Đọc đoạn trích:
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH (Trích) Nguyễn Minh Châu
(Tóm tắt: “Dấu chân…
DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH (Trích) Nguyễn Minh Châu
(Tóm tắt: “Dấu chân người lính” là tiểu thuyết kể về cuộc chiến vô cùng ác liệt của quân đội ta với kẻ thù ở thung lũng Khe Sanh, Quảng Trị. Tác phẩm gồm 03 phần: Hành quân – Chiến dịch bao vây – Đất giải phóng, nhằm tái hiện lại hành trình chiến đấu và những ngày bão đạn của người lính, qua đó dựng lên bức tranh toàn cảnh của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong hành trình ấy, họ đã đi qua nhiều miền quê của đất nước, chứng kiến sự đói khổ của nhân dân, chiêm nghiệm về chiến tranh và con người… Trích đoạn sau thuộc phần Hành quân, kể về cuộc hành quân đêm của bộ đội trên đường Trường Sơn tiến vào Khe Sanh.)
[…] Cô gái vừa nói hết lời, đã đặt cái bếp bằng đất vắt nặn nên bởi bàn tay khéo léo, khói chỉ lan lờ mờ trong có như sương ban mai rồi lan dần, lửa thì đậu lại. Ngọn lửa được ủ trong lòng người con gái đồng bằng. Những chiến sĩ hành quân trên Trường Sơn chợt trông thấy một ánh lửa hồng, một mái nhà, cái bếp bằng cây sắn có rặng mồng tơi leo, đàn gà lợn trong chuồng, bên đường một mái tóc cặp buông lơi, một kiểu chít khăn mỏ quạ, một nước da con gái đang sốt rét, một ánh mắt đầm thắm và:
“Các anh người quê ở đâu ta?”
Có biết bao nhiêu là nỗi nhớ đồng bằng gửi vào trong một câu hỏi ấy? Cô đêm khuya khoắt ngồi trước khuôn bếp, Nết lắng nghe thấy đủ các thứ tiếng thân quen: tiếng suối chảy, tiếng gà rừng gáy, tiếng côn trùng tác lẻ và tiếng chim “bắt cô trói cột”. Mỗi lúc như vậy, nỗi nhớ nhà và nhớ vùng xứ sở cũ còn mạnh hơn bao giờ hết.
[…] Suốt những năm tháng chiến tranh, mảnh vườn, túp lều, những mái bếp nhỏ như thế đã giúp người lính ấm lòng, hai ánh lửa ấy đã hòa vào nhau, một của nhân dân, một của quân đội, tạo nên sức mạnh dân tộc để chiến thắng quân thù.
[…] Và bây giờ, những người lính năm xưa đã trở về, đứng trước những đổ nát, hoang tàn, những mái bếp không còn nữa. Họ lặng người đi… Nhưng trong tâm trí, những dấu chân của họ vẫn in đậm trong ký ức, và ánh lửa của ngày xưa vẫn sáng mãi.
Các mẩu kỷ niệm vui buồn vụn vặt gắn như chẳng có ý nghĩa gì hết ở trong cái gia đình nghèo và lắm lũ, Nết cứ theo bộ đội đi một bước lại nhớ thêm một chuyện. Không biết bao nhiêu chuyện vui buồn nhỏ nhặt trong gia đình. Mỗi một chuyện là một luồng dao cắt vào gan vào ruột. “Nết ơi, tao lạy mày, mày khóc đi một cái!” – Không bao giờ tao chịu khóc đâu Dư ạ, lúc xong việc ở đây rồi thì tao sẽ khóc. Nhưng bây giờ anh chị em trong đại đội đang vất vả đi, tất cả đang sống như thường bình yên, mỗi người về ra làm hai ba mà chưa làm hết việc, lẽ nào ngồi khóc? Làm sao sinh ra người con gái giậu nước mắt vậy, nhưng Nết không rơi một giọt nước mắt nào, dù có ai nói em ở nhà đã chết vì bom Mỹ. Hãy nghiến răng lại mà nhớ kỹ rằng mình đã gặp những người đã mất, đã sống với họ và làm việc để trả tình cho những người thân đã mất!
(Trích Nguyễn Minh Châu, Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh, NXB Văn học, 2007, tr.538-540)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định dấu hiệu hình thức cho biết nội dung trên là một đoạn trích.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra hai chi tiết miêu tả hình ảnh bếp lửa ở đoạn trích.
Câu 3 (1,0 điểm). Tác giả sử dụng biện pháp tu từ nào trong câu văn sau? Nêu tác dụng diễn ra ở hiện tượng đó: “Có biết bao nhiêu là nỗi nhớ đồng bằng gửi vào trong một câu hỏi ấy?”
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Suốt những năm tháng chiến tranh, mảnh vườn, túp lều, những mái bếp nhỏ như thế đã giúp người lính ấm lòng, hai ánh lửa ấy đã hòa vào nhau, một của nhân dân, một của quân đội, tạo nên sức mạnh dân tộc để chiến thắng quân thù.”
Câu 5 (1,0 điểm). Câu nói của Nết “Không bao giờ tao chịu khóc đâu Dư ạ, lúc xong việc ở đây rồi thì tao sẽ khóc” gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì về cách mỗi người đối diện với nghịch cảnh trong cuộc sống? (trình bày khoảng 10 dòng)
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu một đoạn trích vô cùng ý nghĩa trong tác phẩm “Dấu chân người lính” của nhà văn Nguyễn Minh Châu. Đây là một tác phẩm giàu cảm xúc, tái hiện sinh động những năm tháng chiến tranh hào hùng và gian khổ của dân tộc ta.
Chúng ta sẽ đi vào từng câu hỏi một, dựa trên kiến thức trong Sách giáo khoa và những gì đã phân tích ở bài giảng.
—
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định dấu hiệu hình thức cho biết nội dung trên là một đoạn trích.
Để nhận biết đây là một đoạn trích, chúng ta cần chú ý đến các yếu tố về hình thức.
* Dấu hiệu thứ nhất: Sự xuất hiện của dấu ba chấm […] ở đầu và cuối đoạn văn. Dấu ba chấm ở đầu cho thấy đoạn trích được cắt ra từ một phần trước đó của tác phẩm. Dấu ba chấm ở cuối cho thấy đoạn trích không kết thúc toàn bộ tác phẩm mà còn tiếp tục phần sau.
* Dấu hiệu thứ hai: Thông tin tóm tắt tác phẩm và ghi chú về nguồn gốc đoạn trích ở đầu bài. Cụ thể là phần “(Tóm tắt: “Dấu chân người lính” là tiểu thuyết kể về cuộc chiến vô cùng ác liệt của quân đội ta với kẻ thù ở thung lũng Khe Sanh, Quảng Trị. Tác phẩm gồm 03 phần: Hành quân – Chiến dịch bao vây – Đất giải phóng, nhằm tái hiện lại hành trình chiến đấu và những ngày bão đạn của người lính, qua đó dựng lên bức tranh toàn cảnh của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong hành trình ấy, họ đã đi qua nhiều miền quê của đất nước, chứng kiến sự đói khổ của nhân dân, chiêm nghiệm về chiến tranh và con người… Trích đoạn sau thuộc phần Hành quân, kể về cuộc hành quân đêm của bộ đội trên đường Trường Sơn tiến vào Khe Sanh.)” và “(Trích Nguyễn Minh Châu, Tác phẩm văn học được giải thưởng Hồ Chí Minh, NXB Văn học, 2007, tr.538-540)”. Phần này cung cấp thông tin về tên tác phẩm, tác giả, tóm tắt nội dung chính và nguồn xuất xứ, khẳng định đây là một phần được trích ra từ một tác phẩm lớn hơn.
—
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra hai chi tiết miêu tả hình ảnh bếp lửa ở đoạn trích.
Hình ảnh bếp lửa trong đoạn trích này mang nhiều ý nghĩa, và tác giả đã miêu tả nó bằng nhiều chi tiết sinh động.
* Chi tiết thứ nhất: “cái bếp bằng đất vắt nặn nên bởi bàn tay khéo léo, khói chỉ lan lờ mờ trong có như sương ban mai rồi lan dần, lửa thì đậu lại. Ngọn lửa được ủ trong lòng người con gái đồng bằng.” Chi tiết này gợi lên sự ấm áp, giản dị, mang đậm nét sinh hoạt đời thường của người dân quê. “Bàn tay khéo léo” thể hiện sự tần tảo, đảm đang của người phụ nữ. Ngọn lửa “được ủ trong lòng người con gái đồng bằng” cho thấy sự ấm áp, tình yêu thương, và sự sống mãnh liệt được truyền từ con người sang ngọn lửa.
* Chi tiết thứ hai: “hai ánh lửa ấy đã hòa vào nhau, một của nhân dân, một của quân đội”. Chi tiết này mang tính biểu tượng cao. Ánh lửa của bếp núc, gia đình (nhân dân) và ánh lửa chiến đấu, hy sinh (quân đội) hòa quyện vào nhau, tạo nên một sức mạnh tổng thể, sức mạnh của toàn dân tộc.
—
Câu 3 (1,0 điểm). Tác giả sử dụng biện pháp tu từ nào trong câu văn sau? Nêu tác dụng diễn ra ở hiện tượng đó: “Có biết bao nhiêu là nỗi nhớ đồng bằng gửi vào trong một câu hỏi ấy?”
Trong câu văn “Có biết bao nhiêu là nỗi nhớ đồng bằng gửi vào trong một câu hỏi ấy?”, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.
