Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP Đọc thầm và trả lời các câu hỏi: ĐỀ 1 Ổ bánh mỳ Một giáo sư ngườ…

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
Đọc thầm và trả lời các câu hỏi:
ĐỀ 1
Ổ bánh mỳ
Một giáo sư ngườ…

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
Đọc thầm và trả lời các câu hỏi:
ĐỀ 1
Ổ bánh mỳ
Một giáo sư người Mỹ làm giảng viên tại một viện đại học ở nước Ba Tây (Brazil) đã nhắc lại một kỷ niệm khó quên. Ông thuật lại rằng một ngày kia khi đang trên con đường đến trường đại học, ông cảm thấy có ai đó kéo quần mình, quay đầu lại, ông thấy một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.
Cậu bé nhìn ông với lời van xin: Thưa ông! Cho con bánh mì. Khác với những lần trước, mỗi khi gặp trẻ ăn xin trên đường phố, mở lời van xin, ông thường phớt lờ, lạnh lùng bước đi, vì có nhiều trẻ ăn xin quá, nhưng không biết vì sao lần này ông lại dừng bước, rồi bảo cậu cùng đi với ông ta vào quán cà phê gần đó. Sau khi mua cho cậu một bánh kem và thức ăn khác mà cậu muốn, ông mua cho mình một tách cà phê, rồi bước ra khỏi tiệm, quên hẳn cậu bé.
Nhưng khi ông đi được ít bước thì có người đụng vào lưng ông, quay nhìn lại, ông thấy cậu bé khi nãy. Cậu bé vẫn cầm ổ bánh kem và run run nói: Con cám ơn ông!. Vị giáo sư này cảm động vì lời cám ơn của cậu bé ăn xin đáng thương đó, trong khi đó có những trẻ ăn xin khác đã nhận tiền hay thức ăn ông cho nhưng chưa có em nào có lòng biết ơn như thế!
                                                                   (TheoTruyện ngụ ngôn)
         Dựa vào nội dung bài đọc, khoanh vào chữ cái trước câu trả lời đúng hoặc thực hiện theo yêu cầu.
Câu1: Vị giáo sư người nước nào?
Nước Mỹ B. Nước Brazil      C. Nước Ba Lan              D. Nước Ba Tư
Câu2: Trên đường đến trường đại học, ông gặp ai?
Một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và khuôn mặt sáng sủa.
Một cô bé độ 6 hay 7 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.
Một cô bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.
Một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và nụ cười rạng rỡ.
Câu3: Điều gì khiến vị giáo sư này cảm động?
Vì nhìn cậu bé ấy đáng thương
Vì lời cảm ơn của cậu bé đó
Vì cậu bé quay lại gặp ông
Vì cậu bé vẫn cầm bánh kem trên tay
Câu 4: Câu chuyện trên muốn nhắn nhủ đến em điều gì?
……………………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………………
Câu 5: Xác định trạng ngữ (TN), chủ ngữ (CN) và vị ngữ (VN) trong câu văn sau:
Sau khi mua cho cậu một bánh kem và thức ăn khác mà cậu muốn, ông mua cho mình một tách cà phê, rồi bước ra khỏi tiệm, quên hẳn cậu bé.
Câu 6: Viết tiếp để tạo thành câu có vị ngữ nêu đặc điểm của đối tượng được nói đến ở chủ ngữ:
Trong câu chuyện, em bé ăn xin..
Câu 7: Gạch 1 gạch dưới trạng ngữ chỉ thời gian, gạch 2 gạch dưới trạng ngữ chỉ nguyên nhân trong các câu sau:
Vì muốn con có cuộc sống tốt hơn, mẹ luôn chịu khó thức khuya dậy sớm.
Hôm qua, vì gió quá to, cây cổ thụ bên đường bị gãy mất một cành.
Câu 8: Đặt câu theo yêu cầu dưới đây:
Có chứa trạng ngữ chỉ nơi chốn

Có chứa trạng ngữ chỉ nguyên nhân

Câu 9: Em hãy viết lại câu chủ đề có trong đoạn 1 của bài đọc trên?

_____________________________________________________________________

Hỏi bởi: dungdoan
2 câu trả lời
▲ 6
Chào các con! Hôm nay, cô trò mình cùng nhau ôn tập và giải bài tập “Đề cương ôn tập – Đề 1: Ổ bánh mỳ” dựa trên Sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 4 nhé!

Chúng ta sẽ đi từng câu một, vừa đọc kỹ đề bài, vừa suy nghĩ và tìm ra đáp án đúng nhất.

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP
Đọc thầm và trả lời các câu hỏi:
ĐỀ 1
Ổ bánh mỳ
Một giáo sư người Mỹ làm giảng viên tại một viện đại học ở nước Ba Tây (Brazil) đã nhắc lại một kỷ niệm khó quên. Ông thuật lại rằng một ngày kia khi đang trên con đường đến trường đại học, ông cảm thấy có ai đó kéo quần mình, quay đầu lại, ông thấy một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.
Cậu bé nhìn ông với lời van xin: Thưa ông! Cho con bánh mì. Khác với những lần trước, mỗi khi gặp trẻ ăn xin trên đường phố, mở lời van xin, ông thường phớt lờ, lạnh lùng bước đi, vì có nhiều trẻ ăn xin quá, nhưng không biết vì sao lần này ông lại dừng bước, rồi bảo cậu cùng đi với ông ta vào quán cà phê gần đó. Sau khi mua cho cậu một bánh kem và thức ăn khác mà cậu muốn, ông mua cho mình một tách cà phê, rồi bước ra khỏi tiệm, quên hẳn cậu bé.
Nhưng khi ông đi được ít bước thì có người đụng vào lưng ông, quay nhìn lại, ông thấy cậu bé khi nãy. Cậu bé vẫn cầm ổ bánh kem và run run nói: Con cám ơn ông!. Vị giáo sư này cảm động vì lời cám ơn của cậu bé ăn xin đáng thương đó, trong khi đó có những trẻ ăn xin khác đã nhận tiền hay thức ăn ông cho nhưng chưa có em nào có lòng biết ơn như thế!
(TheoTruyện ngụ ngôn)

Dựa vào nội dung bài đọc, khoanh vào chữ cái trước câu trả lời đúng hoặc thực hiện theo yêu cầu.

Câu 1: Vị giáo sư người nước nào?
A. Nước Mỹ B. Nước Brazil C. Nước Ba Lan D. Nước Ba Tư

Phân tích:
Đoạn đầu tiên của bài đọc có câu: “Một giáo sư người Mỹ làm giảng viên tại một viện đại học ở nước Ba Tây (Brazil)…”. Câu này cho chúng ta biết vị giáo sư này là người nước Mỹ.

Đáp án đúng: A

Câu 2: Trên đường đến trường đại học, ông gặp ai?
A. Một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và khuôn mặt sáng sủa.
B. Một cô bé độ 6 hay 7 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.
C. Một cô bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.
D. Một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và nụ cười rạng rỡ.

Phân tích:
Đoạn đầu bài đọc miêu tả: “…ông thấy một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.”

Đáp án đúng: Chúng ta cần chọn đáp án khớp với miêu tả này.
– Đáp án A sai vì khuôn mặt không lem luốc bẩn thỉu.
– Đáp án B sai vì đó là cậu bé, không phải cô bé và độ tuổi hơi khác.
– Đáp án C sai vì đó là cậu bé, không phải cô bé.
– Đáp án D sai vì khuôn mặt không rạng rỡ mà là lem luốc bẩn thỉu.

Ồ, có vẻ như các lựa chọn chưa hoàn toàn khớp với văn bản. Tuy nhiên, nếu xét các yếu tố chính: “cậu bé”, “độ 5 hay 6 tuổi”, “đôi mắt tròn đen và sáng”, “khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu”, thì đáp án gần nhất với miêu tả trong bài là:

Đáp án đúng (dựa trên các lựa chọn có sẵn và so sánh): Chúng ta phải xem xét kỹ lại các lựa chọn và miêu tả trong bài. Miêu tả trong bài là: “một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.”
– Lựa chọn A: “Một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và khuôn mặt sáng sủa.” -> Sai, khuôn mặt không sáng sủa.
– Lựa chọn B: “Một cô bé độ 6 hay 7 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.” -> Sai, là cậu bé và độ tuổi có thể hơi khác.
– Lựa chọn C: “Một cô bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.” -> Sai, là cậu bé, không phải cô bé.
– Lựa chọn D: “Một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và nụ cười rạng rỡ.” -> Sai, khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.

Tuy nhiên, nếu phải chọn một đáp án gần đúng nhất và có thể có sai sót trong đề bài tập, thì chúng ta sẽ tập trung vào “cậu bé”, “5 hay 6 tuổi”, “đôi mắt tròn đen và sáng”. Các lựa chọn có các chi tiết này.
Nếu đề bài gốc chính xác, thì cả 4 lựa chọn đều có điểm chưa đúng.
Tuy nhiên, theo hướng dẫn của SGK, chúng ta sẽ tìm đáp án khớp nhất. Cả 4 đáp án đều có sự khác biệt so với câu văn gốc. Cô sẽ giả định có một lỗi đánh máy nhỏ ở các lựa chọn và dựa vào các chi tiết chính.

Giả sử câu hỏi muốn kiểm tra khả năng đọc hiểu chi tiết: “một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.”

Nếu phải chọn một, và xem xét các yếu tố quan trọng nhất:
– “cậu bé”
– “độ 5 hay 6 tuổi”
– “đôi mắt tròn đen và sáng”

Các lựa chọn A và D có “cậu bé”, “độ 5 hay 6 tuổi”, “đôi mắt tròn đen và sáng”. Tuy nhiên, A có “khuôn mặt sáng sủa” và D có “nụ cười rạng rỡ”, đều không khớp với “khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu”.
Các lựa chọn B và C có “khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu” nhưng lại là “cô bé”.

Trong trường hợp này, các con hãy lưu ý cách ra đề. Nếu đề yêu cầu chọn đáp án đúng nhất, chúng ta phải rất cẩn thận. Cô sẽ làm lại theo cách chỉ ra sự sai khác của từng lựa chọn so với bài.

* A. Sai vì khuôn mặt “sáng sủa” thay vì “lem luốc bẩn thỉu”.
* B. Sai vì là “cô bé” thay vì “cậu bé”, và độ tuổi “6 hay 7” thay vì “5 hay 6”.
* C. Sai vì là “cô bé” thay vì “cậu bé”.
* D. Sai vì “nụ cười rạng rỡ” thay vì “khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu”.

Vì tất cả các đáp án đều có sai sót so với văn bản gốc, cô không thể chọn một đáp án duy nhất là “đúng”. Tuy nhiên, nếu bài kiểm tra yêu cầu chọn gần đúng nhất, thì chúng ta cần thảo luận kỹ hơn. Trong tình huống này, các con hãy ghi nhớ miêu tả trong bài là “cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu”.

Trong một bài kiểm tra chính thức, nếu gặp trường hợp này, các con hãy cẩn thận hoặc hỏi lại thầy cô. Tuy nhiên, vì cô cần đưa ra đáp án, cô sẽ dựa vào các yếu tố chính về giới tính và độ tuổi, sau đó đến miêu tả ngoại hình. Nếu bắt buộc phải chọn trong các đáp án này, ta sẽ ưu tiên yếu tố “cậu bé” và “độ tuổi”. Nhưng cô nhận thấy các lựa chọn này có vấn đề.

Để giúp các con học tốt, cô sẽ tự sửa lại lựa chọn C cho đúng với văn bản:
C. Một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.
Nếu vậy, thì đáp án C mới đúng. Nhưng theo đề bài cho sẵn, không có lựa chọn nào đúng hoàn toàn.

Vì yêu cầu là dựa theo Sách giáo khoa và giải bài tập, cô sẽ không tự ý sửa đề bài. Cô chỉ ra rằng đề bài có thể chưa chặt chẽ ở câu này. Tuy nhiên, nếu nhìn vào “khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu” thì ta có thể liên tưởng đến B và C. Nhìn vào “cậu bé” thì ta có A và D. Nếu kết hợp cả “cậu bé” và “lem luốc bẩn thỉu” thì không có đáp án nào hoàn chỉnh.
Cô sẽ chọn đáp án A vì có “cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng”, dù phần miêu tả khuôn mặt có khác. Đây là cách chọn “ít sai” nhất trong các lựa chọn có sẵn.

Đáp án: A (Lưu ý: Cần xem xét lại các lựa chọn đề bài cho)

Câu 3: Điều gì khiến vị giáo sư này cảm động?
A. Vì nhìn cậu bé ấy đáng thương
B. Vì lời cảm ơn của cậu bé đó
C. Vì cậu bé quay lại gặp ông
D. Vì cậu bé vẫn cầm bánh kem trên tay

Phân tích:
Cuối bài đọc có câu: “Vị giáo sư này cảm động vì lời cám ơn của cậu bé ăn xin đáng thương đó, trong khi đó có những trẻ ăn xin khác đã nhận tiền hay thức ăn ông cho nhưng chưa có em nào có lòng biết ơn như thế!”

Đáp án đúng: B

Câu 4: Câu chuyện trên muốn nhắn nhủ đến em điều gì?
Phân tích:
Câu chuyện kể về một cậu bé ăn xin dù nghèo khó nhưng biết nói lời cảm ơn. Điều này làm vị giáo sư cảm động vì cậu bé có lòng biết ơn. Qua đó, câu chuyện muốn khuyên chúng ta phải biết trân trọng những gì mình nhận được và biết ơn người khác.

Trả lời: Câu chuyện muốn nhắn nhủ chúng ta phải biết ơn, biết nói lời cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ của người khác, dù là nhỏ nhất.

Câu 5: Xác định trạng ngữ (TN), chủ ngữ (CN) và vị ngữ (VN) trong câu văn sau:
Sau khi mua cho cậu một bánh kem và thức ăn khác mà cậu muốn, ông mua cho mình một tách cà phê, rồi bước ra khỏi tiệm, quên hẳn cậu bé.

Phân tích:
Đây là một câu ghép phức tạp. Chúng ta sẽ phân tích từng bộ phận.
– “Sau khi mua cho cậu một bánh kem và thức ăn khác mà cậu muốn”: Đây là một cụm từ chỉ thời gian, trả lời câu hỏi “Khi nào?”. Nó bổ sung ý nghĩa cho hành động phía sau. Vậy đây là Trạng ngữ (TN).
– “ông”: Ai làm hành động? Là “ông”. Đây là Chủ ngữ (CN).
– “mua cho mình một tách cà phê, rồi bước ra khỏi tiệm, quên hẳn cậu bé”: Đây là những gì “ông” làm, miêu tả hành động của chủ ngữ. Đây là Vị ngữ (VN). Vị ngữ này có nhiều động từ nối với nhau bằng “rồi”.

Đáp án:
– Trạng ngữ (TN): Sau khi mua cho cậu một bánh kem và thức ăn khác mà cậu muốn
– Chủ ngữ (CN): ông
– Vị ngữ (VN): mua cho mình một tách cà phê, rồi bước ra khỏi tiệm, quên hẳn cậu bé.

Câu 6: Viết tiếp để tạo thành câu có vị ngữ nêu đặc điểm của đối tượng được nói đến ở chủ ngữ:
Trong câu chuyện, em bé ăn xin..

Phân tích:
Đề bài yêu cầu viết tiếp để tạo thành câu có vị ngữ nêu “đặc điểm” của “em bé ăn xin”. Chúng ta cần miêu tả về em bé. Dựa vào bài đọc, ta có thể miêu tả về ngoại hình hoặc tính cách.

Trả lời:
Trong câu chuyện, em bé ăn xin có đôi mắt tròn đen và sáng, dù khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.
Hoặc:
Trong câu chuyện, em bé ăn xin biết nói lời cảm ơn chân thành.

Câu 7: Gạch 1 gạch dưới trạng ngữ chỉ thời gian, gạch 2 gạch dưới trạng ngữ chỉ nguyên nhân trong các câu sau:
Vì muốn con có cuộc sống tốt hơn, mẹ luôn chịu khó thức khuya dậy sớm.
Hôm qua, vì gió quá to, cây cổ thụ bên đường bị gãy mất một cành.

Phân tích:
– Trạng ngữ chỉ thời gian trả lời câu hỏi “Khi nào?”.
– Trạng ngữ chỉ nguyên nhân trả lời câu hỏi “Vì sao?”.

Câu 1: “Vì muốn con có cuộc sống tốt hơn, mẹ luôn chịu khó thức khuya dậy sớm.”
– “Vì muốn con có cuộc sống tốt hơn”: Câu này giải thích “Vì sao” mẹ thức khuya dậy sớm. Đây là trạng ngữ chỉ nguyên nhân. Ta gạch 2 gạch.
– “mẹ”: Chủ ngữ.
– “luôn chịu khó thức khuya dậy sớm”: Vị ngữ. (Từ “luôn” có thể coi là trạng ngữ chỉ tần suất, nhưng ở đây ta chỉ tập trung vào thời gian và nguyên nhân theo yêu cầu đề).

Câu 2: “Hôm qua, vì gió quá to, cây cổ thụ bên đường bị gãy mất một cành.”
– “Hôm qua”: Câu này cho biết “Khi nào” cây bị gãy. Đây là trạng ngữ chỉ thời gian. Ta gạch 1 gạch.
– “vì gió quá to”: Câu này giải thích “Vì sao” cây bị gãy. Đây là trạng ngữ chỉ nguyên nhân. Ta gạch 2 gạch.
– “cây cổ thụ bên đường”: Chủ ngữ.
– “bị gãy mất một cành”: Vị ngữ.

Đáp án:
Vì muốn con có cuộc sống tốt hơn, mẹ luôn chịu khó thức khuya dậy sớm.
Hôm qua, vì gió quá to, cây cổ thụ bên đường bị gãy mất một cành.

Câu 8: Đặt câu theo yêu cầu dưới đây:
Có chứa trạng ngữ chỉ nơi chốn
Có chứa trạng ngữ chỉ nguyên nhân

Phân tích:
– Trạng ngữ chỉ nơi chốn trả lời câu hỏi “Ở đâu?”.
– Trạng ngữ chỉ nguyên nhân trả lời câu hỏi “Vì sao?”.

Trả lời:
– Câu có trạng ngữ chỉ nơi chốn: Trên ngọn đồi xanh mướt, những bông hoa dại đang khoe sắc. (Trạng ngữ: Trên ngọn đồi xanh mướt – chỉ nơi chốn)
– Câu có trạng ngữ chỉ nguyên nhân: Vì mưa to như trút nước, buổi dã ngoại ngoài trời đã bị hủy bỏ. (Trạng ngữ: Vì mưa to như trút nước – chỉ nguyên nhân)

Câu 9: Em hãy viết lại câu chủ đề có trong đoạn 1 của bài đọc trên?

Phân tích:
Câu chủ đề là câu quan trọng nhất, nêu ý chính của một đoạn văn. Chúng ta xem đoạn 1:
“Một giáo sư người Mỹ làm giảng viên tại một viện đại học ở nước Ba Tây (Brazil) đã nhắc lại một kỷ niệm khó quên. Ông thuật lại rằng một ngày kia khi đang trên con đường đến trường đại học, ông cảm thấy có ai đó kéo quần mình, quay đầu lại, ông thấy một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.”

Câu đầu tiên “Một giáo sư người Mỹ làm giảng viên tại một viện đại học ở nước Ba Tây (Brazil) đã nhắc lại một kỷ niệm khó quên.” đã giới thiệu chung về sự việc sẽ được kể lại, đó là một “kỷ niệm khó quên” của vị giáo sư. Các câu sau đó chi tiết hóa kỷ niệm đó.

Trả lời: Câu chủ đề của đoạn 1 là: “Một giáo sư người Mỹ làm giảng viên tại một viện đại học ở nước Ba Tây (Brazil) đã nhắc lại một kỷ niệm khó quên.”


Các con thân mến, chúng ta vừa cùng nhau ôn tập và giải xong các bài tập của Đề 1. Các con đã nắm chắc kiến thức về các thành phần câu, cách xác định trạng ngữ và ý nghĩa của câu chuyện rồi đúng không nào? Hãy xem lại bài làm của mình và nếu có chỗ nào chưa hiểu, đừng ngần ngại hỏi cô nhé!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 23

Câu 1: C. Nước Mỹ

Câu 2: Một cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.

Câu 3: Vì lời cảm ơn của cậu bé đó

Câu 4: Câu chuyện trên muốn nhắn nhủ rằng chúng ta nên có lòng biết ơn khi ai đó giúp đỡ mình.

Câu 5: TN; Sau khi mua cho cậu một bánh kem và thức ăn khác mà cậu muốn

CN; ông 

VN; mua cho mình một tách cà phê, rồi bước ra khỏi tiệm, quên hẳn cậu bé.

Câu 6: Trong câu chuyện, cậu bé ăn xin rất đáng thương.

Câu 7: 

Hôm qua: trạng ngữ chỉ thời gian

Vì muốn con có cuộc sống tốt hơn: trạng ngữ chỉ nguyên nhân

Câu 8: 

– Ở trong vườn, bà đang trồng cây xoài.

– Vì chăm chỉ thể dục, em có sức khỏe tốt.

Câu 9: Giáo sư người Mỹ đã gặp được cậu bé độ 5 hay 6 tuổi với đôi mắt tròn đen và sáng trong khuôn mặt lem luốc bẩn thỉu.

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo