN\) trong hình bình hành \(MANB\). Ta có \(MA = MB = 50N\). Góc \(\widehat{AMB} = 60^\circ\).
Trong hình bình hành \(MANB\), ta có các cạnh đối bằng nhau: \(MA = NB = 50N\) và \(MB = NA = 50N\).
Góc \(\widehat{ANB}\) là góc giữa hai vectơ \(\vec{NA}\) và \(\vec{NB}\).
Quan hệ giữa các góc trong hình bình hành: \(\widehat{AMB} + \widehat{MAN} = 180^\circ\). Vậy \(\widehat{MAN} = 180^\circ – 60^\circ = 120^\circ\).

Tuy nhiên, để tính độ dài đường chéo \(MN\) (tức là cường độ \(F_{12}\)), chúng ta có thể áp dụng định lý cosin trong tam giác \(AMN\) hoặc tam giác \(MBN\).
Trong tam giác \(AMN\), ta có \(MA = 50N\), \(AN = MB = 50N\), và góc \(\widehat{MAN} = 120^\circ\).
Theo định lý cosin, ta có:
\[ MN^2 = MA^2 + AN^2 – 2 \cdot MA \cdot AN \cdot \cos(\widehat{MAN}) \]
\[ F_{12}^2 = F_1^2 + F_2^2 – 2 \cdot F_1 \cdot F_2 \cdot \cos(120^\circ) \]
\[ F_{12}^2 = 50^2 + 50^2 – 2 \cdot 50 \cdot 50 \cdot (-\frac{1}{2}) \]
\[ F_{12}^2 = 2500 + 2500 + 2500 \]
\[ F_{12}^2 = 7500 \]
\[ F_{12} = \sqrt{7500} = \sqrt{2500 \cdot 3} = 50\sqrt{3}N \]

Một cách khác, nếu ta xét tam giác tạo bởi hai vectơ \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\) và vectơ hợp lực \(\vec{F_{12}}\).
Ta có thể sử dụng công thức tính cường độ hợp lực của hai vectơ khi biết góc giữa chúng:
\[ F_{12}^2 = F_1^2 + F_2^2 + 2 \cdot F_1 \cdot F_2 \cdot \cos(\alpha) \]
Trong đó \(\alpha\) là góc giữa hai vectơ \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\), tức là \(\alpha = \widehat{AMB} = 60^\circ\).
\[ F_{12}^2 = 50^2 + 50^2 + 2 \cdot 50 \cdot 50 \cdot \cos(60^\circ) \]
\[ F_{12}^2 = 2500 + 2500 + 2 \cdot 2500 \cdot \frac{1}{2} \]
\[ F_{12}^2 = 5000 + 2500 \]
\[ F_{12}^2 = 7500 \]
\[ F_{12} = \sqrt{7500} = 50\sqrt{3}N \]
(Cô xin lỗi các em, ở bước này cô đã sử dụng công thức tính cường độ hợp lực hai vectơ, công thức này được suy ra từ định lý cosin trong tam giác được tạo bởi hai vectơ và vectơ hợp lực. Để không vượt lớp, chúng ta sẽ hiểu rằng đây là kết quả áp dụng hình học cho hai vectơ).

Lưu ý: Nếu hai lực bằng nhau và góc xen giữa là \(60^\circ\), thì hợp lực của chúng sẽ tạo thành một tam giác đều với hai lực đó (khi ta tịnh tiến một trong hai lực để hai vectơ có chung điểm gốc). Trong trường hợp này, hợp lực sẽ có độ lớn bằng độ lớn của hai lực thành phần. Cô xin lỗi, đây là một trường hợp đặc biệt, và tính toán ở trên đã cho kết quả chính xác.

Khi \(F_1 = F_2\) và \(\alpha = 60^\circ\), tam giác tạo bởi \(\vec{F_1}\), \(\vec{F_2}\) và \(\vec{F_{12}}\) là một tam giác cân có góc ở đỉnh là \(60^\circ\), suy ra đó là tam giác đều. Do đó, \(F_{12} = F_1 = F_2 = 50N\).

Cô xin đính chính lại kết quả tính toán ở trên.
Khi \(F_1 = F_2 = 50N\) và góc \(\alpha = 60^\circ\), ta có:
\[ F_{12}^2 = F_1^2 + F_2^2 + 2 \cdot F_1 \cdot F_2 \cdot \cos(\alpha) \]
\[ F_{12}^2 = 50^2 + 50^2 + 2 \cdot 50 \cdot 50 \cdot \cos(60^\circ) \]
\[ F_{12}^2 = 2500 + 2500 + 2 \cdot 2500 \cdot \frac{1}{2} \]
\[ F_{12}^2 = 5000 + 2500 \]
\[ F_{12}^2 = 7500 \]
\[ F_{12} = \sqrt{7500} = 50\sqrt{3}N \]

Bước 4: Xác định cường độ của lực \(\vec{F_3}\).

Chúng ta đã có \(\vec{F_3} = -(\vec{F_1} + \vec{F_2})\).
Điều này có nghĩa là lực \(\vec{F_3}\) có cường độ bằng với cường độ của hợp lực \(\vec{F_{12}}\) nhưng ngược chiều.
Vậy, cường độ của lực \(\vec{F_3}\) là:
\[ F_3 = F_{12} = 50\sqrt{3}N \]

Bước 5: Xác định hướng của lực \(\vec{F_3}\).

Hướng của lực \(\vec{F_3}\) là ngược chiều với hợp lực \(\vec{F_{12}} = \vec{F_1} + \vec{F_2}\).
Hợp lực \(\vec{F_{12}}\) luôn nằm trong mặt phẳng chứa \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\), và nó nằm “ở giữa” hai vectơ lực thành phần. Do \(\vec{F_1}\) và \(\vec{F_2}\) có cường độ bằng nhau, hợp lực \(\vec{F_{12}}\) sẽ nằm trên đường phân giác của góc \(\widehat{AMB}\).
Vì vậy, hướng của \(\vec{F_3}\) sẽ ngược với hướng của đường phân giác góc \(\widehat{AMB}\). Nếu ta gọi \(C’\) là điểm trên đường thẳng \(MC\) sao cho \(\vec{MC’}\) là hướng của hợp lực \(\vec{F_{12}}\), thì \(\vec{F_3}\) sẽ có hướng ngược với \(\vec{MC’}\).

Để cụ thể hơn về hướng, chúng ta có thể nói rằng:
Lực \(\vec{F_3}\) có hướng nằm trên đường thẳng đi qua \(M\) và điểm \(C\). Hướng của \(\vec{F_3}\) đối diện với hướng của hợp lực \(\vec{F_1} + \vec{F_2}\).
Hợp lực \(\vec{F_1} + \vec{F_2}\) nằm trên đường phân giác của góc \(\widehat{AMB}\).
Do đó, lực \(\vec{F_3}\) nằm trên đường thẳng đi qua \(M\) và điểm \(C\), và hướng của \(\vec{F_3}\) đối diện với đường phân giác của góc \(\widehat{AMB}\).

Kết luận:

Cường độ của lực \(\vec{F_3}\) là \(50\sqrt{3}N\).
Hướng của lực \(\vec{F_3}\) là ngược với hướng của hợp lực \(\vec{F_1} + \vec{F_2}\), và nằm trên đường phân giác của góc \(\widehat{AMB}\) nhưng theo chiều ngược lại.

Cô hy vọng các em đã hiểu rõ từng bước giải bài toán này. Đây là một bài tập quan trọng để củng cố kiến thức về tổng hợp lực và điều kiện cân bằng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, các em đừng ngần ngại hỏi cô nhé!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 3

Đáp án:

Cường độ là \(50\sqrt 3 N\) và ngược hướng với vec tơ \(\overrightarrow {ME} \)

Giải thích các bước giải:

Vật đứng yên là do \(\overrightarrow {{F_1}} + \overrightarrow {{F_2}} + \overrightarrow {{F_3}} = \overrightarrow 0 \).

Vẽ hình thoi \(MAEB\) ta có: \(\overrightarrow {{F_1}} + \overrightarrow {{F_2}} = \overrightarrow {ME} \).

Tam giác \(MAB\) là tam giác đều có đường cao \(MH = MA.\cos {30^0} = \dfrac{{50\sqrt 3 }}{2}\)

Suy ra \(ME = 2MH = 50\sqrt 3 \).

Lực \(\overrightarrow {{F_4}} = \overrightarrow {ME} \) có cường độ là \(50\sqrt 3 N\).

Ta có \(\overrightarrow {{F_4}} + \overrightarrow {{F_3}} = \overrightarrow 0 \), do đó \(\overrightarrow {{F_3}} \) là vec tơ đối của \(\overrightarrow {{F_4}} \). Như vậy \(\overrightarrow {{F_3}} \) có cường độ là \(50\sqrt 3 N\)

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo