Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
“ Mùa xuân của tôi – mùa xuân …
“ Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ
mộng…
(…) Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt
thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác.”
(Ngữ văn 7- tập 1)
Câu 1: Đoạn trích trên nằm trong văn bản nào? Tác giả là ai? Văn bản đó thuộc thể
loại gì? Nêu xuất xứ của văn bản?
Câu 2: Phần trích được viết theo phương thức biểu đạt chính nào? Câu nào thể
hiện rõ nhất tình cảm yêu mến của tác giả đối với mùa xuân Hà Nội?
Câu 3: Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng nổi bật ở trong phần trích
(chỉ rõ các từ, ngữ)? Cách sử dụng biện pháp tu từ đó có tác dụng gì?
Câu 4: Tác giả gọi “ mùa xuân Bắc Việt ’’, “ mùa xuân Hà Nội’’ là “ mùa xuân của
tôi ’’.Theo em, cách gọi như vậy có ý nghĩa gì ?
Câu 5: Em cảm nhận được những tình cảm gì trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng tác giả
khi mùa xuân đến ?
Câu 6: Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản chứa đoạn văn trên.
Trước tiên, cô mời các em đọc thật kỹ đoạn ngữ liệu sau:
“ Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ
mộng…
(…) Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt
thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác.”
Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào từng câu hỏi.
Câu 1: Đoạn trích trên nằm trong văn bản nào? Tác giả là ai? Văn bản đó thuộc thể loại gì? Nêu xuất xứ của văn bản?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần dựa vào phần giới thiệu chung về văn bản trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 7, tập 1.
* Đoạn trích trên nằm trong văn bản có tên là: “Mùa xuân của tôi”.
* Tác giả của văn bản là: Thanh Tịnh.
* Văn bản “Mùa xuân của tôi” thuộc thể loại: Tùy bút.
* Xuất xứ của văn bản: Văn bản được trích từ tập “Thơ văn Việt Nam 1930-1945”.
Câu 2: Phần trích được viết theo phương thức biểu đạt chính nào? Câu nào thể hiện rõ nhất tình cảm yêu mến của tác giả đối với mùa xuân Hà Nội?
Chúng ta hãy cùng phân tích đoạn trích. Các em thấy, tác giả đã miêu tả cảnh vật, âm thanh, không khí của mùa xuân, đồng thời bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ của mình.
* Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong phần trích này là: Biểu cảm. Bên cạnh đó còn có yếu tố miêu tả.
* Câu thể hiện rõ nhất tình cảm yêu mến của tác giả đối với mùa xuân Hà Nội là: “Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.”
Vì sao cô khẳng định như vậy? Các em hãy nhìn vào các từ ngữ cảm thán “Đẹp quá đi!”, lời gọi tha thiết “mùa xuân ơi” và các tính từ chỉ sự yêu thương, quý mến “thân yêu”, “thương mến”. Tất cả những yếu tố này đều cho thấy tình cảm nồng nàn mà tác giả dành cho mùa xuân Hà Nội.
Câu 3: Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng nổi bật ở trong phần trích (chỉ rõ các từ, ngữ)? Cách sử dụng biện pháp tu từ đó có tác dụng gì?
Qua cách miêu tả, chúng ta thấy tác giả đã dùng những hình ảnh, âm thanh rất sống động.
* Biện pháp tu từ nổi bật được tác giả sử dụng là: Liệt kê và so sánh.
* Liệt kê: Các em có thể thấy tác giả liệt kê rất nhiều hình ảnh, âm thanh đặc trưng của mùa xuân: “có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng”.
* So sánh: Chúng ta có hình ảnh so sánh “có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng“.
* Tác dụng của việc sử dụng các biện pháp tu từ này:
* Liệt kê: Giúp tái hiện một cách sinh động, đầy đủ và phong phú những nét đặc trưng nhất của mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân Hà Nội. Nó làm cho bức tranh mùa xuân hiện lên rõ nét, có chiều sâu và gợi nhiều liên tưởng cho người đọc.
* So sánh: Làm cho hình ảnh cô gái và câu hát trở nên cụ thể, gợi cảm và đẹp đẽ hơn trong mắt người đọc, sánh với cái đẹp của thơ ca.
Câu 4: Tác giả gọi “ mùa xuân Bắc Việt ’’, “ mùa xuân Hà Nội’’ là “ mùa xuân của tôi ’’.Theo em, cách gọi như vậy có ý nghĩa gì ?
Cách gọi “mùa xuân của tôi” cho “mùa xuân Bắc Việt”, “mùa xuân Hà Nội” không chỉ là một lời giới thiệu thông thường.
* Ý nghĩa của cách gọi này là:
Cách gọi này thể hiện một tình cảm gắn bó sâu sắc, thân thương và mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả với mùa xuân nơi chôn rau cắt rốn của mình. Nó cho thấy mùa xuân không chỉ là một mùa trong năm, mà còn là một phần ký ức, một phần tâm hồn của tác giả. Mùa xuân ấy đã hòa quyện vào cuộc đời, vào cảm xúc của ông, trở thành một cái gì đó rất riêng, rất quý giá.
Câu 5: Em cảm nhận được những tình cảm gì trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng tác giả khi mùa xuân đến ?
Khi đọc những dòng miêu tả về mùa xuân, chúng ta có thể cảm nhận được rất nhiều cung bậc cảm xúc của tác giả.
* Những tình cảm mạnh mẽ trỗi dậy trong lòng tác giả khi mùa xuân đến là:
* Niềm vui, sự háo hức: Tác giả vui mừng khi đón chào mùa xuân, cảm nhận được sự tươi mới, sức sống mà mùa xuân mang lại.
* Sự yêu mến, nâng niu: Tác giả dành tình cảm sâu nặng, yêu mến và nâng niu từng nét đẹp của mùa xuân, từ những điều giản dị nhất như cơn mưa, làn gió đến âm thanh, hình ảnh.
* Sự hoài niệm, gắn bó: Qua cách gọi “mùa xuân của tôi”, ta thấy tác giả có sự hoài niệm về quê hương, về những kỷ niệm gắn liền với mùa xuân. Có một sự gắn bó mật thiết giữa con người và cảnh vật thiên nhiên.
* Sự rung động tinh tế: Tác giả có một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, biết rung động trước vẻ đẹp tuy không ồn ào, rực rỡ nhưng lại man mác, dịu dàng của mùa xuân.
Câu 6: Khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản chứa đoạn văn trên.
Chúng ta sẽ khái quát những điểm chính về nội dung và nghệ thuật của toàn bộ văn bản, dựa trên đoạn trích mà chúng ta vừa phân tích.
* Giá trị nội dung:
Văn bản “Mùa xuân của tôi” đã khắc họa thành công bức tranh mùa xuân tươi đẹp, đặc trưng của miền Bắc Việt Nam, mà tiêu biểu là mùa xuân Hà Nội. Qua đó, tác giả bộc lộ tình yêu quê hương, đất nước, yêu thiên nhiên tha thiết và sâu sắc. Văn bản gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc lắng đọng, những rung cảm tinh tế về vẻ đẹp của mùa xuân và tình yêu con người dành cho mùa xuân ấy.
* Giá trị nghệ thuật:
* Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc: Tác giả sử dụng ngôn ngữ tinh tế, gợi cảm, kết hợp hài hòa giữa miêu tả và biểu cảm.
* Sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ: Như liệt kê, so sánh, nhân hóa (có thể thấy qua cách gọi tên mùa xuân), tạo nên sức biểu đạt mạnh mẽ, làm cho hình ảnh mùa xuân hiện lên sống động, cuốn hút.
* Cách miêu tả độc đáo: Tác giả không chỉ miêu tả vẻ đẹp rực rỡ mà còn cả những nét đẹp dịu dàng, man mác, tinh tế của mùa xuân, đặc biệt là sau Tết.
* Bố cục chặt chẽ, mạch lạc: Mở đầu bằng những nét chung, sau đó đi vào những chi tiết cụ thể, rồi khái quát lại tình cảm.
Các em thấy đó, qua một đoạn trích ngắn thôi mà chúng ta đã cảm nhận được biết bao điều hay, lẽ đẹp. Cô hy vọng qua bài học hôm nay, các em không chỉ nắm chắc kiến thức mà còn thêm yêu văn chương, yêu vẻ đẹp của quê hương mình.
Các em về nhà xem lại bài, ghi chép đầy đủ nhé. Buổi học của chúng ta đến đây là kết thúc. Hẹn gặp lại các em vào tiết học sau!
Câu 1:
– Trích trong văn bản: Mùa xuân của tôi
– Tác giả: Vũ Bằng
– Thể loại: Tùy bút
– Xuất xứ: Trích “Tháng giêng mơ về trăng non rét ngọt” trong tập tuỳ bút
“Thương nhớ mười hai”
Câu 2:
– Phần trích được viết theo phương thức biểu cảm
– Câu thể hiện rõ nhất tình cảm của tác giả: Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa
xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
Câu 3:
– Biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật: điệp ngữ; các từ, ngữ: mùa xuân, có,mùa xuân của Hà Nội, Bắc Việt
– Tác dụng: điệp ngữ vừa để nhấn mạnh ý, vừa tạo cho câu văn, đoạn văn
giàu âm điệu, giọng văn trở nên tha thiết, gợi cảm, thể hiện rõ tình cảm yêu
mến mùa xuân Hà Nội của tác giả.
Câu 4:
Tác giả muốn khẳng định “ mùa xuân Bắc Việt ’’, “ mùa xuân Hà Nội ’’ là
mùa xuân của riêng mình. Bởi trong hoàn cảnh xa quê đang ở miền Nam, nên nhà văn càng nhớ về mùa xuân quê hương da diết hơn
Câu 5:
Mùa xuân như có sức sống thần kì, khơi gợi tình cảm của tác giả. Đoạn văn đã thể hiện lòng yêu cuộc sống, sự nhạy cảm giao hòa trước thiên nhiên và tình yêu quê hương của nhà văn Vũ Bằng.
Câu 6:
– Nghệ thuật:
+ Mạch cảm xúc lôi cuốn, say mê.
+ Từ ngữ, câu văn linh hoạt, biểu cảm, giàu hình ảnh.
+ Hình ảnh so sánh, liên tưởng phong phú, giàu chất thơ.
– Nội dung:
+ Vẻ đẹp của mùa xuân miền Bắc và Hà Nội.
+ Nỗi nhớ thương da diết của tác giả với cảnh sắc quê hương.
+ Sự gắn bó máu thịt với quê hương, xứ sở – tình yêu đất nước.
2
– Phần trích được viết theo phương thức biểu cảm
– Câu thể hiện rõ nhất tình cảm của tác giả: Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa
xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
3
– Biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật: điệp ngữ; các từ, ngữ: mùa xuân, có,
mùa xuân của Hà Nội, Bắc Việt
– Tác dụng: điệp ngữ vừa để nhấn mạnh ý, vừa tạo cho câu văn, đoạn văn
giàu âm điệu, giọng văn trở nên tha thiết, gợi cảm, thể hiện rõ tình cảm yêu
mến mùa xuân Hà Nội của tác giả.
4
Tác giả muốn khẳng định “ mùa xuân Bắc Việt ’’, “ mùa xuân Hà Nội ’’ là
mùa xuân của riêng mình. Bởi trong hoàn cảnh xa quê đang ở miền Nam, nên
nhà văn càng nhớ về mùa xuân quê hương da diết hơn
5
Mùa xuân như có sức sống thần kì, khơi gợi tình cảm của tác giả. Đoạn văn
đã thể hiện lòng yêu cuộc sống, sự nhạy cảm giao hòa trước thiên nhiên và
tình yêu quê hương của nhà văn Vũ Bằng.
6
– Nghệ thuật:
+ Mạch cảm xúc lôi cuốn, say mê.
+ Từ ngữ, câu văn linh hoạt, biểu cảm, giàu hình ảnh.
+ Hình ảnh so sánh, liên tưởng phong phú, giàu chất thơ.
– Nội dung:
+ Vẻ đẹp của mùa xuân miền Bắc và Hà Nội.
+ Nỗi nhớ thương da diết của tác giả với cảnh sắc quê hương.
+ Sự gắn bó máu thịt với quê hương, xứ sở – tình yêu đất nước