“Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào tầm thường. Và c…
Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận. Đó là lí do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ ta, phần đông, đều làm công việc rất đỗi bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chíp vào máy tính?
Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường ”
(Phạm Lữ Ân – Nếu biết trăm năm là hữu hạn, NXB Hội Nhà văn, 2012)
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?
Câu 2: Tác giả đã chỉ ra những thái độ nào của con người đối với công việc ?
Câu 3: Chỉ ra các biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả biểu đạt của chúng trong những câu văn sau trong văn bản : Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chíp vào máy tính?
Câu 4: Vì sao chúng ta “ không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác” ?
Chào tất cả các em học sinh yêu quý! Hôm nay, cô rất vui được đồng hành cùng các em trong tiết học Ngữ Văn bổ ích này. Chúng ta sẽ cùng nhau khám phá một đoạn trích ý nghĩa từ tác phẩm “Nếu biết trăm năm là hữu hạn” của Phạm Lữ Ân – một tác phẩm mang đến những suy nghĩ sâu sắc về giá trị cuộc sống, công việc và cách chúng ta nhìn nhận bản thân, xã hội. Đoạn trích này rất phù hợp với tinh thần của chương trình Sách giáo khoa mới, đặc biệt là việc hình thành những phẩm chất, năng lực công dân cho các em đấy!
Bây giờ, chúng ta hãy cùng đi sâu vào từng câu hỏi để tìm hiểu kỹ hơn về nội dung và nghệ thuật của đoạn văn nhé!
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?
Hướng dẫn giải:
Để xác định phương thức biểu đạt chính, chúng ta cần xem xét mục đích chính của đoạn văn là gì: kể chuyện, miêu tả, thể hiện cảm xúc, trình bày luận điểm hay thuyết minh về một vấn đề nào đó.
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là nghị luận.
Giải thích:
- Đoạn trích đưa ra những quan điểm, nhận định của tác giả về giá trị của công việc và thái độ sống của con người (ví dụ: “Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào tầm thường.”, “Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận.”).
- Tác giả sử dụng các lí lẽ và dẫn chứng cụ thể (ví dụ: chuỗi câu hỏi tu từ về các nghề nghiệp khác nhau) để lập luận, phân tích và thuyết phục người đọc thay đổi cách nhìn, trân trọng mọi công việc và sống tích cực hơn. Mục đích cuối cùng là khơi gợi suy nghĩ và định hướng tư tưởng cho người đọc.
Câu 2: Tác giả đã chỉ ra những thái độ nào của con người đối với công việc?
Hướng dẫn giải:
Để trả lời câu hỏi này, các em hãy đọc kỹ từng câu, từng đoạn trong văn bản và gạch chân những từ ngữ, cụm từ thể hiện cảm xúc, suy nghĩ, cách ứng xử của con người đối với “ước mơ”, “nghề nghiệp” hay “công việc” nói chung. Sau đó, chúng ta sẽ phân loại chúng thành các thái độ tích cực và tiêu cực.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích, tác giả đã chỉ ra nhiều thái độ khác nhau của con người đối với công việc, bao gồm cả thái độ tích cực và tiêu cực:
- Thái độ tiêu cực:
- Coi thường, rẻ rúng công việc bình thường/thấp kém: “thoát khỏi nghề rẻ rúng này”, “rẻ rúng công việc bình thường khác”.
- Ham muốn, thèm khát địa vị cao sang: “để được làm nghề danh giá kia”, “thèm khát vị thế cao sang này”.
- Mặc cảm, tự ti về công việc bình thường (của bản thân hoặc cha mẹ): “Không phải để mặc cảm.”, “Không phải để tự ti.”
- Thái độ tích cực:
- Trân trọng, ghi nhận mọi công việc và vai trò của mỗi người: “chẳng có ước mơ nào tầm thường”, “Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận.”, “Để trân trọng.”
- Chủ động, tích cực học tập để theo đuổi đam mê và đạt được thành quả xứng đáng: “học để có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó mang về cho bản thân thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.”
- Bình thản, tự tin đối mặt với thực tế và nỗ lực vươn lên: “Để bình thản tiến bước.”, “vươn lên từng ngày.”
Câu 3: Chỉ ra các biện pháp tu từ và phân tích hiệu quả biểu đạt của chúng trong những câu văn sau trong văn bản : Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả đều là bác sĩ nổi tiếng thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau? Nếu tất cả đều là kĩ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chíp vào máy tính?
Hướng dẫn giải:
Khi phân tích biện pháp tu từ, chúng ta cần thực hiện hai bước chính:
- Chỉ ra biện pháp tu từ: Gọi đúng tên biện pháp được sử dụng (ví dụ: câu hỏi tu từ, điệp cấu trúc, liệt kê, tương phản…).
- Phân tích hiệu quả biểu đạt: Giải thích tác dụng của biện pháp đó đối với việc thể hiện nội dung, tư tưởng, cảm xúc của tác giả, và tác động của nó đến người đọc (làm cho câu văn thêm sinh động, nhấn mạnh ý, gợi suy nghĩ…).
Lời giải chi tiết:
Trong chuỗi câu văn trên, tác giả đã sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ sau:
- Điệp cấu trúc (Cấu trúc lặp): “Nếu tất cả đều là… thì ai sẽ…?”
- Hiệu quả: Việc lặp lại cấu trúc ngữ pháp này tạo ra một nhịp điệu mạnh mẽ, dứt khoát cho đoạn văn. Nó giúp nhấn mạnh một cách liên tục và dồn dập vào cùng một vấn đề, tạo sự thống nhất và logic trong lập luận, khiến cho ý kiến của tác giả trở nên rõ ràng và dễ tiếp nhận hơn.
- Câu hỏi tu từ: Toàn bộ chuỗi câu đều là câu hỏi tu từ.
- Hiệu quả: Những câu hỏi này không đòi hỏi câu trả lời trực tiếp mà lại có tác dụng khơi gợi suy nghĩ, buộc người đọc phải tự vấn và nhận ra một sự thật hiển nhiên. Chúng giúp tác giả khẳng định một cách mạnh mẽ rằng mọi công việc, dù là “danh giá” hay “bình thường”, đều cần thiết và không thể thiếu trong xã hội. Không có những người làm công việc bình thường thì xã hội không thể vận hành.
- Liệt kê: Các ví dụ về nghề nghiệp “cao sang” (doanh nhân, bác sĩ, nhà khoa học, kĩ sư phần mềm) và các công việc “bình thường” nhưng thiết yếu (quét rác, dọn vệ sinh, tưới rau, gắn chíp) được liệt kê.
- Hiệu quả: Biện pháp liệt kê giúp cung cấp nhiều dẫn chứng cụ thể, đa dạng, bao quát nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Điều này làm cho lập luận của tác giả trở nên thuyết phục hơn, có sức nặng hơn, chứng minh rằng sự đa dạng nghề nghiệp và vai trò của mỗi ngành nghề là một tất yếu.
- Đối lập (Tương phản): Sự đối lập giữa các nghề nghiệp được cho là “danh giá” với các công việc “bình thường” nhưng không kém phần quan trọng (ví dụ: “doanh nhân thành đạt” >< "quét rác trên những đường phố"; "bác sĩ nổi tiếng" >< "dọn vệ sinh bệnh viện").
- Hiệu quả: Biện pháp đối lập làm nổi bật sự khác biệt về vai trò và vị trí xã hội giữa các nghề nghiệp, đồng thời ngầm khẳng định rằng dù khác biệt về tính chất, nhưng tất cả đều có vai trò quan trọng, không thể thay thế. Nó giúp người đọc nhận ra rằng giá trị của một công việc không nằm ở sự “cao sang” hay “thấp kém” mà ở sự cần thiết và đóng góp của nó cho cộng đồng.
Tổng thể, việc kết hợp các biện pháp tu từ này đã giúp tác giả truyền tải thông điệp một cách sâu sắc, mạnh mẽ và đầy thuyết phục: mọi công việc đều có giá trị, và sự tồn tại của các công việc “bình thường” là nền tảng vững chắc để xã hội phát triển.
Câu 4: Vì sao chúng ta “không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác” ?
Hướng dẫn giải:
Để trả lời câu hỏi “Vì sao…?”, các em cần quay lại đoạn văn và tìm các lý do, lập luận mà tác giả đã đưa ra để bảo vệ quan điểm của mình. Tập trung vào các câu văn giải thích, chứng minh tầm quan trọng của mọi công việc và vai trò của mỗi người trong xã hội.
Lời giải chi tiết:
Chúng ta “không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác” bởi những lý do sâu sắc mà tác giả đã chỉ ra trong đoạn trích:
- Mọi công việc đều có vai trò và giá trị riêng, đều đáng được ghi nhận: Tác giả khẳng định rõ ràng: “Mỗi một người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận.” Dù là công việc tưởng chừng nhỏ bé nhất như quét rác, dọn vệ sinh hay tưới rau, chúng đều là những mắt xích không thể thiếu để duy trì sự vận hành của xã hội. Nếu thiếu đi những công việc này, xã hội sẽ không thể phát triển, thậm chí là đình trệ.
- Không thể có xã hội chỉ toàn người “danh giá”: Chuỗi câu hỏi tu từ ở đoạn sau đã minh chứng điều này một cách đanh thép: “Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố?…” Rõ ràng, một xã hội cần sự đa dạng nghề nghiệp và sự phân công lao động để tồn tại và phát triển. Việc chỉ chú trọng vào các công việc được cho là “cao sang” sẽ dẫn đến sự thiếu hụt trầm trọng các công việc thiết yếu khác.
- Trân trọng công việc bình thường là trân trọng thực tế và nguồn cội: Tác giả nhắc nhở: “Cha mẹ ta, phần đông, đều làm công việc rất đỗi bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti.” Việc trân trọng những công việc bình thường cũng là cách chúng ta trân trọng chính cha mẹ, gia đình mình, trân trọng những giá trị lao động đích thực và vượt qua sự mặc cảm, tự ti không đáng có về xuất thân hay nghề nghiệp.
- Mỗi nghề nghiệp đều có “đỉnh cao” để vươn tới: Dù “Phần đông chúng ta cũng sẽ là người bình thường”, nhưng điều đó “không thể ngăn cản chúng ta vươn lên từng ngày. Bởi luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường”. Điều này có nghĩa là giá trị của một công việc không nằm ở tên gọi hay địa vị xã hội mà ở cách chúng ta thực hiện nó, ở sự cống hiến, nỗ lực và sự chuyên nghiệp mà chúng ta mang lại. Mỗi người đều có thể tìm thấy ý nghĩa và sự xuất sắc trong chính công việc của mình.
Tóm lại, tác giả muốn gửi gắm thông điệp rằng, tất cả các công việc đều cần thiết, đều đáng được tôn trọng. Chúng ta cần có một cái nhìn đúng đắn, công bằng về lao động, không chạy theo những giá trị hào nhoáng bên ngoài mà đánh mất đi sự trân trọng đối với những đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng cho cuộc sống.
Các em thấy đấy, qua đoạn trích này, tác giả Phạm Lữ Ân đã khéo léo dẫn dắt chúng ta đến những suy nghĩ rất ý nghĩa về thái độ sống, về cách chúng ta nhìn nhận công việc và giá trị bản thân. Hy vọng các em đã hiểu bài và biết cách áp dụng những kiến thức này vào việc phân tích các văn bản khác nhé!
Câu 1.
– Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2.
– Tác giả đã chỉ ra những thái độ nào của con người đối với công việc : Thèm khát, rẻ rúng, trân trọng, mặc cảm, bình thản, tự ti.
Câu 3.
– Biện pháp: Điệp ( từ, ngữ, điệp cấu trúc ), liệt kê, câu hỏi tu từ.
– Hiệu quả:
+ Nhấn mạnh mỗi người có một nhiệm vụ, một vai trò khác nhau trong xã hội và tất cả đều đáng trân trọng vì đều góp phần giúp ích cho cuộc sống, xây dựng xã hội.
+ Tạo giọng điệu khẳng định, tăng sức thuyết phục trong bàn | luận và tạo sự liên kết câu trong đoạn văn.
Câu 4.
– Theo tác giả, chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác ” Vì mỗi người đều có vai trò trong cuộc đời này và đều đáng được ghi nhận “.
Câu 1.
– Phương thức biểu đạt chính: nghị luận
Câu 2.
– Tác giả đã chỉ ra những thái độ của con người với công việc:trân trọng, mặc cảm,bình thả tiến bước,tự ti
Câu 3.
– Biện pháp tu từ trong đoạn trích trên : điệp ngữ “Nếu tất cả”
– Tác dụng:cho người đọc thấy rằng nghề nào cũng có ích,giúp ích được cho xã hội.Vì vậy, mỗi con người cần phải cố gắng phấn đấu, nỗ lực mỗi ngày để hoàn thành công việc của chính mình.
Câu 4.
– Chúng ta “ không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác” vì:mỗi con người , tuy khác nhau về công việc nhưng có điểm chung là đều có thể giúp ích được cho xã hội .Chúng ta cũng cần phải ghi nhận những công lao ấy của họ cho dù đó là bất cứ công việc, ngành nghề gì.