Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

ĐỀ BÀIPhần I: Đọc hiểu (4đ) Đọc văn bản: CON SÁO BIẾT NÓI(…

ĐỀ BÀIPhần I: Đọc hiểu (4đ) Đọc văn bản: CON SÁO BIẾT NÓI(…

ĐỀ BÀI

Phần I: Đọc hiểu (4đ)

Đọc văn bản: CON SÁO BIẾT NÓI

(Thái Sinh)

Năm học lớp hai, mẹ dẫn tôi về quê ngoại ăn giỗ. Cậu Tung cho tôi con sáo mới mọc lông măng. Chiều chiều tôi xách lồng sáo theo lũ trẻ chăn trầu ra đồng bắt cào cào. Tôi làm theo lời cậu, tập cho chim ăn mặn để chim quen không bỏ đi. Chả mấy chốc con chim đã mọc đủ lông đủ cánh. Khi nó biết hót, cậu tôi bảo: “Phải cắt một ít lưỡi thì mới dạy nó nói được”. Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Vì sao lại như thế?” Cậu tối đáp: “Không biết, nghe người ta bảo vậy”. Tôi làm theo lời cậu, mỗi ngày bỏ ra vài giờ dạy sáo nói. Mỗi lần nó nói được một câu tôi lại thưởng cho nó một miếng chuối hay một con cào cào béo mẫm. Con sáo khá thông minh, nó nói được cả những câu dài. Chả mấy chốc tiếng đồn về con sáo biết nói của tôi lan khắp làng trên xóm dưới. Không ít người đã đi hàng chục cây số để tới xem. Có người trên thành phố trả bố tôi hai chỉ vàng nhưng bố tôi không bán, “Nuôi nó cho vui cửa vui nhà…”. Thỉnh thoảng nó vẫn theo tôi ra đồng, lũ trẻ chúng tôi cởi trần đánh trận giả, còn nó thì nhảy lên lưng các con trầu bắt rận. chiều ấy tôi để ý thấy đàn chim sáo từ đầu bay tới, chúng đậu trên lưng các con trâu hoặc nhảy lên các bờ ruộng tìm bắt cào cào, châu chấu. Chúng ríu rít bay từ ruộng nọ sang ruộng Ida, con sáo của tôi cứ nghênh nghếch cái đầu nhìn đàn chim với sự lạ lẫm và cố đơn. Tôi chìa tay vẫy nó:

– Sáo ơi, lại đầy…

Nó bay đậu lên vai tồi, nhưng vẫn nghển cổ nhìn đàn chim đang ríu rít trên đổng. Tôi vuốt bộ lông đen mượt của nó vỗ về:

– Đừng buồn nữa, chiều nay ta sẽ cho ăn chuối…

Nó dường như không nghe thấy tiếng nói của tôi, đôi mắt đen huyền vẫn đăm đăm nhìn theo đàn chim. Và tiếng gọi đồng loại đã mạnh hơn tôi, nó xòe cánh bay về phía đàn sáo đẩu vẫn nghênh nghênh như chẳng hiểu gì. Đàn sáo thi nhau hót. Dường như không chịu nổi, con sáo của tôi cũng vươn cổ: “Nhà có khách… nhà có khách…”. Tiếng của nó làm đàn chim sững sờ, chúng nhớn nhác nhìn ra xung quanh. Con sáo của tôi lại tiếp tục: “Xin chào ông bà… xin chào đại ca…”. Lẩn này tiếng của nó làm đàn chim hốt hoảng bay tóa lên, con sáo của tôi nhìn theo đàn chim ngơ ngác. Trong phút chốc nó cũng vụt bay theo, vừa bay vừa cất lên những câu tôi dạy, càng làm cho đàn chim hốt hoảng bay nhanh hơn. Tôi vừa chạy theo nó vừa gọi, dường như nó chẳng nghe thấy tiếng tôi, cứ bay theo đàn chim. Thế là mất, tôi ngồi xuống bờ ruộng thẫn thờ nhìn đàn chim lẫn vào đám mầy màu cỏ úa cuối chần trời. Tôi đánh trâu trở về nhà. Biết tin này, mẹ tôi xuýt xoa:

– Biết thế, hồi ấy bố mày bán quách cho người ta lấy hai chỉ vàng có hơn không!

Bố tôi thì bảo:

– Thế là giải phóng nó khỏi sự tù hãm và khỏi phải nói những lời nhạt hoét của con người…

Tôi buồn vì mất một người bạn thần thiết.

Ngờ đâu ba ngày sau con sáo bay trở về, với tấm thân tả tơi. Rất có thể đổng loại không chấp nhận nó, một kẻ lạc loài. Mẹ tôi bảo: “Chắc cu cậu khống quen ăn nhạt”. Bố tôi lại chép miệng: “Thật tội nghiệp…”.

Tôi nhốt con sáo vào lồng. Con sáo trở nên trái tính trái nết, nó không chịu học thêm những cầu mới, suốt ngày chỉ nhại đi nhại lại những câu tôi đã dạy. Ba tháng sau con sáo chết vi rách họng. Mẹ tôi chép miệng thở dài. Bố tôi bảo: “Thế cũng là cách tự giải phóng…”. Tôi thì tiếc ngẩn ngơ, vì từ nay tôi mất một người bạn. chị tôi năm ấy đang học lớp sáu đã ghi vào sổ tay: “Tuổi của một con sáo biết nói tiếng người là hai mươi mốt tháng năm ngày”. Tôi chôn con sáo ở gốc me ngoài cổng, đêm đêm tôi vẫn nghe tiếng nó cất lên cô đơn trong gió lạnh.

(In trong 100 truyện hay cực ngắn, NXB Văn nghệ TP.HCM, 1999)

Câu 1. Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh nào?

Câu 2. Trong câu văn: Mẹ tôi bảo: “Chắc cu cậu không quen ăn nhạt”; dấu hai chấm (:) và dấu ngoặc kép (“ ”) có tác dụng gì?

Câu 3. Tình huống con sáo bay theo đàn chim và không trở về có ý nghĩa gì đối với câu chuyện?

Cầu 4. Chủ đề chính của truyện là gì?

Câu 5. Nếu em là nhân vật “tôi”, em sẽ làm gì khi con sáo bay theo đàn chim và không trở về?

Phần II: Viết

Câu 1 (2đ). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của tình huống con sáo bay theo đàn chim trong câu chuyện “Con sáo biết nói” của Thái Sinh.

Câu 2 (4đ). Trong bài phóng sự: “Bệnh vô cảm len lỏi trong giới trẻ thời đại số” trên Thời báo VTV) số ra ngày 19/11/2022 có viết: “Vô cảm còn bị ví như căn bệnh “ung thư tâm hồn”; khiến sự tử tế; sự nhân văn cạn kiệt.”

Viết bài văn nghị luận trình bày ý kiến của em về bệnh vô cảm trong giới trẻ hiện nay và đề xuất giải pháp khắc phục.

Giúp với mình cần gấp lắm rồi ah !!!

Hỏi bởi: Nguyễn Khánh
2 câu trả lời

▲ 7
Chào các em học sinh thân mến! Hôm nay, cô sẽ cùng các em đi sâu vào việc phân tích và giải quyết đề thi Ngữ văn với văn bản “Con sáo biết nói” của Thái Sinh, cùng với một bài nghị luận xã hội về bệnh vô cảm. Đây là một đề bài khá hay, đòi hỏi các em vận dụng linh hoạt kiến thức đọc hiểu, khả năng viết đoạn văn và nghị luận xã hội. Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu từng câu hỏi một nhé!

***

PHẦN I: ĐỌC HIỂU (4đ)

Văn bản: CON SÁO BIẾT NÓI

(Thái Sinh)

Câu 1. Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh nào?

Bước 1: Đọc kĩ toàn bộ văn bản để nắm bắt nội dung cốt lõi và các thông tin về thời gian, không gian, nhân vật.

Bước 2: Xác định các yếu tố tạo nên bối cảnh:

  • Thời gian: “Năm học lớp hai” của nhân vật “tôi”. Câu chuyện kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định (từ khi con sáo mới mọc lông măng, biết nói, đến khi bay đi, quay về và chết sau ba tháng).
  • Không gian: “Quê ngoại” của nhân vật “tôi”, nơi có “đồng ruộng”, “bờ ruộng”, “gốc me ngoài cổng”. Đây là một không gian làng quê yên bình, gắn liền với hình ảnh chăn trâu, bắt cào cào.
  • Nhân vật chính: Nhân vật “tôi” (người kể chuyện), con sáo, cùng với các nhân vật phụ như mẹ, bố, cậu Tung, lũ trẻ chăn trâu, chị tôi.

Bước 3: Tổng hợp các yếu tố trên để đưa ra câu trả lời hoàn chỉnh.

Lời giải chi tiết:

Câu chuyện “Con sáo biết nói” diễn ra trong bối cảnh một vùng quê yên bình, nơi nhân vật “tôi” (khi còn học lớp hai) được về chơi quê ngoại. Không gian chính của câu chuyện là làng quê với những hình ảnh quen thuộc như đồng ruộng, bờ ruộng, và cuộc sống gắn liền với việc chăn trâu, bắt cào cào. Câu chuyện kể về quá trình nhân vật “tôi” nuôi dưỡng, huấn luyện và những trải nghiệm, cảm xúc của mình với chú sáo biết nói.

Câu 2. Trong câu văn: Mẹ tôi bảo: “Chắc cu cậu không quen ăn nhạt”; dấu hai chấm (:) và dấu ngoặc kép (“ ”) có tác dụng gì?

Bước 1: Xác định vị trí và ngữ cảnh của dấu hai chấm và dấu ngoặc kép trong câu văn.

Bước 2: Nhớ lại kiến thức về công dụng của dấu hai chấm và dấu ngoặc kép.

  • Dấu hai chấm (:): Thường được dùng để báo hiệu phần giải thích, liệt kê, thuyết minh cho phần trước; hoặc báo hiệu lời nói trực tiếp của nhân vật.
  • Dấu ngoặc kép (“ ”): Thường được dùng để đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật; đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo, tạp chí được dẫn; hoặc đánh dấu từ ngữ được dùng với ý nghĩa đặc biệt (ví dụ: mỉa mai, nhấn mạnh).

Bước 3: Áp dụng kiến thức vào câu văn cụ thể.

Lời giải chi tiết:

Trong câu văn: “Mẹ tôi bảo: “Chắc cu cậu không quen ăn nhạt””:

  • Dấu hai chấm (:) có tác dụng báo hiệu, dẫn lời nói trực tiếp của nhân vật (lời của mẹ tôi).
  • Dấu ngoặc kép (“ ”) có tác dụng đánh dấu, bao lại lời nói trực tiếp của nhân vật (lời của mẹ tôi).

Câu 3. Tình huống con sáo bay theo đàn chim và không trở về có ý nghĩa gì đối với câu chuyện?

Bước 1: Xác định đây là một tình huống quan trọng, một bước ngoặt trong câu chuyện.

Bước 2: Phân tích những hệ quả và tác động của tình huống này đối với các nhân vật và mạch truyện.

  • Đối với con sáo: Bộc lộ bản năng tự do, khao khát tìm về đồng loại, muốn thoát khỏi cuộc sống thuần hóa. Đồng thời cũng là khởi đầu cho bi kịch của nó (không được đồng loại chấp nhận).
  • Đối với nhân vật “tôi”: Gây ra sự hụt hẫng, buồn bã, tiếc nuối và là một bài học sâu sắc.
  • Đối với bố mẹ: Bộc lộ những quan điểm khác nhau về việc nuôi chim.
  • Đối với ý nghĩa của câu chuyện: Khẳng định giá trị của sự tự do, bản năng tự nhiên và phê phán sự can thiệp của con người vào tự nhiên.

Bước 3: Tổng hợp và trình bày các ý nghĩa một cách mạch lạc.

Lời giải chi tiết:

Tình huống con sáo bay theo đàn chim và không trở về là một tình tiết then chốt, mang ý nghĩa sâu sắc đối với câu chuyện:

  • Thể hiện bản năng và khao khát tự do: Dù đã được con người thuần hóa, dạy nói, nhưng khi đứng trước tiếng gọi của đồng loại, bản năng hoang dã và khao khát tự do mãnh liệt của con sáo vẫn trỗi dậy. Nó quyết định rời bỏ cuộc sống trong lồng, tìm về với thế giới tự nhiên của mình.
  • Mở ra bi kịch của con sáo: Việc bay theo đàn chim nhưng lại bị đồng loại xa lánh (vì nó “cất lên những câu tôi dạy” làm đàn chim hốt hoảng) cho thấy sự lạc loài, không thuộc về cả hai thế giới (không còn là chim hoang dã thuần túy, nhưng cũng không thể hòa nhập hoàn toàn với con người). Điều này dẫn đến sự trở về “tả tơi” và cái chết sau đó của nó.
  • Là bài học cho nhân vật “tôi” và người đọc: Tình huống này giúp nhân vật “tôi” nhận ra rằng việc giam cầm và huấn luyện loài vật theo ý muốn con người, dù với tình yêu thương, đôi khi cũng là sự tước đoạt tự do và bản ngã của chúng. Nó đặt ra vấn đề về sự tôn trọng thế giới tự nhiên và quyền được sống đúng với bản chất của mỗi loài.
  • Làm rõ chủ đề của truyện: Tình huống này góp phần làm nổi bật chủ đề về sự xung đột giữa bản năng tự do của loài vật và sự thuần hóa của con người, đồng thời ca ngợi giá trị của sự sống tự nhiên.

Câu 4. Chủ đề chính của truyện là gì?

Bước 1: Đọc kĩ lại câu chuyện và tổng hợp các sự kiện, hành động của nhân vật, đặc biệt là thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm.

Bước 2: Dựa vào ý nghĩa của các chi tiết, đặc biệt là tình huống quan trọng (con sáo bay đi và trở về), và lời nói của các nhân vật (như lời bố: “Thế là giải phóng nó khỏi sự tù hãm và khỏi phải nói những lời nhạt hoét của con người…”), để rút ra tư tưởng chủ đạo.

Bước 3: Phát biểu chủ đề một cách ngắn gọn, súc tích.

Lời giải chi tiết:

Chủ đề chính của truyện “Con sáo biết nói” là ca ngợi giá trị của sự tự do và bản năng tự nhiên của loài vật, đồng thời đặt ra vấn đề về sự tôn trọng thế giới tự nhiên. Câu chuyện cho thấy sự mâu thuẫn giữa khao khát tự do, được sống đúng với bản chất của loài vật và mong muốn thuần hóa, sở hữu của con người, qua đó thể hiện thông điệp về sự giải phóng và quyền được lựa chọn cuộc sống của mỗi sinh linh.

Câu 5. Nếu em là nhân vật “tôi”, em sẽ làm gì khi con sáo bay theo đàn chim và không trở về?

Bước 1: Đặt mình vào vị trí của nhân vật “tôi” và suy nghĩ về cảm xúc của mình (buồn, tiếc nuối).
Bước 2: Dựa trên bài học mà câu chuyện mang lại, suy nghĩ về những hành động có thể làm để thể hiện sự trưởng thành và rút kinh nghiệm.
Bước 3: Đề xuất các hành động cụ thể và giải thích lí do.

Lời giải chi tiết:

Nếu em là nhân vật “tôi” khi con sáo bay theo đàn chim và không trở về, ban đầu em cũng sẽ vô cùng buồn bã và tiếc nuối, bởi đó là một người bạn thân thiết. Em sẽ chạy theo gọi nó như nhân vật “tôi” đã làm, nhưng có lẽ cũng sẽ bất lực nhìn nó hòa vào đàn chim.

Sau đó, em sẽ cố gắng chấp nhận sự thật và hiểu rằng con sáo đã chọn con đường tự do, chọn trở về với bản năng của mình. Em sẽ không còn giam cầm bất kì con chim nào trong lồng nữa, bởi em đã nhận ra rằng tự do là điều quý giá nhất đối với mọi sinh linh. Em sẽ học cách yêu thương và quan sát các loài vật trong tự nhiên theo một cách khác, tôn trọng cuộc sống tự nhiên của chúng, không cố gắng biến chúng thành “người bạn biết nói” theo ý mình nữa. Có thể em sẽ dành thời gian tìm hiểu thêm về thế giới của loài sáo để hiểu chúng hơn, và chấp nhận rằng mỗi loài có một bản ngã riêng, không thể gượng ép.

***

PHẦN II: VIẾT

Câu 1 (2đ). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của tình huống con sáo bay theo đàn chim trong câu chuyện “Con sáo biết nói” của Thái Sinh.

Dàn ý chi tiết:

1. Mở đoạn: Giới thiệu tình huống con sáo bay theo đàn chim và khẳng định đây là một chi tiết then chốt, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc trong tác phẩm “Con sáo biết nói” của Thái Sinh.

2. Thân đoạn: Phân tích các ý nghĩa cụ thể:

  • Ý nghĩa về bản năng tự do: Tình huống này bộc lộ mạnh mẽ bản năng nguyên thủy, khao khát tự do mãnh liệt của loài vật. Dù đã được con người thuần hóa, dạy nói, nhưng trước tiếng gọi của đồng loại, con sáo không thể cưỡng lại được sự thôi thúc trở về với nguồn cội, với cuộc sống tự nhiên vốn có của nó. Đây là sự đấu tranh giữa bản năng và sự thuần hóa, và bản năng đã chiến thắng.
  • Ý nghĩa về giới hạn của sự can thiệp con người: Tình huống này cho thấy sự thất bại của con người trong việc cố gắng kiểm soát, biến hóa hoàn toàn thế giới tự nhiên theo ý mình. Dù con người có yêu thương, chăm sóc đến mấy, cũng không thể thay thế được môi trường sống tự nhiên và mối liên kết với đồng loại.
  • Ý nghĩa mở ra bi kịch: Việc con sáo bay đi không chỉ là sự giải thoát mà còn mở ra bi kịch của sự lạc loài. Nó không được đồng loại chấp nhận vì “những câu nói tôi dạy”, đồng thời cũng không thể trở lại cuộc sống cũ một cách trọn vẹn. Điều này báo hiệu một kết cục buồn cho con sáo.
  • Ý nghĩa bài học: Từ tình huống này, người đọc và nhân vật “tôi” nhận ra bài học sâu sắc về sự tôn trọng quyền tự do, tôn trọng bản chất của mỗi sinh linh, không nên cố gắng ép buộc chúng phải sống theo ý muốn của mình.

3. Kết đoạn: Khẳng định lại giá trị nghệ thuật và ý nghĩa nhân văn sâu sắc của tình huống, góp phần làm nên giá trị của tác phẩm.

Bài viết tham khảo:

Tình huống con sáo bay theo đàn chim và không trở về là một chi tiết đắt giá, mang ý nghĩa sâu sắc trong câu chuyện “Con sáo biết nói” của Thái Sinh. Đầu tiên, đây là biểu hiện rõ nét nhất cho khát vọng tự do và bản năng nguyên thủy không thể lay chuyển của loài vật. Dù đã được con người thuần hóa, chăm sóc kĩ lưỡng và học được tiếng người, nhưng khi tiếng gọi của đồng loại vang lên, con sáo vẫn không thể cưỡng lại được bản năng tìm về với thế giới tự nhiên của nó. Hành động này như một lời khẳng định mạnh mẽ rằng tự do là giá trị tối cao, là bản chất không thể tước đoạt của mỗi sinh linh.

Thứ hai, tình huống này còn phản ánh giới hạn của sự can thiệp từ phía con người vào thế giới tự nhiên. Dù nhân vật “tôi” nuôi sáo bằng tất cả tình yêu thương, nhưng việc giam cầm và ép nó học nói là hành động đi ngược lại bản chất của loài vật. Sự ra đi của con sáo là một bài học đắt giá, cho thấy con người không thể hoàn toàn kiểm soát và thay đổi bản chất tự nhiên. Tuy nhiên, hành động này cũng đồng thời mở ra bi kịch cho chính con sáo: nó bị lạc loài, không thuộc về cả hai thế giới. Đồng loại xa lánh vì tiếng người, còn cuộc sống trong lồng thì đã bỏ lại phía sau. Từ đó, tình huống này gửi gắm thông điệp nhân văn về sự tôn trọng quyền được sống tự do và đúng với bản chất của mọi loài vật, một bài học mà mỗi chúng ta cần suy ngẫm.

Câu 2 (4đ). Trong bài phóng sự: “Bệnh vô cảm len lỏi trong giới trẻ thời đại số” trên Thời báo VTV) số ra ngày 19/11/2022 có viết: “Vô cảm còn bị ví như căn bệnh “ung thư tâm hồn”; khiến sự tử tế; sự nhân văn cạn kiệt.”

Viết bài văn nghị luận trình bày ý kiến của em về bệnh vô cảm trong giới trẻ hiện nay và đề xuất giải pháp khắc phục.

Dàn ý chi tiết:

A. Mở bài:

  • Dẫn dắt vào vấn đề: Nêu lên thực trạng đáng lo ngại về bệnh vô cảm trong xã hội hiện đại, đặc biệt là trong giới trẻ.
  • Trích dẫn nhận định từ đề bài: “Vô cảm còn bị ví như căn bệnh ‘ung thư tâm hồn’; khiến sự tử tế; sự nhân văn cạn kiệt.”
  • Nêu ý kiến chung của bản thân và khẳng định sự cần thiết phải nhìn nhận, đánh giá và tìm cách khắc phục căn bệnh này.

B. Thân bài:

1. Giải thích:

  • Vô cảm là gì? (Là sự thiếu quan tâm, thờ ơ, lạnh nhạt, không có cảm xúc hoặc không thể hiện cảm xúc trước những sự việc, tình huống xung quanh, đặc biệt là trước nỗi đau, khó khăn của người khác).
  • “Ung thư tâm hồn”: Ví von về tính chất nguy hiểm, ăn mòn, hủy hoại những giá trị tốt đẹp trong tâm hồn con người và xã hội.

2. Biểu hiện của bệnh vô cảm trong giới trẻ:

  • Trong cuộc sống đời thường: Thấy người gặp nạn không giúp đỡ, bàng quan trước cái xấu, cái ác; lạnh nhạt với người thân, bạn bè; không quan tâm đến các vấn đề xã hội, môi trường.
  • Trên không gian mạng: Thờ ơ trước các tin tức cần sự chung tay giúp đỡ; chỉ trích, miệt thị người khác mà không có sự đồng cảm; chia sẻ thông tin tiêu cực, sai lệch gây hoang mang dư luận.
  • Trong học tập, lao động: Thiếu trách nhiệm, ngại khó, ngại khổ; thiếu động lực cống hiến, chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân.

3. Nguyên nhân:

  • Chủ quan:
    • Lối sống ích kỉ, chỉ quan tâm đến bản thân, thiếu rèn luyện đạo đức, tình cảm.
    • Thiếu trải nghiệm thực tế, ít tiếp xúc với hoàn cảnh khó khăn.
    • Sự lười biếng về cảm xúc, không muốn đối mặt với những vấn đề phức tạp.
  • Khách quan:
    • Áp lực cuộc sống, học tập: Khiến giới trẻ tập trung quá nhiều vào bản thân mà quên đi xung quanh.
    • Tác động tiêu cực của mạng xã hội, công nghệ: Đẩy con người vào thế giới ảo, khiến họ ít tương tác trực tiếp, dễ thờ ơ, vô cảm hơn trước những vấn đề thực tế; tiếp xúc quá nhiều thông tin tiêu cực dẫn đến “chai sạn” cảm xúc.
    • Môi trường gia đình, giáo dục: Sự thiếu quan tâm, giáo dục về lòng nhân ái, sự sẻ chia từ gia đình và nhà trường; sự thiếu gương mẫu từ người lớn.
    • Ảnh hưởng của lối sống thực dụng: Đề cao vật chất, xem nhẹ các giá trị tinh thần.

4. Hậu quả:

  • Đối với cá nhân: Tâm hồn khô khan, lạnh lẽo, sống khép kín, cô đơn; mất đi niềm vui, ý nghĩa cuộc sống; dễ bị tổn thương về tâm lý.
  • Đối với xã hội: Làm xói mòn các giá trị đạo đức, tình người, sự tử tế; mất đi sự gắn kết cộng đồng; gia tăng tệ nạn xã hội; cản trở sự phát triển văn minh, bền vững của đất nước. “Sự tử tế, sự nhân văn cạn kiệt” như nhận định đã nêu.

5. Giải pháp khắc phục:

  • Cá nhân giới trẻ:
    • Chủ động rèn luyện lòng nhân ái, sự đồng cảm thông qua việc quan tâm, chia sẻ với mọi người xung quanh.
    • Tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, xã hội, trải nghiệm thực tế để mở rộng tấm lòng.
    • Hạn chế tác động tiêu cực của mạng xã hội, biết chọn lọc thông tin.
  • Gia đình:
    • Là cái nôi nuôi dưỡng tình cảm, dạy con cái về lòng yêu thương, sẻ chia; làm gương trong hành động.
    • Tạo môi trường ấm áp, có sự giao tiếp và quan tâm lẫn nhau.
  • Nhà trường:
    • Tăng cường giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, lòng trắc ẩn cho học sinh, sinh viên.
    • Tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, tình nguyện, các buổi nói chuyện chuyên đề về lòng nhân ái.
  • Xã hội:
    • Tuyên truyền, cổ vũ những hành động đẹp, nhân văn; lên án mạnh mẽ các hành vi vô cảm.
    • Xây dựng môi trường sống nhân ái, công bằng, văn minh.
    • Kiểm soát thông tin độc hại trên mạng xã hội.

C. Kết bài:

  • Khẳng định lại sự nguy hiểm của bệnh vô cảm và tầm quan trọng của việc đẩy lùi nó.
  • Lời kêu gọi: Mỗi người cần chung tay hành động để xây dựng một xã hội tràn đầy tình yêu thương, lòng nhân ái, nơi mà sự tử tế và nhân văn luôn được trân trọng và lan tỏa.

Bài viết tham khảo:

Trong bối cảnh xã hội hiện đại với sự bùng nổ của công nghệ số, bên cạnh những mặt tích cực, chúng ta đang phải đối mặt với một vấn nạn đáng báo động: bệnh vô cảm. Bài phóng sự “Bệnh vô cảm len lỏi trong giới trẻ thời đại số” trên Thời báo VTV đã thẳng thắn nhận định: “Vô cảm còn bị ví như căn bệnh ‘ung thư tâm hồn’; khiến sự tử tế; sự nhân văn cạn kiệt.” Quả thực, vô cảm không chỉ là sự thờ ơ trước nỗi đau của người khác mà còn là sự xói mòn những giá trị đạo đức cốt lõi, là rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững của cộng đồng. Vì vậy, việc nhận diện, phân tích và đề xuất giải pháp khắc phục căn bệnh này là vô cùng cấp thiết.

Vô cảm được hiểu là trạng thái thiếu sự quan tâm, đồng cảm, lạnh nhạt trước những vấn đề của người khác, của cộng đồng. Nó biểu hiện qua nhiều hình thái, đặc biệt rõ rệt ở một bộ phận giới trẻ hiện nay. Dễ thấy nhất là sự bàng quan trước những hành vi tiêu cực, cái xấu cái ác diễn ra ngay trước mắt, hay sự thờ ơ trước một người gặp nạn cần giúp đỡ. Trên không gian mạng, bệnh vô cảm càng có điều kiện phát tán mạnh mẽ hơn qua những bình luận vô tâm, thiếu trách nhiệm, thậm chí là miệt thị, bôi nhọ người khác mà không hề có sự sẻ chia, thấu hiểu. Những hành vi ấy dần làm chai sạn cảm xúc, khiến tâm hồn con người trở nên khô khan, lạnh lẽo.

Nguyên nhân dẫn đến căn bệnh “ung thư tâm hồn” này rất đa dạng. Về khách quan, áp lực học tập, công việc khiến nhiều bạn trẻ chỉ tập trung vào lợi ích cá nhân mà quên đi những giá trị cộng đồng. Sự phát triển quá nhanh của mạng xã hội, các thiết bị công nghệ cũng khiến con người đắm chìm trong thế giới ảo, ít tương tác trực tiếp với cuộc sống thực, dẫn đến giảm khả năng đồng cảm. Ngoài ra, môi trường giáo dục, gia đình đôi khi chưa chú trọng đúng mức việc bồi dưỡng lòng nhân ái, sự sẻ chia. Về chủ quan, không ít bạn trẻ sống quá ích kỉ, thiếu rèn luyện ý thức trách nhiệm và lòng trắc ẩn. Hệ lụy của vô cảm là khôn lường. Đối với cá nhân, nó khiến tâm hồn nghèo nàn, cuộc sống thiếu ý nghĩa. Đối với xã hội, vô cảm làm suy yếu các mối quan hệ, phá vỡ sự gắn kết cộng đồng, khiến cho “sự tử tế, sự nhân văn cạn kiệt” như lời nhận định. Một xã hội thiếu vắng lòng trắc ẩn, thiếu sự sẻ chia sẽ khó có thể phát triển vững bền và văn minh.

Để đẩy lùi căn bệnh vô cảm, cần có sự chung tay của toàn xã hội. Trước hết, mỗi cá nhân, đặc biệt là giới trẻ, cần tự ý thức rèn luyện lòng nhân ái, sự đồng cảm bằng cách tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, xã hội, trải nghiệm cuộc sống để thấu hiểu và sẻ chia. Gia đình cần là cái nôi nuôi dưỡng tình yêu thương, sự quan tâm giữa các thành viên, làm gương cho con cái. Nhà trường cần tăng cường giáo dục đạo đức, kĩ năng sống, tổ chức các hoạt động ngoại khóa ý nghĩa để bồi đắp tâm hồn cho học sinh. Xã hội cần đẩy mạnh tuyên truyền, cổ vũ những hành động đẹp, nhân văn, đồng thời lên án mạnh mẽ các biểu hiện của sự vô cảm. Bên cạnh đó, việc kiểm soát và định hướng thông tin trên không gian mạng cũng là điều cần thiết để giảm thiểu những tác động tiêu cực.

Tóm lại, bệnh vô cảm là một căn bệnh nguy hiểm đang gặm nhấm những giá trị tốt đẹp trong tâm hồn và xã hội. Đẩy lùi vô cảm không chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà là của tất cả chúng ta. Mỗi người hãy bắt đầu từ những hành động nhỏ nhất: một lời hỏi thăm, một cử chỉ giúp đỡ, một sự quan tâm chân thành. Chỉ khi lòng nhân ái được nuôi dưỡng và lan tỏa, chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội văn minh, nhân ái, nơi mà sự tử tế và tình người luôn hiện hữu và bền chặt.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 6

Phần I: Đọc hiểu :

Câu 1.

Câu chuyện diễn ra trong bối cảnh ở quê ngoại và trên cánh đồng nơi nhân vật “tôi” chăn trâu và chơi cùng con sáo.

Câu 2.

\(+\)Dấu hai chấm (:): Dùng để giới thiệu lời nói trực tiếp của mẹ nhân vật “tôi”.

\(+\)Dấu ngoặc kép (“ ”): Đánh dấu phần lời thoại trực tiếp của mẹ nhân vật “tôi”.

Câu 3.

Tình huống con sáo bay theo đàn chim và không trở về thể hiện khát vọng tự do và bản năng tự nhiên của nó. Điều này nhấn mạnh sự đối lập giữa cuộc sống gò bó trong lồng và sự tự do ngoài thiên nhiên, đồng thời làm nổi bật chủ đề về khát khao tự do và sự cô đơn khi bị tách biệt khỏi đồng loại.

Câu 4.

Chủ đề chính của truyện là khát vọng tự do của con sáo, nỗi cô đơn khi bị tách biệt khỏi cộng đồng, và bài học về sự tôn trọng bản chất tự nhiên của sinh vật.

Câu 5.

Nếu em là nhân vật “tôi”, em sẽ để con sáo sống tự do theo bản năng của nó, không cố giữ nó lại trong lồng, vì em hiểu rằng tự do là điều nó thực sự khao khát.

Phần II: Viết :

Câu 1:
Tình huống con sáo bay theo đàn chim trong truyện “Con sáo biết nói” của Thái Sinh mang ý nghĩa sâu sắc. Đó là biểu hiện của khát vọng tự do và bản năng tự nhiên của con sáo. Khi sống trong lồng, dù được yêu thương và chăm sóc, nhưng con sáo vẫn cảm thấy cô đơn và lạc lõng vì mất đi sự kết nối với đồng loại. Khát khao hòa nhập với bầy đàn đã thôi thúc nó bay theo đàn chim dẫu biết rằng mình khác biệt. Tuy nhiên, sự khác biệt đó lại khiến nó bị từ chối, trở thành kẻ lạc loài, không thể hòa nhập hoàn toàn. Qua tình huống này, tác giả muốn nhấn mạnh giá trị của tự do và sự thấu hiểu bản chất tự nhiên của sinh vật. Đồng thời, nó cũng gửi gắm thông điệp về hậu quả của việc ép buộc một cá thể phải sống trái với bản năng của mình, dẫn đến sự cô đơn và bi kịch.

Câu 2:

Nghị luận về bệnh vô cảm trong giới trẻ hiện nay.

   Trong xã hội hiện đại, bệnh vô cảm đang trở thành vấn đề đáng báo động, đặc biệt là trong giới trẻ. Vô cảm là trạng thái thờ ơ, thiếu sự đồng cảm và quan tâm đến những người xung quanh, dẫn đến sự lạnh nhạt trong các mối quan hệ xã hội.

   Hiện nay, bệnh vô cảm ở giới trẻ ngày càng gia tăng do ảnh hưởng của công nghệ số. Việc lạm dụng mạng xã hội khiến nhiều bạn trẻ sống trong thế giới ảo, thiếu tương tác thực tế và mất đi khả năng đồng cảm. Họ dần trở nên thờ ơ trước những nỗi đau và khó khăn của người khác, thậm chí tỏ ra dửng dưng trước những bất công trong xã hội. Điều này dẫn đến sự suy giảm về đạo đức và giá trị nhân văn.

Để khắc phục vấn đề này, trước tiên cần nâng cao nhận thức của giới trẻ về tầm quan trọng của lòng nhân ái và sự quan tâm đến cộng đồng. Gia đình và nhà trường nên giáo dục giá trị đạo đức, khuyến khích các hoạt động từ thiện và gắn kết xã hội. Đồng thời, bản thân mỗi người cần hạn chế thời gian sử dụng mạng xã hội, dành nhiều thời gian hơn cho giao tiếp trực tiếp và tham gia các hoạt động xã hội.

   Bệnh vô cảm nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội. Vì vậy, giới trẻ cần nhận thức rõ ràng về tác hại của nó và chủ động thay đổi thái độ sống, lan tỏa sự tử tế và lòng nhân ái để xây dựng một cộng đồng nhân văn và gắn kết hơn.

\(#heoocteeok\)

 

Trả lời bởi: buihuynhphuongngan

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo