Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết …
Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.
Giọt sương phủ bụi chim gù,
Sâu tường kêu vẳng chuông chùa nện khơi.
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên.
Lá màn lay ngọn gió xuyên,
Bóng hoa theo bóng nguyệt lên trước rèm.
Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!
(Trích Chinh phụ ngâm )
Câu 1: Xác định thể thơ, phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ là ai?
Câu 3: Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả cảnh thiên nhiên trong đoạn trích. Nhận xét về bức tranh thiên nhiên đó.
Câu 4: Xác định 02 biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong các câu thơ sau và nêu tác dụng của chúng:
Sương như búa bổ mòn gốc liễu,
Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô.
Câu 5: Xác định và phân tích hiệu quả của phép điệp trong những câu sau:
Hoa giãi nguyệt nguyệt in một tấm,
Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông.
Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng,
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau!
Câu 6: Nhận xét về cảm xúc của nhân vật trữ tình thể hiện trong đoạn trích.
Câu 7: Cảm nhận về tâm trạng của người chinh phụ trong bốn câu cuối( 3-5 câu).
Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau phân tích một đoạn trích rất đặc sắc trong tác phẩm “Chinh phụ ngâm”. Đây là một trong những áng thơ miêu tả nội tâm nhân vật tinh tế và sâu sắc bậc nhất của văn học trung đại Việt Nam. Các em hãy đọc kĩ lại đoạn trích và cùng cô giải quyết các bài tập sau nhé.
Câu 1:
Chào các em, câu hỏi này khá cơ bản, chúng ta hãy cùng xác định nhé.
– Thể thơ: Đoạn trích được viết theo thể thơ song thất lục bát. Đây là một thể thơ dân tộc, được kết hợp giữa hai câu bảy chữ (song thất) và một cặp lục bát (câu sáu và câu tám chữ). Các em có thể thấy rõ cấu trúc này trong đoạn thơ: (7-7, 6-8), (7-7, 6-8).
– Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là biểu cảm. Mặc dù có yếu tố miêu tả cảnh vật nhưng mục đích chính của việc miêu tả đó là để bộc lộ tâm trạng, cảm xúc buồn tủi, cô đơn của người chinh phụ.
Câu 2:
Nhân vật trữ tình (người đang bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ) trong đoạn thơ chính là người chinh phụ. Nàng là người vợ có chồng đi chinh chiến phương xa, đang sống trong cảnh cô đơn, mòn mỏi chờ đợi tin tức của chồng. Toàn bộ khung cảnh thiên nhiên và nỗi niềm trong đoạn thơ đều được cảm nhận qua trái tim và ánh mắt của nhân vật này.
Câu 3:
Chúng ta hãy cùng gạch chân những hình ảnh thiên nhiên trong đoạn thơ nhé:
– Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả thiên nhiên: Sương, gốc liễu, tuyết, cành ngô, giọt sương, bụi, chim gù, sâu tường, chuông chùa, tiếng dế, nguyệt (trăng), ốc, hàng tiêu, gió, lá màn, bóng hoa, bóng nguyệt.
– Nhận xét về bức tranh thiên nhiên:
Bức tranh thiên nhiên trong đoạn trích hiện lên không tươi sáng, thơ mộng mà lại mang một vẻ ảm đạm, lạnh lẽo và đầy tâm trạng.
+ Thiên nhiên khắc nghiệt, mang sức tàn phá: Sương được ví “như búa bổ”, tuyết “dường cưa xẻ” làm cho vạn vật hao mòn, héo úa (“mòn gốc liễu”, “héo cành ngô”).
+ Không gian tĩnh lặng, hoang vắng đến rợn ngợp: Âm thanh trong đêm như tiếng “chim gù”, “sâu tường kêu vẳng”, “tiếng dế” đều là những âm thanh nhỏ, yếu ớt, càng làm tăng thêm sự mênh mông, trống vắng của không gian và sự cô đơn của con người.
+ Cảnh vật nhuốm màu chia ly, sầu muộn, thể hiện rõ bút pháp “tả cảnh ngụ tình” đặc trưng của văn học trung đại. Thiên nhiên không chỉ là cái nền mà còn là tấm gương phản chiếu nỗi buồn da diết trong lòng người chinh phụ.
Câu 4:
Ở hai câu thơ đầu, tác giả đã sử dụng rất tài tình các biện pháp nghệ thuật. Các em chú ý nhé:
– Biện pháp nghệ thuật được sử dụng:
1. So sánh: “Sương như búa bổ”, “Tuyết dường cưa xẻ”.
2. Nhân hóa: Gán cho sự vật vô tri (sương, tuyết) những hành động mạnh mẽ, có tính hủy diệt của con người (“bổ”, “xẻ”).
– Tác dụng:
+ Hai biện pháp nghệ thuật này kết hợp đã cụ thể hóa sức mạnh vô hình của thời gian và sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Sương và tuyết không còn là những hiện tượng tự nhiên mềm mại mà trở thành những thế lực hung bạo, đang gặm nhấm, tàn phá sự sống (làm “mòn gốc liễu”, “héo cành ngô”).
+ Qua đó, tác giả ngầm nói lên sự tàn phá của thời gian, của nỗi cô đơn đang bào mòn tuổi xuân và héo hắt tâm hồn người chinh phụ. Cảnh vật bên ngoài là hình ảnh ẩn dụ cho tâm cảnh bên trong của nhân vật.
Câu 5:
Bốn câu thơ cuối là một tuyệt bút về nghệ thuật sử dụng ngôn từ, đặc biệt là phép điệp.
– Xác định phép điệp: Tác giả đã sử dụng điệp ngữ vòng (điệp ngữ luân hoàn). Các từ “hoa” và “nguyệt” được lặp đi lặp lại, đan xen, quấn quýt vào nhau: Hoa giãi nguyệt / nguyệt in một tấm / Nguyệt lồng hoa / hoa thắm từng bông / Nguyệt hoa hoa nguyệt…
– Phân tích hiệu quả:
+ Về mặt hình ảnh, phép điệp này vẽ nên một khung cảnh tuyệt đẹp, huyền ảo. Trăng và hoa như hòa quyện vào nhau, soi chiếu, lồng vào nhau, tạo thành một bức tranh lung linh, đầy sức sống và tình tứ.
+ Về mặt biểu cảm, chính sự quấn quýt, giao hòa viên mãn của cảnh vật (hoa và nguyệt) lại tạo ra một sự tương phản sâu sắc với hoàn cảnh cô đơn, chia lìa của người chinh phụ. Cảnh càng đẹp, càng tình tứ thì nỗi đau của con người càng thêm thấm thía. Cảnh sum vầy đối lập với cảnh chia ly.
+ Nhịp điệu của câu thơ với sự lặp lại liên hoàn tạo cảm giác quẩn quanh, bế tắc, như chính nỗi sầu của người chinh phụ không có lối thoát, cứ chồng chất, lớp lớp (“trùng trùng”) trong lòng.
Câu 6:
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể nhận xét về cảm xúc của nhân vật trữ tình như sau:
Đoạn trích thể hiện sâu sắc nỗi buồn cô đơn, lẻ loi đến tột cùng của người chinh phụ. Nỗi buồn ấy thấm vào từng cảnh vật, biến một đêm trăng có hoa trở nên ảm đạm, thê lương. Đó còn là nỗi khắc khoải, mòn mỏi trong sự chờ đợi vô vọng và cảm giác tuổi xuân đang dần phai úa theo thời gian. Cuối cùng, nỗi buồn ấy dâng lên đến đỉnh điểm thành nỗi đau đớn “xiết đau” khi chứng kiến cảnh vật sum vầy mà mình lại phải chịu cảnh chia lìa.
Câu 7:
Bốn câu thơ cuối là sự kết tinh tâm trạng của người chinh phụ. Bức tranh thiên nhiên hiện ra với hình ảnh “hoa” và “nguyệt” quấn quýt, giao hòa, lung linh, tạo nên một vẻ đẹp viên mãn, trọn vẹn. Thế nhưng, cảnh đẹp ấy lại trở thành một tác nhân gợi buồn, gợi tủi bởi nó hoàn toàn đối lập với cảnh ngộ chia ly, cô độc của nàng. Chính sự tương phản nghiệt ngã giữa ngoại cảnh và tâm cảnh đã đẩy nỗi đau trong lòng người chinh phụ lên đến đỉnh điểm, để rồi bật thốt thành lời than “trong lòng xiết đau!”.
Cô hy vọng phần giải bài tập chi tiết này sẽ giúp các em hiểu sâu hơn về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích. Chúc các em học tốt
Đáp án:
Giải thích các bước giải:
chotrongvovong45025
21/10/2024
Câu 1: Xác định thể thơ, phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Thể thơ: Song thất lục bát.Phương thức biểu đạt: Biểu cảm.
Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn thơ là ai?
Nhân vật trữ tình là người chinh phụ – người vợ có chồng ra trận.
Câu 3: Chỉ ra những từ ngữ, hình ảnh miêu tả cảnh thiên nhiên trong đoạn trích. Nhận xét về bức tranh thiên nhiên đó.
Từ ngữ, hình ảnh miêu tả cảnh thiên nhiên: sương, tuyết, chim gù, sâu tường, dế, nguyệt,gió, bóng hoa.
Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên mang tính chất lạnh lẽo, tĩnh mịch và buồn bã. Thiên nhiên như đang phản ánh tâm trạng cô đơn, u sầu của người chinh phụ khi phải xa chồng.
Câu 4: Xác định 02 biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong các câu thơ sau và nêu tác dụng của chúng:
Biện pháp nghệ thuật: So sánh.
“Sương như búa bổ mòn gốc liễu”.”Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô”.Tác dụng: Những hình ảnh so sánh này tạo cảm giác thiên nhiên trở nên khắc nghiệt, tàn phá cây cối. Qua đó, bộc lộ nỗi đau khổ và bế tắc trong tâm trạng của người chinh phụ.
Câu 5: Xác định và phân tích hiệu quả của phép điệp trong những câu sau:
Điệp ngữ: “Nguyệt”, “hoa”.Hiệu quả: Việc điệp lại các từ “nguyệt” và “hoa” không chỉ nhấn mạnh sự hòa quyện giữa trăng và hoa, mà còn gợi lên sự lặp lại của nỗi đau trong lòng người chinh phụ. Dưới ánh trăng, mọi cảnh vật đều đẹp đẽ, nhưng nó lại làm nổi bật sự cô đơn, trống trải và nỗi buồn sâu sắc của người phụ nữ.
Câu 6: Nhận xét về cảm xúc của nhân vật trữ tình thể hiện trong đoạn trích.
- Cảm xúc của nhân vật trữ tình là nỗi buồn, cô đơn và đau khổ khi phải sống trong cảnh xa cách với chồng. Nỗi buồn này càng thêm sâu sắc khi thiên nhiên xung quanh cũng nhuốm màu tang thương và lạnh lẽo.
Câu 7: Viết đoạn văn cảm nhận về tâm trạng của người chinh phụ trong bốn câu cuối.
Bốn câu thơ cuối miêu tả cảnh trăng và hoa hòa quyện vào nhau, trăng soi lên hoa, hoa in bóng trăng. Tuy nhiên, giữa cảnh đẹp ấy, lòng người chinh phụ lại chất chứa bao nỗi đau. Sự lặp lại của các từ “nguyệt” và “hoa” tạo cảm giác như nỗi đau của người chinh phụ cũng đang luẩn quẩn, không thể thoát ra. Cảnh đẹp bên ngoài càng làm nổi bật sự cô đơn, lẻ loi bên trong. Tâm trạng của người chinh phụ vừa day dứt, vừa buồn bã khi phải chịu đựng sự xa cách với chồng, cảnh đẹp nhưng lòng người lại không thể vui. Nỗi đau ấy trùng trùng, dồn nén, khó có thể giải tỏa.