* Phân tích biện pháp tu từ: Thông thường, nỗi nhớ là một trạng thái tinh thần, một cảm xúc trừu tượng. Tuy nhiên, ở đây, tác giả đã “gửi” nỗi nhớ ấy vào “một câu hỏi”. Câu hỏi là một hoạt động của ngôn ngữ, của âm thanh. Việc “gửi nỗi nhớ” – một thứ trừu tượng – vào “câu hỏi” – một thứ cụ thể, có âm thanh – cho thấy sự chuyển đổi từ phạm trù trừu tượng sang phạm trù cụ thể, từ cảm giác nội tâm sang biểu hiện bên ngoài. Có thể coi đây là một dạng chuyển đổi cảm giác, bởi cảm giác nhớ nhung được biểu hiện qua hành động giao tiếp bằng lời nói.
* Tác dụng diễn ra ở hiện tượng đó: Biện pháp tu từ này có tác dụng làm cho lời nói, câu hỏi của cô gái trở nên giàu hình ảnh và hàm chứa ý nghĩa sâu sắc. Nó không chỉ là một lời hỏi thăm thông thường mà còn là sự chất chứa, dồn nén biết bao tình cảm, nỗi niềm của người con gái quê hương dành cho những người lính xa xứ. Câu hỏi ấy như một dòng chảy của ký ức, của tình cảm, mang theo hơi ấm của đồng bằng, của quê nhà, gửi đến những người đang hành quân. Qua đó, ta thấy được sự đồng cảm, sẻ chia và tình yêu thương sâu sắc mà người dân dành cho người lính.
—
Câu 4 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn sau: “Suốt những năm tháng chiến tranh, mảnh vườn, túp lều, những mái bếp nhỏ như thế đã giúp người lính ấm lòng, hai ánh lửa ấy đã hòa vào nhau, một của nhân dân, một của quân đội, tạo nên sức mạnh dân tộc để chiến thắng quân thù.”
Câu văn này sử dụng kết hợp các biện pháp tu từ: ẩn dụ và nhân hóa.
* Phân tích tác dụng của ẩn dụ:
* “mảnh vườn, túp lều, những mái bếp nhỏ”: Đây là những hình ảnh cụ thể, gợi lên cuộc sống bình dị, ấm cúng của quê hương, gia đình. Khi đặt trong bối cảnh chiến tranh khốc liệt, chúng trở thành ẩn dụ cho sự bình yên, cho chốn nương thân, nơi người lính có thể tìm thấy sự an ủi, che chở.
* “hai ánh lửa ấy đã hòa vào nhau, một của nhân dân, một của quân đội”: Đây là một ẩn dụ vô cùng đắt giá. “Ánh lửa” thứ nhất đại diện cho ngọn lửa bếp núc gia đình, ngọn lửa tình thương của nhân dân. “Ánh lửa” thứ hai đại diện cho tinh thần chiến đấu, ý chí quyết thắng của quân đội. Việc hai ánh lửa “hòa vào nhau” thể hiện sự đoàn kết, thống nhất giữa hậu phương và tiền tuyến, giữa nhân dân và quân đội. Sự hòa quyện này là nền tảng tạo nên sức mạnh to lớn.
* Phân tích tác dụng của nhân hóa:
* “đã giúp người lính ấm lòng”: Bản thân mảnh vườn, túp lều, mái bếp nhỏ không thể có hành động “giúp đỡ” theo nghĩa đen. Việc gán cho chúng khả năng “giúp đỡ” mang yếu tố nhân hóa. Tác dụng của nó là làm cho những vật vô tri trở nên gần gũi, thân thương hơn, như những người bạn đồng hành, chia sẻ, động viên người lính trong gian khó. Nó nhấn mạnh vai trò tinh thần, ý nghĩa sâu sắc mà những hình ảnh bình dị ấy mang lại cho người lính.
* Tác dụng tổng thể của biện pháp tu từ: Sự kết hợp của ẩn dụ và nhân hóa trong câu văn đã làm nổi bật vai trò to lớn của hậu phương, của nhân dân đối với người lính và cuộc kháng chiến. Nó khẳng định sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh bắt nguồn từ tình yêu quê hương đất nước, từ sự đùm bọc, sẻ chia giữa con người với con người, giữa nhân dân với quân đội. Qua đó, đoạn văn ca ngợi ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.
—
Câu 5 (1,0 điểm). Câu nói của Nết “Không bao giờ tao chịu khóc đâu Dư ạ, lúc xong việc ở đây rồi thì tao sẽ khóc” gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì về cách mỗi người đối diện với nghịch cảnh trong cuộc sống? (trình bày khoảng 10 dòng)
Câu nói của Nết, một cô gái trẻ đang sống trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, thể hiện một thái độ vô cùng đáng ngưỡng mộ khi đối diện với nghịch cảnh. Nó gợi cho tôi nhiều suy nghĩ sâu sắc.
Thứ nhất, đó là sự ưu tiên và xác định mục tiêu rõ ràng. Nết không chìm đắm trong nỗi đau cá nhân ngay lập tức. Cô ấy hiểu rằng còn có những “việc” cần làm, những người xung quanh đang cần sự giúp đỡ, và cả đại đội đang sống trong hoàn cảnh chung. Việc trì hoãn nỗi khóc cho thấy cô ấy biết đặt nhiệm vụ, trách nhiệm lên trên cảm xúc cá nhân nhất thời.
Thứ hai, đó là sức mạnh của ý chí và sự kiên cường. Dù có thể đã trải qua mất mát to lớn, thậm chí có người nói em “ở nhà đã chết vì bom Mỹ”, Nết vẫn “nghiến răng lại”. Điều này cho thấy ý chí mạnh mẽ, không để hoàn cảnh quật ngã. Sự lựa chọn không khóc lúc này là một hành động thể hiện sự bản lĩnh, không muốn yếu đuối trước mắt đồng đội.
Thứ ba, đó là niềm tin vào tương lai và sự giải thoát cảm xúc đúng lúc. Câu nói “lúc xong việc ở đây rồi thì tao sẽ khóc” cho thấy Nết không hề chối bỏ hay kìm nén cảm xúc mãi mãi. Cô ấy tin rằng sẽ có một thời điểm thích hợp để thể hiện nỗi buồn, để giải tỏa những uất nghẹn. Đó là một cách đối diện lành mạnh, không để cảm xúc tiêu cực tích tụ mà không có lối thoát.
Cuối cùng, thái độ này dạy chúng ta rằng, khi đối mặt với khó khăn, điều quan trọng là phải giữ vững tâm lý, xác định được việc cần làm, tìm thấy điểm tựa từ trách nhiệm và cộng đồng, và tin tưởng rằng sau những gian lao sẽ có những khoảnh khắc để ta được yếu lòng và chữa lành.
—
Các em thân mến, chúng ta vừa cùng nhau đi qua từng câu hỏi trong đề bài này. Hy vọng qua bài học hôm nay, các em không chỉ nắm vững kiến thức về văn bản mà còn cảm nhận sâu sắc hơn về tinh thần, ý chí và tình cảm của con người Việt Nam trong những năm tháng lịch sử hào hùng.
Hãy ôn tập thật kỹ và sẵn sàng cho những giờ học tiếp theo nhé!
C1.
– Có phần giới thiệu tóm tắt tác phẩm trước khi vào nội dung chính.
– Sử dụng dấu ngoặc vuông và dấu ba chấm […] để chỉ ra rằng đây chỉ là một phần của văn bản gốc.
C2.
– “Cái bếp bằng đất vắt nặn nên bởi bàn tay khéo léo, khói chỉ lan lờ mờ trong có như sương ban mai rồi lan dần, lửa thì đậu lại.”
– “Suốt những năm tháng chiến tranh, mảnh vườn, túp lều, những mái bếp nhỏ như thế đã giúp người lính ấm lòng.”
C3.
– Biện pháp tu từ: câu hỏi tu từ
– Tác dụng
+ Nhấn mạnh nỗi nhớ quê hương da diết của những người lính khi hành quân
+ Giúp làm nổi bật tâm trạng nhớ nhung, lưu luyến của con người trong chiến tranh.
C4.
– Biện pháp tu từ: so sánh và ẩn dụ
– Tác dụng
+ Tăng sức gợi hình và gợi cảm
+ Ý nghĩa sâu sắc của sự hy sinh, cống hiến, tình đồng chí, đồng bào trong chiến tranh.
C5.
Trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu chúng ta thấy được rằng câu nói của Nết “Không bao giờ tao chịu khóc đâu Dư ạ, lúc xong việc ở đây rồi thì tao sẽ khóc” thể hiện được tinh thần mạnh mẽ, kiên cường, dũng cảm của bản thân Nết. Trong cuộc sống, con người luôn phải đối diện với những nghịch cảnh, dù có khó khăn như thế nào cũng sẽ có cách vượt lên. Người như Nết là một người có kiên trì chịu đựng, kìm nén nỗi đau để tiếp tục công việc, chỉ cho phép mình bộc lộ cảm xúc khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Ý chí mạnh mẽ của con người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt cho thấy sự trưởng thành và trách nhiệm với bản thân. Khi đối diện với khó khăn, thay vì gục ngã, ta cần giữ vững tinh thần, tập trung vào mục tiêu. Qua đó, rút ra được những bài học quý báu giữ vững tinh thần, tập trung vào mục tiêu, và dành thời gian để đối diện với cảm xúc của mình một cách phù hợp.