Hai xe lăn nhỏ có khối lượng m1=300g,m2=200g chuyển động ngược chiều vào nhau tr…
Chào các em học sinh yêu quý!
Hôm nay, thầy trò chúng ta sẽ cùng nhau “mổ xẻ” một bài toán rất hay và thực tế về va chạm trong chương trình Vật lí lớp 10 nhé. Bài toán này sẽ giúp chúng ta ôn lại các kiến thức quan trọng về động lượng và động năng. Để giải quyết bài toán này một cách khoa học và dễ hiểu nhất, chúng ta sẽ đi theo từng bước một.
PHÂN TÍCH VÀ GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN
Bước 1: Tóm tắt đề bài và đổi đơn vị
Đây là bước đầu tiên và rất quan trọng để chúng ta nắm vững các đại lượng đã cho và chuẩn hóa đơn vị về hệ SI (kilogram, mét, giây) để tránh sai sót trong tính toán.
- Khối lượng xe thứ nhất: \(m_1 = 300 \, \text{g} = 0.3 \, \text{kg}\)
- Khối lượng xe thứ hai: \(m_2 = 200 \, \text{g} = 0.2 \, \text{kg}\)
- Tốc độ ban đầu của xe thứ nhất: \(v_1 = 0.2 \, \text{m/s}\)
- Tốc độ ban đầu của xe thứ hai: \(v_2 = 0.8 \, \text{m/s}\)
- Sau va chạm: hai xe dính vào nhau và chuyển động cùng vận tốc \(V\).
- Yêu cầu: Tìm phần trăm năng lượng bị tiêu hao của hệ trong quá trình va chạm (\(\% \text{tiêu hao}\)).
Bước 2: Chọn chiều dương và xác định vận tốc ban đầu
Khi có các vật chuyển động ngược chiều, việc chọn chiều dương là cực kỳ quan trọng để xác định đúng dấu của các vector vận tốc trong các công thức liên quan đến động lượng.
- Chúng ta sẽ chọn chiều dương là chiều chuyển động ban đầu của xe thứ nhất.
- Khi đó, vận tốc ban đầu của xe thứ nhất là: \(v_1 = +0.2 \, \text{m/s}\).
- Vì xe thứ hai chuyển động ngược chiều với xe thứ nhất, vận tốc ban đầu của xe thứ hai sẽ có giá trị âm: \(v_2 = -0.8 \, \text{m/s}\).
Bước 3: Áp dụng định luật bảo toàn động lượng để tìm vận tốc sau va chạm
Giải thích: Định luật bảo toàn động lượng là một trong những định luật cơ bản nhất của vật lí, phát biểu rằng tổng động lượng của một hệ cô lập (hệ không chịu tác dụng của ngoại lực hoặc tổng hợp các ngoại lực bằng 0) được bảo toàn. Trong các va chạm, đặc biệt là va chạm trên mặt phẳng ngang như bài này (lực ma sát có thể bỏ qua hoặc rất nhỏ, trọng lực và phản lực cân bằng nhau), nội lực tương tác giữa các vật rất lớn so với ngoại lực, nên ta coi hệ là cô lập theo phương chuyển động và động lượng được bảo toàn.
Công thức tổng quát:
\[\vec{p}_{trước} = \vec{p}_{sau}\]
Hay theo phương chuyển động:
\[m_1 v_1 + m_2 v_2 = (m_1 + m_2)V\]
Trong đó \(V\) là vận tốc của hệ sau va chạm (vì hai xe dính vào nhau).
Thay các giá trị vào công thức:
\[(0.3 \, \text{kg}) \times (0.2 \, \text{m/s}) + (0.2 \, \text{kg}) \times (-0.8 \, \text{m/s}) = (0.3 \, \text{kg} + 0.2 \, \text{kg}) \times V\]
\[0.06 – 0.16 = 0.5V\]
\[-0.1 = 0.5V\]
Suy ra vận tốc \(V\):
\[V = \frac{-0.1}{0.5} = -0.2 \, \text{m/s}\]
Giải thích kết quả: Dấu âm của \(V\) cho thấy sau va chạm, cả hai xe dính vào nhau và cùng chuyển động theo chiều ngược lại với chiều dương chúng ta đã chọn ban đầu (tức là theo chiều ban đầu của xe 2).
Bước 4: Tính tổng động năng của hệ trước va chạm
Giải thích: Động năng là năng lượng mà một vật có được do chuyển động, được tính bằng công thức \(K = \frac{1}{2}mv^2\). Động năng là một đại lượng vô hướng và luôn không âm (\(v^2\) luôn dương hoặc bằng 0). Tổng động năng của hệ là tổng động năng của từng vật trong hệ.
Tổng động năng trước va chạm là:
\[K_{trước} = \frac{1}{2}m_1 v_1^2 + \frac{1}{2}m_2 v_2^2\]
Thay các giá trị vào công thức (lưu ý, trong công thức động năng \(v^2\), dấu âm của vận tốc sẽ bị bình phương thành dương, nên chúng ta có thể dùng tốc độ hoặc vận tốc có dấu đều được):
\[K_{trước} = \frac{1}{2}(0.3 \, \text{kg})(0.2 \, \text{m/s})^2 + \frac{1}{2}(0.2 \, \text{kg})(-0.8 \, \text{m/s})^2\]
\[K_{trước} = \frac{1}{2}(0.3)(0.04) + \frac{1}{2}(0.2)(0.64)\]
\[K_{trước} = 0.006 + 0.064\]
\[K_{trước} = 0.07 \, \text{J}\]
Bước 5: Tính tổng động năng của hệ sau va chạm
Giải thích: Sau va chạm, hai xe dính vào nhau, coi như trở thành một vật duy nhất có khối lượng tổng cộng là \(M = m_1 + m_2\) và chuyển động với vận tốc chung \(V\) mà chúng ta đã tính ở Bước 3.
Tổng động năng sau va chạm là:
\[K_{sau} = \frac{1}{2}(m_1 + m_2)V^2\]
Thay các giá trị vào công thức:
\[K_{sau} = \frac{1}{2}(0.3 \, \text{kg} + 0.2 \, \text{kg})(-0.2 \, \text{m/s})^2\]
\[K_{sau} = \frac{1}{2}(0.5)(0.04)\]
\[K_{sau} = 0.01 \, \text{J}\]
Bước 6: Tính phần trăm năng lượng bị tiêu hao
Giải thích: Trong va chạm mềm (hay va chạm không đàn hồi hoàn toàn), một phần động năng ban đầu của hệ sẽ bị biến đổi thành các dạng năng lượng khác như nhiệt năng (do ma sát và biến dạng), âm thanh, năng lượng làm biến dạng vật chất… Do đó, động năng của hệ *không* được bảo toàn, mà luôn có sự tiêu hao. Để tính phần trăm năng lượng tiêu hao, chúng ta sẽ lấy phần năng lượng bị mất chia cho tổng năng lượng ban đầu rồi nhân với 100%.
Năng lượng bị tiêu hao (\(\Delta K\)) là hiệu giữa động năng trước và sau va chạm:
\[\Delta K = K_{trước} – K_{sau}\]
\[\Delta K = 0.07 \, \text{J} – 0.01 \, \text{J} = 0.06 \, \text{J}\]
Phần trăm năng lượng bị tiêu hao được tính bằng công thức:
\[\% \text{tiêu hao} = \frac{\Delta K}{K_{trước}} \times 100\%\]
\[\% \text{tiêu hao} = \frac{0.06 \, \text{J}}{0.07 \, \text{J}} \times 100\%\]
\[\% \text{tiêu hao} \approx 0.8571 \times 100\%\]
\[\% \text{tiêu hao} \approx 85.71\%\]
KẾT LUẬN
Vậy là chúng ta đã tìm ra được phần trăm năng lượng bị tiêu hao của hệ hai xe trong quá trình va chạm là khoảng 85.71%. Điều này cho thấy va chạm này là một va chạm “mềm” điển hình, nơi phần lớn động năng ban đầu đã được chuyển hóa sang các dạng năng lượng khác.
Hy vọng qua bài giải chi tiết từng bước này, các em đã hiểu rõ cách áp dụng các định luật bảo toàn động lượng và động năng để giải quyết các bài toán về va chạm. Hãy nhớ rằng, việc hiểu rõ bản chất vật lí và cẩn thận trong từng bước tính toán sẽ giúp các em chinh phục mọi bài tập nhé!
Đáp án:
\(85,7%\)
Giải thích các bước giải:
\(m_1 = 300(g) = 0,3 (kg)\)
\(m_2 = 200 (g) = 0,2 (kg)\)
\(v_1 = 0,2 (m/s)\)
\(v_2 = 0,8 (m/s)\)
Chọn chiều dương cùng chiều chuyển động ban đầu của \(m_2\).
Gọi vận tốc của hai vật sau khi va chạm là \(v (m/s)\).
Bảo toàn động lượng:
\(m_1 vecv_1 + m_2 vecv_2 = (m_1 + m_2) vecv\)
\(=> – m_1 v_1 + m_2 v_2 = (m_1 + m_2) v\)
\(=> v = [m_2 v_2 – m_1 v_1]/[m_1 + m_2] = [0,2.0,8 – 0,3.0,2]/[0,3 + 0,2] = 0,2\)\((m/s)\)
\(to\) Hai vật chuyển động theo chiều dương với tốc độ \(0,2 m/s\).
Động năng của hệ trước và sau khi va chạm là:
\(W_[đ t] = 1/2 m_1 v_1^2 + 1/2 m_2 v_2^2 \)
\(= 1/2 .0,3.0,2^2 + 1/2 .0,2.0,8^2 = 0,07 (J)\)
\(W_[đ s] = 1/2 (m_1 + m_2) v^2\)
\(= 1/2 . (0,3 + 0,2).0,2^2 = 0,01 (J)\)
Phần trăm năng lượng bị tiêu hao là:
\(H = [W_[đ t] – W_[đs]]/W_[đt] = [0,07 – 0,01]/[0,07] ≈ 0,857 = 85,7%\)