Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Cho một điện trường đều E = 4000V/m. Vectơ cường độ điện trường song song với cạ…

Cho một điện trường đều E = 4000V/m. Vectơ cường độ điện trường song song với cạ…

Cho một điện trường đều E = 4000V/m. Vectơ cường độ điện trường song song với cạnh
huyền BC của tam giác vuông ABC và có chiều từ B đến C. Biết AB = 6cm và AC = 8cm.
a. Tính hiệu điện thế giữa hai điểm BC, AB, AC.
b. Gọi H là chân đường cao hạ từ đỉnh A xuống cạnh huyền. Tính hiệu điện thế giữa hai điểm
A và H.
Hỏi bởi: Sodium Hydride
2 câu trả lời
▲ 8
Chào các em học sinh thân mến!

Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau giải một bài tập về điện trường đều, một chủ đề rất quan trọng trong chương trình Vật lí lớp 11 của chúng ta. Bài tập này sẽ giúp chúng ta củng cố kiến thức về hiệu điện thế và mối liên hệ của nó với cường độ điện trường.

Chúng ta có một điện trường đều với các thông số như sau:
* Cường độ điện trường: \(\(E = 4000 \text{ V/m}\)\).
* Vectơ cường độ điện trường \(\(\vec{E}\)\) song song với cạnh huyền \(\(BC\)\) của tam giác vuông \(\(ABC\)\) và có chiều từ \(\(B\)\) đến \(\(C\)\) (điều này rất quan trọng để xác định dấu của hiệu điện thế).
* Độ dài cạnh \(\(AB = 6 \text{ cm} = 0.06 \text{ m}\)\).
* Độ dài cạnh \(\(AC = 8 \text{ cm} = 0.08 \text{ m}\)\).

Phân tích bài toán:


Đầu tiên, chúng ta cần xác định vị trí góc vuông của tam giác. Vì \(\(BC\)\) là cạnh huyền, nên góc vuông của tam giác \(\(ABC\)\) là tại đỉnh \(\(A\)\) (nghĩa là \(\(\widehat{BAC} = 90^\circ\)\)).

Trong điện trường đều, công thức tính hiệu điện thế giữa hai điểm \(\(M\)\) và \(\(N\)\) là:
\[U_{MN} = V_M – V_N = E \cdot d_{NM}\]
hoặc
\[U_{MN} = E \cdot MN \cdot \cos(\vec{E}, \vec{MN})\]
Công thức này có thể gây nhầm lẫn về dấu. Để tránh sai sót, chúng ta hãy nhớ rằng:
* Nếu ta đi từ điểm \(\(M\)\) đến \(\(N\)\) theo chiều của điện trường \(\(\vec{E}\)\), thì thế năng giảm, tức là \(\(V_N < V_M\)\) nên \(\(U_{MN} = V_M - V_N > 0\)\) và \(\(U_{NM} = V_N – V_M < 0\)\). * Công thức tổng quát nhất và ít gây nhầm lẫn nhất là: Nếu chọn chiều của điện trường \(\(\vec{E}\)\) là chiều dương của trục \(\(Ox\)\), thì thế năng tại một điểm \(\(x\)\) sẽ là \(\(V(x) = V_0 - E \cdot x\)\). Khi đó, hiệu điện thế \(\(U_{MN} = V_M - V_N = (V_0 - E \cdot x_M) - (V_0 - E \cdot x_N) = -E \cdot (x_M - x_N)\)\). Trong đó \(\(x_M\)\) và \(\(x_N\)\) là hình chiếu của các điểm \(\(M\)\) và \(\(N\)\) lên phương của vectơ \(\(\vec{E}\)\). Bước 1: Chuẩn bị các đại lượng hình học cần thiết.
Vì tam giác \(\(ABC\)\) vuông tại \(\(A\)\), ta có thể tính độ dài cạnh huyền \(\(BC\)\) bằng định lí Pitago:
\[BC^2 = AB^2 + AC^2\]
\[BC^2 = (0.06 \text{ m})^2 + (0.08 \text{ m})^2 = 0.0036 + 0.0064 = 0.01 \text{ m}^2\]
\[BC = \sqrt{0.01} = 0.1 \text{ m}\]

a. Tính hiệu điện thế giữa hai điểm BC, AB, AC.

