HOA TÓC TIÊN
Thầy giáo dạy cấp một của tôi có một khoảnh vườn tí tẹo, chỉ độ và…
Thầy giáo dạy cấp một của tôi có một khoảnh vườn tí tẹo, chỉ độ vài mét vuông. Mọc um tùm với nhau là những thứ quen thuộc: xương xông, lá lốt, bạc hà, kinh giới. Có cả cây ớt lẫn cây hoa hồng lúc nào cũng bừng lên bông hoa rực rỡ. Đặc biệt là viền bốn xung quanh mảnh vườn có hàng tóc tiên, xanh và mềm quanh năm. Chắc là những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc nên thứ cỏ này mới có tên gọi như thế.
Mùa hè, tôi thường đến nhà thầy, đúng mùa hoa tóc tiên. Sáng sáng, hoa tóc tiên nở rộ như đua nhau khoe màu, biến đường viền xanh thành đường viền hồng cánh sen. Cầm một bông tóc tiên thường là năm cánh, mỏng như lụa, còn mát sương đêm, sẽ thấy mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương muốn ăn ngay.
Thầy thường sai tôi ra ngắt dăm bông cắm vào chiếc cốc thủy tinh trong suốt, có mưa cũng trong suốt, để lên bàn thầy. Cốc hoa tóc tiên trông mới tinh khiết làm sao, trong sạch làm sao, tưởng như tôi vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc, mà cũng tưởng như đó là nếp sống của thầy, tinh khiết, giản dị, trong sáng, trong sáng từ trong đến ngoài.
Bây giờ nhiều nơi trồng tóc tiên, hoa tóc tiên có ở nhiều nhà nhiều vườn, có cả hoa màu trắng, nhưng ít ai cắm hoa tóc tiên trong bình.
Riêng tôi, tôi nhớ cốc hoa tóc tiên trên bàn thầy giáo cách đây mấy chục năm ở một cái thôn hẻo lánh, hoa có màu cánh sen nhẹ, lá thì xanh biếc, còn hương thơm thì thoảng nhẹ và ngon lành như một thứ bánh. Thầy giáo tôi đã mất. Nhưng chắc ở trên trời, thầy vẫn có cốc hoa tóc tiên tinh khiết của mình
Theo Băng Sơn
Câu 1: (0,5 đ M1) Tác giả cho rằng tên gọi cây tóc tiên có nguồn gốc là do đâu?
A. Do cây xanh tốt quanh năm
B. Do những cô tiên không bao giờ già
C. Do những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc
D. Do thầy giáo chăm sóc tốt
Câu 2: (0,5 đ M1) Tác giả so sánh mùi thơm của hoa tóc tiên với gì?
A. Mùi thơm mát của sương đêm
B. Mùi thơm ngọt của phong bánh đậu Hải Dương
C. Mùi thơm của một loại bánh
D. Hương thơm thoảng nhẹ và ngon lành
Câu 3: (0,5 đ M1) Mảnh vườn của thầy giáo trồng những loại cây gì?
A. Xương xông, lá lốt, bạc hà, tóc tiên
B. Xương xông, lá lốt, bạc hà, kinh giới, ớt, tóc tiên
C. Lá lốt, bạc hà, kinh giới, ớt, tóc tiên
D. Xương xông, lá lốt, kinh giới, ớt, bạc hà
Câu 4: (0,5 đ M2) Ngắm cốc hoa tóc tiên tinh khiết, tác giả đã liên tưởng đến những điều gì?
A. Tưởng như vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc
B. Một thứ lụa mỏng manh và tóc những cô tiên
C. Tưởng như nếp sống của thầy
D. Liên tưởng đến buổi sáng và nếp sống của thầy giáo
Câu 5: (1 đ M2) Để miêu tả cốc hoa tóc tiên trên bàn của thầy giáo, tác giả đã quan sát bằng những giác quan nào?
.
Câu 6: (1đ M1). Dòng nào dưới đây là những đồ dùng cần thiết cho cuộc thám hiểm?
A. Quần áo bơi, la bàn, lều trại, điện thoại, dụng cụ thể thao.
B. Va li, cần câu, bật lửa, vũ khí, đồ ăn.
C. Dụng cụ thể thao, la bàn, lều trại, thiết bị an toàn
D. Quần áo, đồ ăn, nước uống, vũ khí, đèn pin, la bàn, lều trại.
Câu 7: (0.5đ M2): Trạng ngữ có trong câu: Sáng sáng, hoa tóc tiên nở rộ như đua nhau khoe màu, biến đường viền xanh thành đường viền hồng cánh sen là:
A. Trạng ngữ chỉ thời gian
B. Trạng ngữ chỉ nơi chốn
C. Trạng ngữ chỉ nguyên nhân
D. Trạng ngữ chỉ mục đích
Câu 8: (1đ M3). Câu: Cuộc đời tôi rất bình thường. Là kiểu câu:
A. Ai làm gì?
B. Ai là gì?
C. Ai thế nà?
D. Câu cảm.
Câu 9: (M4)(1 đ) Theo em, nội dung chính của bài văn là gì?
Câu 10: (M3)(0,5 đ) Chuyển câu kể sau thành câu cảm: Cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết.
B. Kiểm tra viết:
I. Chính tả:
Đường đi Sa Pa
Xe chúng tôi leo chênh vênh trên dốc cao của con đường xuyên tỉnh. Những đám mây trắng nhỏ sà xuống cửa kính ô tô tạo nên cảm giác bồng bềnh huyền ảo. Chúng tôi đang đi bên những thác trắng xóa tựa mây trời, những rừng cây âm âm, những bông hoa chuối rực lên như ngọn lửa. Tôi lim dim mắt ngắm mấy con ngựa đang ăn cỏ trong một vườn đào ven đường. Con đen huyền, con trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng, chùm đuôi cong lướt thướt liễu rủ.
Trích: Đường đi Sa Pa (TV4 – Tập II – trang 102)
II. Tập làm văn:
Em hãy tả một loài cây mà em yêu thích.
Bây giờ, chúng ta cùng nhau bắt đầu nhé!
A. Trắc nghiệm và tự luận ngắn
Câu 1: (0,5 đ M1) Tác giả cho rằng tên gọi cây tóc tiên có nguồn gốc là do đâu?
Bước 1: Đọc kỹ lại đoạn văn đầu tiên của bài “Hoa tóc tiên”.
Trong đoạn văn có câu: “Chắc là những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc nên thứ cỏ này mới có tên gọi như thế.”
Bước 2: Phân tích câu văn để tìm ra lý do tên gọi.
Câu văn này trực tiếp giải thích lý do tác giả đưa ra cho tên gọi “tóc tiên”. Tác giả suy đoán rằng vì những “cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc”, nên cây cỏ mềm mại, xanh tốt quanh năm này mới được đặt tên như vậy.
Bước 3: Đối chiếu với các đáp án và chọn đáp án đúng nhất.
* A. Do cây xanh tốt quanh năm: Đây là một đặc điểm của cây, nhưng không phải là lý do chính mà tác giả suy đoán.
* B. Do những cô tiên không bao giờ già: Chưa đầy đủ ý so với suy đoán của tác giả.
* C. Do những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc: Đây là lý do được tác giả trực tiếp nêu ra.
* D. Do thầy giáo chăm sóc tốt: Đây là yếu tố giúp cây phát triển tốt, nhưng không liên quan đến tên gọi.
Đáp án đúng: C. Do những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc
Câu 2: (0,5 đ M1) Tác giả so sánh mùi thơm của hoa tóc tiên với gì?
Bước 1: Tìm trong bài đọc những câu văn miêu tả mùi thơm của hoa tóc tiên.
Đoạn thứ hai có câu: “Cầm một bông tóc tiên thường là năm cánh, mỏng như lụa, còn mát sương đêm, sẽ thấy mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương muốn ăn ngay.”
Bước 2: Xác định đối tượng so sánh trong câu văn.
Tác giả miêu tả mùi hương “ngọt ngào và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương”.
Bước 3: Đối chiếu với các đáp án và chọn đáp án đúng nhất.
* A. Mùi thơm mát của sương đêm: Sương đêm được miêu tả là “mát”, chứ không phải mùi thơm.
* B. Mùi thơm ngọt của phong bánh đậu Hải Dương: Đây là đối tượng so sánh trực tiếp được nêu ra.
* C. Mùi thơm của một loại bánh: Chưa cụ thể.
* D. Hương thơm thoảng nhẹ và ngon lành: Đây là cách miêu tả chung, không phải sự so sánh cụ thể.
Đáp án đúng: B. Mùi thơm ngọt của phong bánh đậu Hải Dương
Câu 3: (0,5 đ M1) Mảnh vườn của thầy giáo trồng những loại cây gì?
Bước 1: Đọc kỹ đoạn văn đầu tiên mô tả khu vườn của thầy giáo.
Đoạn văn có câu: “Mọc um tùm với nhau là những thứ quen thuộc: xương xông, lá lốt, bạc hà, kinh giới. Có cả cây ớt lẫn cây hoa hồng lúc nào cũng bừng lên bông hoa rực rỡ. Đặc biệt là viền bốn xung quanh mảnh vườn có hàng tóc tiên…”
Bước 2: Liệt kê tất cả các loại cây được nhắc đến trong đoạn văn.
Các loại cây được liệt kê là: xương xông, lá lốt, bạc hà, kinh giới, cây ớt, cây hoa hồng, cây tóc tiên.
Bước 3: Đối chiếu với các đáp án và chọn đáp án chứa đầy đủ và chính xác các loại cây.
* A. Xương xông, lá lốt, bạc hà, tóc tiên: Thiếu kinh giới, ớt, hoa hồng.
* B. Xương xông, lá lốt, bạc hà, kinh giới, ớt, tóc tiên: Thiếu hoa hồng. Tuy nhiên, nhìn lại các lựa chọn, đây là đáp án gần nhất và đầy đủ nhất các loại cây được nhắc đến một cách rõ ràng ở đầu đoạn văn, trước khi nói đến hoa hồng và tóc tiên ở những câu sau.
* C. Lá lốt, bạc hà, kinh giới, ớt, tóc tiên: Thiếu xương xông và hoa hồng.
* D. Xương xông, lá lốt, kinh giới, ớt, bạc hà: Thiếu tóc tiên và hoa hồng.
Lưu ý cho học sinh: Đôi khi, các đáp án trắc nghiệm có thể không hoàn hảo 100%. Chúng ta cần chọn đáp án nào chứa nhiều thông tin đúng nhất và ít sai sót nhất. Trong trường hợp này, đáp án B liệt kê hầu hết các cây quen thuộc được nhắc đến trước, chỉ thiếu hoa hồng. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ hơn, cây hoa hồng và cây tóc tiên cũng được nhắc đến là “có cả” hoặc “đặc biệt là viền”.
Xem lại câu văn: “Mọc um tùm với nhau là những thứ quen thuộc: xương xông, lá lốt, bạc hà, kinh giới. Có cả cây ớt lẫn cây hoa hồng lúc nào cũng bừng lên bông hoa rực rỡ. Đặc biệt là viền bốn xung quanh mảnh vườn có hàng tóc tiên…”
Nếu câu hỏi muốn hỏi tất cả các loại cây, thì không có đáp án nào hoàn hảo. Tuy nhiên, nếu tập trung vào các loại cây “mọc um tùm” và “quen thuộc”, thì B là gần nhất. Nhưng nếu xét cả các câu sau nữa, thì thiếu hoa hồng.
Chúng ta hãy giả định rằng câu hỏi muốn hỏi các loại cây được liệt kê liên tiếp và rõ ràng nhất. Trong trường hợp này, đáp án B có vẻ hợp lý nhất với các loại cây được liệt kê ở đầu. Tuy nhiên, để đảm bảo tính chính xác tuyệt đối, chúng ta cần xem lại đề bài hoặc hỏi giáo viên.
Trong bối cảnh bài tập, nếu các em chọn B, cô vẫn chấp nhận vì nó liệt kê được nhiều loại cây nhất trong danh sách “quen thuộc”. Nhưng nếu em nào tinh ý hơn, sẽ nhận ra sự thiếu sót. Để bài tập này hoàn thiện hơn, có lẽ đáp án nên bao gồm cả hoa hồng.
Tuy nhiên, dựa trên cách ra đề, chúng ta tập trung vào những gì được liệt kê rõ ràng và liên tiếp.
Đáp án đúng (tạm chấp nhận theo cách liệt kê đầu đoạn): B. Xương xông, lá lốt, bạc hà, kinh giới, ớt, tóc tiên (Nếu có hoa hồng thì sẽ hoàn hảo hơn)
Câu 4: (0,5 đ M2) Ngắm cốc hoa tóc tiên tinh khiết, tác giả đã liên tưởng đến những điều gì?
Bước 1: Đọc đoạn văn thứ ba, nơi miêu tả cốc hoa tóc tiên.
Đoạn văn có câu: “Cốc hoa tóc tiên trông mới tinh khiết làm sao, trong sạch làm sao, tưởng như tôi vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc, mà cũng tưởng như đó là nếp sống của thầy, tinh khiết, giản dị, trong sáng, trong sáng từ trong đến ngoài.”
Bước 2: Xác định những suy nghĩ, liên tưởng của tác giả khi ngắm cốc hoa.
Tác giả liên tưởng:
* “Tưởng như tôi vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc” (sự tận tâm, công sức).
* “Mà cũng tưởng như đó là nếp sống của thầy, tinh khiết, giản dị, trong sáng, trong sáng từ trong đến ngoài.” (phẩm chất của thầy giáo).
Bước 3: Đối chiếu với các đáp án và chọn đáp án thể hiện đầy đủ các liên tưởng.
* A. Tưởng như vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc: Chỉ là một phần của liên tưởng.
* B. Một thứ lụa mỏng manh và tóc những cô tiên: Đây là miêu tả cánh hoa, không phải liên tưởng khi ngắm cốc hoa.
* C. Tưởng như nếp sống của thầy: Chỉ là một phần của liên tưởng.
* D. Liên tưởng đến buổi sáng và nếp sống của thầy giáo: Đây là đáp án bao gồm cả hai khía cạnh tác giả đã liên tưởng.
Đáp án đúng: D. Liên tưởng đến buổi sáng và nếp sống của thầy giáo
Câu 5: (1 đ M2) Để miêu tả cốc hoa tóc tiên trên bàn của thầy giáo, tác giả đã quan sát bằng những giác quan nào?
Bước 1: Đọc kỹ đoạn văn thứ ba, tập trung vào cách miêu tả cốc hoa tóc tiên.
Đoạn văn có câu: “Cầm một bông tóc tiên thường là năm cánh, mỏng như lụa, còn mát sương đêm, sẽ thấy mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương muốn ăn ngay.” (Mô tả bông hoa)
Và: “Cầm một bông tóc tiên thường là năm cánh, mỏng như lụa, còn mát sương đêm, sẽ thấy mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương muốn ăn ngay.” (Miêu tả cảm giác khi cầm bông hoa)
“Cốc hoa tóc tiên trông mới tinh khiết làm sao, trong sạch làm sao…” (Miêu tả hình ảnh, thị giác).
Bước 2: Phân tích các từ ngữ miêu tả để xác định giác quan được sử dụng.
* “trông mới tinh khiết làm sao, trong sạch làm sao”: Dùng thị giác (nhìn thấy).
* “Cầm một bông tóc tiên… còn mát sương đêm”: Dùng xúc giác (cảm nhận sự mát lạnh khi chạm vào).
* “sẽ thấy mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm”: Dùng khứu giác (ngửi thấy mùi hương).
Bước 3: Tổng hợp các giác quan đã sử dụng.
Tác giả đã sử dụng thị giác, xúc giác và khứu giác.
Đáp án: Để miêu tả cốc hoa tóc tiên trên bàn của thầy giáo, tác giả đã quan sát bằng thị giác (nhìn thấy sự tinh khiết, trong sạch), xúc giác (cảm nhận sự mát lạnh của cánh hoa) và khứu giác (ngửi thấy mùi hương ngọt ngào, thơm thơm).
Câu 6: (1đ M1). Dòng nào dưới đây là những đồ dùng cần thiết cho cuộc thám hiểm?
Bước 1: Đọc kỹ yêu cầu của câu hỏi: “đồ dùng cần thiết cho cuộc thám hiểm”.
Thám hiểm thường đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho các tình huống có thể xảy ra ở nơi hoang dã, xa lạ.
Bước 2: Xem xét từng lựa chọn và loại bỏ những thứ không phù hợp hoặc không thiết yếu cho thám hiểm.
* A. Quần áo bơi, la bàn, lều trại, điện thoại, dụng cụ thể thao. (Quần áo bơi chỉ phù hợp cho môi trường nước, dụng cụ thể thao không phải thiết yếu cho mọi cuộc thám hiểm.)
* B. Va li, cần câu, bật lửa, vũ khí, đồ ăn. (Vali là đồ đựng thông thường, cần câu chỉ dùng cho câu cá, vũ khí có thể không cần thiết hoặc có thể thay thế bằng các công cụ sinh tồn khác.)
* C. Dụng cụ thể thao, la bàn, lều trại, thiết bị an toàn. (Dụng cụ thể thao không phải thiết yếu.)
* D. Quần áo, đồ ăn, nước uống, vũ khí, đèn pin, la bàn, lều trại. (Đây là danh sách đầy đủ các vật dụng thiết yếu cho một cuộc thám hiểm: quần áo phù hợp, lương thực, nước uống, đèn pin để chiếu sáng, la bàn để định hướng, lều trại để trú ngụ, và vũ khí (có thể hiểu là công cụ sinh tồn đa năng) để tự vệ hoặc hỗ trợ.)
Bước 3: Chọn đáp án chứa danh sách các đồ dùng cần thiết nhất.
Đáp án D bao gồm nhiều vật dụng thiết yếu nhất cho một cuộc thám hiểm.
Đáp án đúng: D. Quần áo, đồ ăn, nước uống, vũ khí, đèn pin, la bàn, lều trại.
Câu 7: (0.5đ M2): Trạng ngữ có trong câu: Sáng sáng, hoa tóc tiên nở rộ như đua nhau khoe màu, biến đường viền xanh thành đường viền hồng cánh sen là:
Bước 1: Xác định thành phần trạng ngữ trong câu.
Trạng ngữ thường đứng ở đầu câu hoặc giữa câu, bổ sung ý nghĩa về thời gian, nơi chốn, nguyên nhân, mục đích,… cho câu. Trong câu này, “Sáng sáng” là phần bổ sung ý nghĩa về thời gian.
Bước 2: Phân tích chức năng của trạng ngữ vừa tìm được.
“Sáng sáng” cho biết sự việc hoa tóc tiên nở rộ diễn ra vào thời điểm nào, đó là mỗi buổi sáng.
Bước 3: Đối chiếu với các loại trạng ngữ và chọn đáp án đúng.
* A. Trạng ngữ chỉ thời gian: Phù hợp với “Sáng sáng”.
* B. Trạng ngữ chỉ nơi chốn: Không phải.
* C. Trạng ngữ chỉ nguyên nhân: Không phải.
* D. Trạng ngữ chỉ mục đích: Không phải.
Đáp án đúng: A. Trạng ngữ chỉ thời gian
Câu 8: (1đ M3). Câu: Cuộc đời tôi rất bình thường. Là kiểu câu:
Bước 1: Quan sát cấu trúc của câu: “Cuộc đời tôi rất bình thường.”
Câu này có chủ ngữ là “Cuộc đời tôi” và vị ngữ là “rất bình thường”.
Bước 2: Nhận diện mối quan hệ giữa chủ ngữ và vị ngữ.
“Rất bình thường” là một tính từ, dùng để nhận xét, đánh giá, định tính về chủ ngữ “Cuộc đời tôi”. Nó không diễn tả hành động, hoạt động hay sự vật nào.
Bước 3: Đối chiếu với các kiểu câu đã học.
* A. Ai làm gì?: Dùng để chỉ hoạt động, hành động của sự vật. (Ví dụ: Mẹ đang nấu cơm.)
* B. Ai là gì?: Dùng để nhận xét, đánh giá, định tính về sự vật. (Ví dụ: Bạn Lan là học sinh giỏi.)
* C. Ai thế nào?: Dùng để miêu tả đặc điểm, trạng thái của sự vật. (Ví dụ: Bầu trời thật xanh.)
* D. Câu cảm: Câu dùng để bộc lộ cảm xúc. (Ví dụ: Ôi, đẹp quá!)
Câu “Cuộc đời tôi rất bình thường” dùng để nhận xét, đánh giá về chủ ngữ, nên nó thuộc kiểu câu “Ai là gì?” (với “là” được ngầm hiểu hoặc thay bằng các từ nhận xét tương đương). Hoặc có thể coi là “Ai thế nào?” nếu “rất bình thường” được xem là trạng thái. Tuy nhiên, trong chương trình lớp 4, kiểu câu “Ai là gì?” thường được dạy để nhận xét, định tính.
Xem lại sách giáo khoa, câu “Ai là gì?” thường có cấu trúc Chủ ngữ + là + Danh từ/Tính từ (để định danh hoặc nhận xét). Câu “Cuộc đời tôi rất bình thường” có chủ ngữ là “Cuộc đời tôi” và vị ngữ là tính từ “rất bình thường”. Kiểu câu này phù hợp nhất với cấu trúc “Ai thế nào?”.
Tuy nhiên, có trường hợp “Ai là gì?” có thể kết hợp với tính từ để nhận xét. Ví dụ: “Bạn ấy là người tốt bụng”. Ở đây, “bình thường” là tính từ nhận xét.
Cô sẽ chọn kiểu câu phổ biến nhất cho việc nhận xét, định tính.
Đáp án đúng: C. Ai thế nà? (Vì “bình thường” là tính từ miêu tả trạng thái, đặc điểm của “Cuộc đời tôi”.)
Câu 9: (M4)(1 đ) Theo em, nội dung chính của bài văn là gì?
Bước 1: Đọc lại toàn bộ bài văn, nắm được ý chính của từng đoạn.
* Đoạn 1: Giới thiệu khu vườn của thầy giáo và cây tóc tiên, lý do tên gọi.
* Đoạn 2: Miêu tả vẻ đẹp, mùi hương của hoa tóc tiên vào mùa hè.
* Đoạn 3: Kỷ niệm của tác giả khi được thầy sai cắm hoa tóc tiên, liên tưởng đến nếp sống của thầy.
* Đoạn 4: So sánh với hiện tại và khẳng định sự trân quý kỷ niệm xưa.
Bước 2: Tìm ra chủ đề bao trùm toàn bộ bài văn.
Bài văn không chỉ tả về cây hoa tóc tiên mà còn gợi về kỷ niệm đẹp với người thầy giáo cũ, qua hình ảnh “cốc hoa tóc tiên”. Đó là sự gắn kết giữa thiên nhiên, con người và những giá trị tốt đẹp.
Bước 3: Diễn đạt nội dung chính một cách ngắn gọn, súc tích.
Nội dung chính của bài văn là ca ngợi vẻ đẹp giản dị, tinh khiết của hoa tóc tiên và gợi nhớ những kỷ niệm đẹp đẽ, sâu sắc về người thầy giáo cũ qua hình ảnh “cốc hoa tóc tiên” trên bàn thầy. Bài văn còn thể hiện sự trân trọng những giá trị sống giản dị, trong sáng.
Đáp án: Nội dung chính của bài văn là ca ngợi vẻ đẹp giản dị, tinh khiết của hoa tóc tiên và những kỷ niệm đẹp đẽ, sâu sắc về người thầy giáo cũ, qua đó thể hiện sự trân trọng những giá trị sống tốt đẹp, trong sáng.
Câu 10: (M3)(0,5 đ) Chuyển câu kể sau thành câu cảm: Cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết.
Bước 1: Xác định câu kể cần chuyển đổi.
Câu kể là: “Cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết.”
Bước 2: Nhận diện cách chuyển câu kể thành câu cảm.
Để chuyển câu kể thành câu cảm, chúng ta thường thêm các từ ngữ cảm thán (như: Ôi, Sao, Thật là, Chao ôi…) vào đầu câu hoặc thêm các dấu chấm than (!) ở cuối câu. Chúng ta cũng có thể thay đổi cấu trúc câu một chút để nhấn mạnh cảm xúc.
Bước 3: Thực hiện chuyển đổi.
* Cách 1: Thêm từ cảm thán và dấu chấm than.
“Ôi, cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết làm sao!”
* Cách 2: Chỉ thêm dấu chấm than và thay đổi ngữ điệu (trong văn viết).
“Cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết!”
* Cách 3: Sử dụng cấu trúc “Thật là…”
“Thật là giản dị, tinh khiết biết bao cốc hoa tóc tiên của thầy!”
Cô sẽ chọn cách phổ biến và thể hiện rõ cảm xúc nhất.
Đáp án: Ôi, cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết làm sao!
B. Kiểm tra viết
I. Chính tả:
Hướng dẫn làm bài: Các con hãy lắng nghe cô đọc bài “Đường đi Sa Pa” và viết lại thật cẩn thận, chú ý các lỗi chính tả, dấu câu. Sau đó, các con hãy tự soát lỗi bài viết của mình nhé.
(Do đây là phần kiểm tra viết, cô sẽ không cung cấp bài làm sẵn mà hướng dẫn cách làm và yêu cầu học sinh tự thực hiện).
II. Tập làm văn:
Đề bài: Em hãy tả một loài cây mà em yêu thích.
Hướng dẫn làm bài:
Chào các con! Để tả một loài cây mà em yêu thích, chúng ta cần đi theo các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn cây để tả.
Các con hãy suy nghĩ xem mình thích loài cây nào nhất? Đó có thể là cây ăn quả ở nhà, cây xanh ngoài công viên, cây cảnh trên ban công, hay một loại cây nào đó mà con có kỷ niệm đặc biệt. Ví dụ: cây bàng, cây phượng, cây hoa hồng, cây xoài, cây dừa,…
Bước 2: Lập dàn ý chi tiết cho bài văn.
Một bài văn tả cây thường có 3 phần:
* Mở bài: Giới thiệu về cây em sẽ tả.
* Cách 1: Giới thiệu trực tiếp. Ví dụ: “Em rất thích cây phượng già trước sân trường.”
* Cách 2: Giới thiệu gián tiếp qua hoàn cảnh. Ví dụ: “Mỗi khi hè về, em lại nhớ đến cây bàng thân thuộc ở góc sân nhà ông em.”
* Thân bài: Tả chi tiết về cây. Các con cần quan sát và miêu tả lần lượt các bộ phận của cây.
* Cây có những bộ phận nào? Gốc, rễ (nếu nhìn thấy), thân, cành, lá, hoa, quả.
* Quan sát bằng giác quan nào?
* Thị giác: Màu sắc (xanh mướt, đỏ rực, vàng óng…), hình dáng (thân cao, to, cong queo…), kích thước (to, nhỏ, dài, ngắn…), các bộ phận (lá tròn, lá dài, hoa năm cánh, quả tròn…).
* Xúc giác: Cảm giác khi chạm vào thân cây (sần sùi, nhẵn nhụi, ấm, mát…).
* Khứu giác: Mùi hương của hoa (thơm dịu, thơm nồng…), mùi của lá, quả.
* Thính giác: Tiếng lá xào xạc khi có gió.
* Sự phát triển của cây theo mùa hoặc theo thời gian. (Ví dụ: cây thay lá vào mùa thu, cây ra hoa vào mùa xuân, cây có quả vào mùa hè…).
* Cây mang lại ích lợi gì? (Tạo bóng mát, cho quả ăn, làm đẹp cảnh quan, là nơi vui chơi…).
* Cây có ý nghĩa gì với em? (Kỷ niệm tuổi thơ, nơi em thường chơi đùa, biểu tượng cho điều gì đó…).
* Kết bài: Nêu cảm nghĩ của em về cây.
* Cách 1: Nêu cảm xúc, tình cảm của em. Ví dụ: “Em yêu cây xoài nhà em lắm!”
* Cách 2: Nêu mong ước, hy vọng. Ví dụ: “Em mong cây bàng sẽ mãi xanh tươi để che chở cho chúng em.”
Bước 3: Viết bài văn hoàn chỉnh.
Sau khi có dàn ý, các con hãy viết thành một bài văn có đầy đủ 3 phần, sử dụng các từ ngữ miêu tả sinh động, giàu hình ảnh để bài văn thêm hấp dẫn. Chú ý viết đúng chính tả, ngữ pháp và đặt dấu câu nhé!
Chúc các con hoàn thành thật tốt bài tập này! Cô tin vào khả năng của các con!
Câu 1: (0,5 đ M1) Tác giả cho rằng tên gọi cây tóc tiên có nguồn gốc là do đâu?
A. Do cây xanh tốt quanh năm
B. Do những cô tiên không bao giờ già
C. Do những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc
D. Do thầy giáo chăm sóc tốt
Câu 2: (0,5 đ M1) Tác giả so sánh mùi thơm của hoa tóc tiên với gì?
A. Mùi thơm mát của sương đêm
B. Mùi thơm ngọt của phong bánh đậu Hải Dương
C. Mùi thơm của một loại bánh
D. Hương thơm thoảng nhẹ và ngon lành
Câu 3: (0,5 đ M1) Mảnh vườn của thầy giáo trồng những loại cây gì?
A. Xương xông, lá lốt, bạc hà, tóc tiên
B. Xương xông, lá lốt, bạc hà, kinh giới, ớt, tóc tiên
C. Lá lốt, bạc hà, kinh giới, ớt, tóc tiên
D. Xương xông, lá lốt, kinh giới, ớt, bạc hà
Câu 4: (0,5 đ M2) Ngắm cốc hoa tóc tiên tinh khiết, tác giả đã liên tưởng đến những điều gì?
A. Tưởng như vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc
B. Một thứ lụa mỏng manh và tóc những cô tiên
C. Tưởng như nếp sống của thầy
D. Liên tưởng đến buổi sáng và nếp sống của thầy giáo
Câu 5: (1 đ M2) Để miêu tả cốc hoa tóc tiên trên bàn của thầy giáo, tác giả đã quan sát bằng những giác quan nào?
\(=>\) thị giác, khứu giác
Câu 6: (1đ M1). Dòng nào dưới đây là những đồ dùng cần thiết cho cuộc thám hiểm?
A. Quần áo bơi, la bàn, lều trại, điện thoại, dụng cụ thể thao.
B. Va li, cần câu, bật lửa, vũ khí, đồ ăn.
C. Dụng cụ thể thao, la bàn, lều trại, thiết bị an toàn
D. Quần áo, đồ ăn, nước uống, vũ khí, đèn pin, la bàn, lều trại.
Câu 7: (0.5đ M2): Trạng ngữ có trong câu: Sáng sáng, hoa tóc tiên nở rộ như đua nhau khoe màu, biến đường viền xanh thành đường viền hồng cánh sen là:
A. Trạng ngữ chỉ thời gian
B. Trạng ngữ chỉ nơi chốn
C. Trạng ngữ chỉ nguyên nhân
D. Trạng ngữ chỉ mục đích
Câu 8: (1đ M3). Câu: Cuộc đời tôi rất bình thường. Là kiểu câu:
A. Ai làm gì?
B. Ai là gì?
C. Ai thế nào?
D. Câu cảm.
Câu 9: (M4)(1 đ) Theo em, nội dung chính của bài văn là gì?
\(=>\) Tác giả ca ngợi vẻ đẹp tinh khiết của loài hoa tóc tiên và nếp sống trong
sáng, giản dị của thầy giáo cũ .
Câu 10: (M3)(0,5 đ) Chuyển câu kể sau thành câu cảm: Cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết.
\(=>\) Cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết thật
II. Tập làm văn: Em hãy tả một loài cây mà em yêu thích.
\(=>\)
Quê em ở là một vùng quê nghèo có rất nhiều cây nào là cây me cây mít cây ổi cây xoài… Nhưng không hiểu sao em lại thích cây đa đến thế . Có lẽ cây đã gắn liền với quê hương em. Nhìn từ xa cây to lớn đứng sừng sững giữa trời xanh Tiến lại gần em thấy rễ cây rất to trồi lên rồi lại trời lặn xuống giống như những chú rắn hổ mang khổng lồ giận giữ thân cây to sần sùi khổng lồ tòa lâu đài cổ kính chắc lẽ cây để sống hơn ngàn năm rồi thân cây xây to như cột đình tạo nên cành lá khổng lồ từng đàn chim kéo đến hót líu lo tạo nên khung cảnh nhộn nhịp. Từng cơn gió nhẹ thổi qua tạo nên những khung cảnh yên bình của làng quê . Đàn trâu hung hãn chạy về phía cây đa ăn cỏ ngốn nghiến. Sau những giờ làm việc mệt mỏi. Đàm trẻ mục đồng gọi nhau nhẹ nhàng chơi dưới gốc đa. Tất cả tạo nên khung cảnh yên bình của làng quê. Cây đa quê hương cây đa nghìn năm gắng liền với chúng em. Hai hai tiếng cây đa nghe sau nó mọc mạc chân quê nhưng nó đã gắng với tâm chí em. Cho dù có đi xa quê hương em vẫn nhớ về cây đa nhớ về quê nhà.
”Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người ”
1 ) C
2 ) B
3) B
4 ) D _
5 ) thị giác, khứu giác
6 ) D
7 ) A
8 ) C
9 ) Tác giả ca ngợi vẻ đẹp tinh khiết của loài hoa tóc tiên và nếp sống trong
sáng, giản dị của thầy giáo cũ .
10 ) Cốc hoa tóc tiên của thầy giản dị, tinh khiết thật