Để tính hiệu điện thế, chúng ta sẽ chọn chiều của vectơ \(\(\vec{E}\)\) (chiều từ \(\(B\)\) đến \(\(C\)\) dọc theo cạnh \(\(BC\)\) ) làm chiều dương của trục tọa độ \(\(Ox\)\). Gốc tọa độ \(\(O\)\) đặt tại điểm \(\(B\)\).
Khi đó:
* Tọa độ \(\(x_B = 0\)\).
* Tọa độ \(\(x_C = BC = 0.1 \text{ m}\)\).

1. Hiệu điện thế \(\(U_{BC}\)\):
Áp dụng công thức \(\(U_{MN} = -E \cdot (x_M – x_N)\)\):
\[U_{BC} = V_B – V_C = -E \cdot (x_B – x_C)\]
\[U_{BC} = -4000 \text{ V/m} \cdot (0 – 0.1 \text{ m})\]
\[U_{BC} = -4000 \text{ V/m} \cdot (-0.1 \text{ m})\]
\[U_{BC} = 400 \text{ V}\]
Lưu ý: Vì \(\(\vec{E}\)\) có chiều từ \(\(B\)\) đến \(\(C\)\) (tức là \(\(C\)\) ở xa hơn \(\(B\)\) theo chiều \(\(\vec{E}\)\)), nên thế năng tại \(\(C\)\) sẽ thấp hơn thế năng tại \(\(B\)\) (\(\(V_C < V_B\)\)). Do đó \(\(U_{BC} = V_B - V_C > 0\)\), kết quả \(\(400 \text{ V}\)\) là hợp lí.

2. Hiệu điện thế \(\(U_{AB}\)\):
Để tính \(\(U_{AB} = V_A – V_B\)\), chúng ta cần xác định hình chiếu của điểm \(\(A\)\) lên trục \(\(Ox\)\) (là đường thẳng \(\(BC\)\)). Gọi \(\(H\)\) là chân đường cao hạ từ \(\(A\)\) xuống cạnh huyền \(\(BC\)\). Khi đó, hình chiếu của \(\(A\)\) lên \(\(BC\)\) chính là điểm \(\(H\)\).
Vậy, \(\(x_A = BH\)\).
Trong tam giác vuông \(\(ABC\)\), ta có hệ thức lượng trong tam giác vuông:
\[AB^2 = BH \cdot BC\]
\[BH = \frac{AB^2}{BC} = \frac{(0.06 \text{ m})^2}{0.1 \text{ m}} = \frac{0.0036 \text{ m}^2}{0.1 \text{ m}} = 0.036 \text{ m}\]
Vậy, \(\(x_A = BH = 0.036 \text{ m}\)\).
Áp dụng công thức \(\(U_{MN} = -E \cdot (x_M – x_N)\)\):
\[U_{AB} = V_A – V_B = -E \cdot (x_A – x_B)\]
\[U_{AB} = -4000 \text{ V/m} \cdot (0.036 \text{ m} – 0)\]
\[U_{AB} = -4000 \text{ V/m} \cdot 0.036 \text{ m}\]
\[U_{AB} = -144 \text{ V}\]

3. Hiệu điện thế \(\(U_{AC}\)\):
Tương tự, để tính \(\(U_{AC} = V_A – V_C\)\), chúng ta đã có \(\(x_A = BH = 0.036 \text{ m}\)\) và \(\(x_C = BC = 0.1 \text{ m}\)\).
Áp dụng công thức \(\(U_{MN} = -E \cdot (x_M – x_N)\)\):
\[U_{AC} = V_A – V_C = -E \cdot (x_A – x_C)\]
\[U_{AC} = -4000 \text{ V/m} \cdot (0.036 \text{ m} – 0.1 \text{ m})\]
\[U_{AC} = -4000 \text{ V/m} \cdot (-0.064 \text{ m})\]
\[U_{AC} = 256 \text{ V}\]

Kiểm tra lại: Ta biết \(\(U_{AC} = V_A – V_C = (V_A – V_B) + (V_B – V_C) = U_{AB} + U_{BC}\)\).
\(\(U_{AC} = -144 \text{ V} + 400 \text{ V} = 256 \text{ V}\)\). Kết quả này hoàn toàn khớp với tính toán riêng cho \(\(U_{AC}\)\). Điều này cho thấy các phép tính của chúng ta là chính xác.

b. Gọi H là chân đường cao hạ từ đỉnh A xuống cạnh huyền. Tính hiệu điện thế giữa hai điểm A và H.

Chúng ta đã xác định \(\(H\)\) là hình chiếu của \(\(A\)\) lên cạnh \(\(BC\)\).
Trong hệ tọa độ mà chúng ta đã chọn (gốc tại \(\(B\)\), trục \(\(Ox\)\) trùng với \(\(BC\)\) theo chiều \(\(B \to C\)\)):
* Hình chiếu của điểm \(\(A\)\) lên trục \(\(Ox\)\) là \(\(x_A = BH\)\).
* Hình chiếu của điểm \(\(H\)\) lên trục \(\(Ox\)\) cũng là \(\(x_H = BH\)\) (vì \(\(H\)\) nằm trên trục \(\(Ox\)\)).

Vậy, \(\(x_A = x_H = BH = 0.036 \text{ m}\)\).
Áp dụng công thức \(\(U_{MN} = -E \cdot (x_M – x_N)\)\):
\[U_{AH} = V_A – V_H = -E \cdot (x_A – x_H)\]
\[U_{AH} = -4000 \text{ V/m} \cdot (0.036 \text{ m} – 0.036 \text{ m})\]
\[U_{AH} = -4000 \text{ V/m} \cdot 0\]
\[U_{AH} = 0 \text{ V}\]

Giải thích: Kết quả này là hoàn toàn hợp lý. Vì \(\(AH\)\) là đường cao hạ từ \(\(A\)\) xuống \(\(BC\)\), nên \(\(AH\)\) vuông góc với \(\(BC\)\). Mà vectơ cường độ điện trường \(\(\vec{E}\)\) lại song song với \(\(BC\)\). Do đó, đoạn thẳng \(\(AH\)\) vuông góc với vectơ \(\(\vec{E}\)\). Các điểm nằm trên một đường thẳng (hoặc mặt phẳng) vuông góc với đường sức điện trường trong điện trường đều chính là các điểm nằm trên cùng một mặt đẳng thế. Do đó, hiệu điện thế giữa \(\(A\)\) và \(\(H\)\) bằng \(\(0\)\) V.

Tóm tắt kết quả:
a. Hiệu điện thế giữa hai điểm:
* \(\(U_{BC} = 400 \text{ V}\)\)
* \(\(U_{AB} = -144 \text{ V}\)\)
* \(\(U_{AC} = 256 \text{ V}\)\)
b. Hiệu điện thế giữa hai điểm \(\(A\)\) và \(\(H\)\):
* \(\(U_{AH} = 0 \text{ V}\)\)

Hy vọng bài giải chi tiết này đã giúp các em hiểu rõ hơn về cách giải các bài toán liên quan đến hiệu điện thế trong điện trường đều. Chú ý đến việc xác định chiều của vectơ điện trường và hình chiếu của các điểm lên phương của điện trường để tránh nhầm lẫn về dấu nhé!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 2

cho mình 5 sao

Trả lời bởi: nttt187

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo