I. PHẦN ĐỌC- HIỂU:
Cho văn bản sau:
…
Cho văn bản sau:
Con đường
Tôi là một con đường, một con đường nhỏ thôi, nhưng cũng khá lớn tuổi rồi. Hàng ngày đi qua tôi là bao nhiêu con người với biết bao bước chân khác nhau. Tôi ôm ấp những bước chân ấy trong lòng đầy yêu mến!
Tôi có một thú vui, đó là mỗi buổi sáng thức dậy, nghe tiếng chân của các bác trong hội người cao tuổi, vừa đi bộ tập thể dục, vừa chuyện trò rôm rả, vui vẻ mà tình cảm biết bao. Lúc đó tôi thấy tâm hồn mình thư thái, dễ chịu, tôi khẽ vươn vai, lấy sức để chuẩn bị tinh thần giữ an toàn cho mọi người tới giờ đi học, đi làm. Vì đó là thời khắc căng thẳng nhất trong một ngày của tôi.
Mỗi buổi chiều về, tiếng người đi chợ gọi nhau, những bước chân vui đầy no ấm, đi qua tôi, cho tôi những cảm xúc thật ấm lòng.
Buổi tối, đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy, tôi say mê ngắm những thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có thiên thần nhỏ nào bị ngã. Những lúc đó tôi thấy mình trẻ lại vì những niềm vui. Tôi thấy tuổi già của mình vẫn còn có ích.
Còn bây giờ đêm đã về khuya. Các anh chị công nhân dọn dẹp, quét đi bụi bẩn, lá rụng và tôi trở nên sạch sẽ, thoáng mát. Tôi vươn vai ngáp dài. Chắc cũng phải ngủ một chút cho một ngày mới đầy vui vẻ sắp bắt đầu. Sáng mai, tôi sẽ lại được sống một ngày ngập tràn tình yêu và hạnh phúc!
Hà Thu
Câu 1. Nhân vật xưng “Tôi” trong bài là ai?
A. Một bác đi tập thể dục buổi sáng
B. Một con đường
C. Một cô công nhân quét dọn vệ sinh
Câu 2: Bài văn viết theo trình tự thời gian nào?
A. Từ sáng đến đêm khuya
B. Từ sáng đến tối
C. Từ sáng đến chiều
Câu 3: Khi nào con đường thấy mình như trẻ lại?
A. Nghe bước chân của các bác tập thể dục.
B. Có những bước chân vui đầy no ấm của người đi chợ.
C. Đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy.
Câu 4: Thời gian nào con đường thấy thư thái, dễ chịu?
A. Buổi sáng. B. Buổi chiều. C. Buổi tối
Câu 5: Trong đoạn cuối bài có mấy câu ghép?
A. 1 câu. B. 2 câu. C. 3 câu
Câu 6: Hai câu văn sau được liên kết với nhau bằng cách nào?
“Lúc đó tôi thấy tâm hồn mình thư thái, dễ chịu, tôi khẽ vươn vai, lấy sức để chuẩn bị tinh thần giữ an toàn cho mọi người tới giờ đi học, đi làm. Vì đó luôn là thời khắc căng thẳng nhất trong một ngày của tôi”.
A. Lặp từ ngữ
B. Thay thế từ ngữ.
C. Dùng từ ngữ nối .
D. Lặp từ ngữ và dùng từ ngữ nối.
Câu 7: Xác định các thành phần trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ trong câu:
Buổi tối, đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy, tôi say mê ngắm những
thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có
thiên thần nhỏ nào bị ngã.
Câu 8: Em hãy đặt một câu ghép trong đó có sử dụng cặp quan hệ từ chỉ mối quan hệ tương phản để liên kết các vế câu.
………………………………………………………………………………………………………………….
Câu 9: Em hãy đặt một câu với từ “chân” mang nghĩa chuyển.
………………………………………………………………………………………………………………..
Câu 10: Em hãy viết lại câu văn sau cho hay hơn bằng cách sử dụng từ ngữ gợi tả gợi cảm, các hình ảnh so sánh….
“ Đêm khuya, các anh chị công nhân dọn dẹp, quét rác.”
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….
—
PHẦN ĐỌC- HIỂU:
Trước hết, các em hãy đọc thật kỹ bài văn “Con đường” mà cô đã chuẩn bị. Sau khi đọc xong, chúng ta sẽ cùng nhau trả lời các câu hỏi.
Câu 1. Nhân vật xưng “Tôi” trong bài là ai?
A. Một bác đi tập thể dục buổi sáng
B. Một con đường
C. Một cô công nhân quét dọn vệ sinh
Lời giải:
Các em hãy chú ý vào những câu văn đầu tiên của bài: “Tôi là một con đường, một con đường nhỏ thôi, nhưng cũng khá lớn tuổi rồi.” Qua câu này, chúng ta có thể thấy rõ ràng nhân vật “Tôi” chính là một con đường.
Vậy đáp án đúng là B. Một con đường.
Câu 2: Bài văn viết theo trình tự thời gian nào?
A. Từ sáng đến đêm khuya
B. Từ sáng đến tối
C. Từ sáng đến chiều
Lời giải:
Chúng ta hãy lần lượt theo dõi các đoạn văn trong bài để xem trình tự thời gian được miêu tả:
– Đoạn 2: “mỗi buổi sáng thức dậy…” -> Thời gian buổi sáng.
– Đoạn 3: “Mỗi buổi chiều về…” -> Thời gian buổi chiều.
– Đoạn 4: “Buổi tối…” -> Thời gian buổi tối.
– Đoạn 5: “Còn bây giờ đêm đã về khuya.” -> Thời gian đêm khuya.
Như vậy, bài văn đã miêu tả trình tự thời gian từ sáng đến đêm khuya.
Vậy đáp án đúng là A. Từ sáng đến đêm khuya.
Câu 3: Khi nào con đường thấy mình như trẻ lại?
A. Nghe bước chân của các bác tập thể dục.
B. Có những bước chân vui đầy no ấm của người đi chợ.
C. Đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy.
Lời giải:
Chúng ta cùng xem lại đoạn văn miêu tả cảm xúc của con đường vào buổi tối: “Buổi tối, đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy, tôi say mê ngắm những thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có thiên thần nhỏ nào bị ngã. Những lúc đó tôi thấy mình trẻ lại vì những niềm vui.”
Vậy con đường thấy mình trẻ lại khi đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy.
Đáp án đúng là C. Đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy.
Câu 4: Thời gian nào con đường thấy thư thái, dễ chịu?
A. Buổi sáng. B. Buổi chiều. C. Buổi tối
Lời giải:
Hãy quay lại đoạn văn miêu tả buổi sáng: “Tôi có một thú vui, đó là mỗi buổi sáng thức dậy, nghe tiếng chân của các bác trong hội người cao tuổi, vừa đi bộ tập thể dục, vừa chuyện trò rôm rả, vui vẻ mà tình cảm biết bao. Lúc đó tôi thấy tâm hồn mình thư thái, dễ chịu…”
Vậy con đường thấy thư thái, dễ chịu vào buổi sáng.
Đáp án đúng là A. Buổi sáng.
Câu 5: Trong đoạn cuối bài có mấy câu ghép?
A. 1 câu. B. 2 câu. C. 3 câu
Lời giải:
Đoạn cuối bài là: “Còn bây giờ đêm đã về khuya. Các anh chị công nhân dọn dẹp, quét đi bụi bẩn, lá rụng và tôi trở nên sạch sẽ, thoáng mát. Tôi vươn vai ngáp dài. Chắc cũng phải ngủ một chút cho một ngày mới đầy vui vẻ sắp bắt đầu. Sáng mai, tôi sẽ lại được sống một ngày ngập tràn tình yêu và hạnh phúc!”
Câu “Các anh chị công nhân dọn dẹp, quét đi bụi bẩn, lá rụng và tôi trở nên sạch sẽ, thoáng mát.” là một câu ghép. Câu này có hai vế câu được nối với nhau bằng liên từ “và”. Vế thứ nhất: “Các anh chị công nhân dọn dẹp, quét đi bụi bẩn, lá rụng”. Vế thứ hai: “tôi trở nên sạch sẽ, thoáng mát”.
Vậy trong đoạn cuối bài có 1 câu ghép.
Đáp án đúng là A. 1 câu.
Câu 6: Hai câu văn sau được liên kết với nhau bằng cách nào?
“Lúc đó tôi thấy tâm hồn mình thư thái, dễ chịu, tôi khẽ vươn vai, lấy sức để chuẩn bị tinh thần giữ an toàn cho mọi người tới giờ đi học, đi làm. Vì đó luôn là thời khắc căng thẳng nhất trong một ngày của tôi”.
A. Lặp từ ngữ
B. Thay thế từ ngữ.
C. Dùng từ ngữ nối .
D. Lặp từ ngữ và dùng từ ngữ nối.
Lời giải:
Chúng ta phân tích hai câu văn này:
Câu thứ nhất kết thúc bằng “cho mọi người tới giờ đi học, đi làm.”
Câu thứ hai bắt đầu bằng “Vì đó luôn là thời khắc căng thẳng nhất trong một ngày của tôi”.
Từ “đó” ở câu thứ hai thay thế cho cụm từ “thời khắc giữ an toàn cho mọi người tới giờ đi học, đi làm” ở câu thứ nhất. Đây là cách liên kết bằng phép thế từ ngữ.
Ngoài ra, chúng ta thấy có liên từ “Vì” nối hai câu này, thể hiện mối quan hệ nguyên nhân – kết quả. Tuy nhiên, đề bài hỏi cách liên kết chính.
Nếu xem xét kỹ, từ “đó” là đại từ thay thế cho một cụm từ ở câu trước, đó là phép thế từ ngữ.
Còn nếu xét về dấu chấm câu và cách nối ý, ta thấy ý sau giải thích ý trước.
Trong các phương án đưa ra, chúng ta cần chọn cách liên kết hiệu quả nhất.
Câu “Vì đó luôn là thời khắc căng thẳng nhất trong một ngày của tôi” giải thích cho trạng thái “thư thái, dễ chịu” và hành động “lấy sức” ở câu trước. Mối quan hệ này là quan hệ nguyên nhân – kết quả, được thể hiện bằng từ nối “Vì”. Tuy nhiên, nếu chỉ xét “Vì”, thì phương án C là hợp lý.
Nhưng chúng ta cần xem xét cả “thay thế từ ngữ”. Từ “đó” trong câu thứ hai thay thế cho cụm từ chỉ thời gian và hành động ở câu thứ nhất.
Cô xin phép làm rõ hơn một chút về các phép liên kết trong chương trình lớp 5.
Phép liên kết bằng cách lặp từ ngữ: Lặp lại một từ hoặc cụm từ ở đầu câu đứng sau với từ hoặc cụm từ ở cuối câu đứng trước.
Phép liên kết bằng cách thay thế từ ngữ: Dùng đại từ (như nó, đó, ấy…) hoặc dùng từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa, bổ sung nghĩa… để thay thế cho từ ngữ đã dùng ở câu trước.
Phép liên kết bằng cách dùng từ ngữ nối: Dùng các từ hoặc cụm từ có tác dụng nối câu, nối đoạn (như và, nhưng, vì, cho nên, tuy nhiên, hơn nữa…).
Trong trường hợp này, câu “Vì đó luôn là thời khắc căng thẳng nhất trong một ngày của tôi” có hai yếu tố liên kết:
1. Từ “đó” là đại từ thay thế cho “thời khắc giữ an toàn cho mọi người tới giờ đi học, đi làm”. Đây là phép thế từ ngữ.
2. Từ “Vì” là từ nối thể hiện quan hệ nguyên nhân – kết quả. Đây là phép dùng từ ngữ nối.
Vậy, cách liên kết ở đây là kết hợp cả hai phép. Tuy nhiên, nếu phải chọn một phương án chính xác nhất theo cách hiểu thông thường của lớp 5, ta cần xem xét kỹ.
Chúng ta hãy xem lại câu hỏi. “Hai câu văn sau được liên kết với nhau bằng cách nào?”. Câu thứ hai giải thích nguyên nhân cho trạng thái của câu thứ nhất. Mối quan hệ nguyên nhân – kết quả được thể hiện rõ.
Và từ “đó” đã thay thế cho một phần nội dung của câu trước.
Nếu xem xét theo cấu trúc và ý nghĩa:
Câu 1: tâm hồn thư thái, dễ chịu, vươn vai, lấy sức để chuẩn bị tinh thần giữ an toàn.
Câu 2: vì đó là thời khắc căng thẳng nhất.
=> Cái “đó” là “thời khắc giữ an toàn cho mọi người tới giờ đi học, đi làm”.
Vậy có phép thế từ ngữ (“đó” thay thế).
Và có liên từ “Vì” thể hiện quan hệ nguyên nhân – kết quả.
Trong các đáp án, phương án D là “Lặp từ ngữ và dùng từ ngữ nối”. Phương án này không có “lặp từ ngữ”, chỉ có “thay thế từ ngữ” và “dùng từ ngữ nối”.
Cô nghĩ rằng có thể đề bài muốn nhấn mạnh vào việc giải thích nguyên nhân bằng liên từ “Vì”. Tuy nhiên, phép thế từ ngữ cũng tồn tại.
Giáo viên có thể ưu tiên cách liên kết nào rõ ràng nhất.
Nếu xét theo đáp án có sẵn, và thường trong các bài tập lựa chọn, sẽ có một đáp án bao quát nhất hoặc đúng nhất.
Phép thế từ ngữ và dùng từ ngữ nối là hai phép liên kết quan trọng.
Cô xin phép điều chỉnh lại cách hiểu về phương án D. Dường như nó gộp cả hai phép liên kết.
Trong hai câu đã cho:
– Từ “đó” thay thế cho cụm từ “thời khắc giữ an toàn cho mọi người tới giờ đi học, đi làm”. => Phép thế từ ngữ.
– Từ “Vì” nối hai câu, thể hiện quan hệ nguyên nhân – kết quả. => Phép dùng từ ngữ nối.
Vậy có cả hai cách liên kết. Tuy nhiên, không có phương án nào là “thay thế từ ngữ và dùng từ ngữ nối”.
Cô xin xem xét lại các phương án.
Nếu câu hỏi là “Yếu tố nào giúp liên kết hai câu?”, thì ta có thể nói đến cả “đó” và “Vì”.
Trong chương trình lớp 5, hai cách này được dạy song song.
Cô xin đưa ra cách suy luận khác:
Nếu chọn C. Dùng từ ngữ nối: Vì đó… => Từ “Vì” là từ nối. Vậy đáp án C là đúng.
Nếu chọn B. Thay thế từ ngữ: “đó” thay thế cho cụm từ trước => Đáp án B cũng có vẻ đúng.
Ta cần phân biệt cái nào là “chính” và cái nào là “phụ” hoặc xem xét cả hai.
Trong trường hợp này, mối quan hệ nguyên nhân – kết quả là rất rõ ràng, được thể hiện bằng “Vì”.
Và từ “đó” cũng có vai trò quan trọng trong việc làm cho câu văn mạch lạc.
Cô xin giả định rằng, đề bài có thể muốn nhấn mạnh vào việc sử dụng từ nối để tạo ra mối quan hệ ý nghĩa giữa các câu.
Trong chương trình, phép liên kết bằng từ nối (cặp từ nối) là một phần quan trọng.
Tuy nhiên, theo ngữ pháp, cả hai phép đều đang hoạt động.
Cô xin chọn phương án C vì từ “Vì” là một từ nối rất rõ ràng, thể hiện mối quan hệ nguyên nhân – kết quả, giúp câu văn liền mạch.
Và nếu đề bài có phương án D là “Thay thế từ ngữ và dùng từ ngữ nối” thì cô sẽ chọn D. Nhưng ở đây không có.
Cô xin phép quay lại với tư duy của học sinh lớp 5.
Học sinh sẽ nhìn thấy từ “Vì” và nhận ra đó là từ nối.
Học sinh có thể chưa nhận ra hoặc không coi trọng phép thế từ ngữ bằng đại từ “đó” bằng “Vì”.
Do đó, cô tạm thời chọn phương án C.
Nhưng cô cũng lưu ý, đây là một câu hỏi có thể gây tranh cãi về mặt ngữ pháp nếu không có phương án đầy đủ.
Cô sẽ suy nghĩ lại một chút.
Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, câu thứ hai bắt đầu bằng “Vì đó…”.
“Đó” là đại từ thay thế, nó chỉ “thời khắc giữ an toàn cho mọi người tới giờ đi học, đi làm”.
Và “Vì” nối hai câu, diễn tả quan hệ nguyên nhân – kết quả.
Vậy, phép liên kết là:
1. Thay thế từ ngữ (“đó”).
2. Dùng từ ngữ nối (“Vì”).
Vì không có phương án D là “Thay thế từ ngữ và dùng từ ngữ nối”, chúng ta phải chọn một.
Thông thường, khi có liên từ rõ ràng thể hiện quan hệ ý nghĩa, người ta sẽ coi đó là cách liên kết chính.
Cô xin chọn phương án C. Dùng từ ngữ nối vì từ “Vì” là một yếu tố liên kết rất rõ ràng và quan trọng trong việc thể hiện ý nghĩa của đoạn văn.
Câu 7: Xác định các thành phần trạng ngữ, chủ ngữ, vị ngữ trong câu:
Buổi tối, đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy, tôi say mê ngắm những thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có thiên thần nhỏ nào bị ngã.
Lời giải:
Chúng ta sẽ phân tích câu này từng phần. Đây là một câu ghép, có hai vế câu chính.
Vế 1: “Buổi tối, đám trẻ đùa nhau tung tăng chạy nhảy”
– Trạng ngữ: “Buổi tối” (chỉ thời gian)
– Chủ ngữ: “đám trẻ”
– Vị ngữ: “đùa nhau tung tăng chạy nhảy”
Vế 2: “tôi say mê ngắm những thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có thiên thần nhỏ nào bị ngã.”
– Chủ ngữ: “tôi”
– Vị ngữ: “say mê ngắm những thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có thiên thần nhỏ nào bị ngã.”
Tổng hợp lại cho cả câu:
– Trạng ngữ: “Buổi tối” (chỉ thời gian)
– Chủ ngữ: “đám trẻ”, “tôi”
– Vị ngữ: “đùa nhau tung tăng chạy nhảy”, “say mê ngắm những thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có thiên thần nhỏ nào bị ngã.”
Câu 8: Em hãy đặt một câu ghép trong đó có sử dụng cặp quan hệ từ chỉ mối quan hệ tương phản để liên kết các vế câu.
………………………………………………………………………………………………………………….
Lời giải:
Mối quan hệ tương phản là chỉ sự đối lập, trái ngược nhau giữa hai vế câu. Các cặp quan hệ từ thường dùng là: tuy…nhưng…, dù…nhưng…, mặc dù…nhưng…
Ví dụ:
Tuy trời mưa rất to, nhưng chúng em vẫn quyết định đi cắm trại.
Dù bạn Nam rất cố gắng, nhưng bạn vẫn chưa đạt được mục tiêu.
Mặc dù bài toán khó, nhưng em đã tìm ra cách giải.
Cô sẽ đặt một câu cho các em tham khảo:
Tuy trời đã khuya lắm rồi, nhưng em bé vẫn chưa ngủ.
Câu 9: Em hãy đặt một câu với từ “chân” mang nghĩa chuyển.
………………………………………………………………………………………………………………….
Lời giải:
Nghĩa chuyển của từ “chân” thường chỉ sự khởi đầu, phần dưới cùng, hoặc chỉ sự kiên trì, cố gắng…
Ví dụ:
– Nghĩa chuyển chỉ sự khởi đầu: “Chân núi” (phần dưới cùng của núi), “Chân cầu” (phần dưới cùng của cầu).
– Nghĩa chuyển chỉ sự kiên trì, cố gắng: “Kiên chân bám trụ”, “Gắng hết sức làm”.
Cô sẽ đặt một câu:
Bé Na kiên chân tập đi những bước đầu tiên.
Câu 10: Em hãy viết lại câu văn sau cho hay hơn bằng cách sử dụng từ ngữ gợi tả gợi cảm, các hình ảnh so sánh….
“Đêm khuya, các anh chị công nhân dọn dẹp, quét rác.”
………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Lời giải:
Để câu văn hay hơn, chúng ta cần thêm các từ ngữ miêu tả sinh động, có thể dùng so sánh, nhân hóa để làm nổi bật hình ảnh.
Chúng ta có thể miêu tả sự vất vả, sự sạch sẽ sau khi dọn dẹp.
Ví dụ:
– Gợi tả: “lặng lẽ”, “thầm lặng”, “gió đêm”, “ánh đèn vàng vọt”.
– Gợi cảm: “yên bình”, “sạch sẽ”, “trong lành”.
– So sánh: “như những chú ong cần mẫn”, “sạch tinh tươm như tấm áo mới”.
Cô sẽ viết lại câu văn như sau:
Trong màn đêm tĩnh mịch, các anh chị công nhân lao động thầm lặng như những bóng hình của sự sẻ chia, tỉ mỉ quét đi từng cọng rác, trả lại cho con đường sự sạch sẽ, thoáng mát để đón chào ngày mới.
—
Vậy là cô trò mình đã cùng nhau hoàn thành xong bài tập đọc hiểu này rồi. Các em thấy không, chỉ qua một bài văn ngắn thôi mà chúng ta đã học được rất nhiều điều bổ ích về cách đọc hiểu, về ngữ pháp và cả cách làm cho lời văn của mình thêm sinh động nữa. Các em hãy xem lại bài làm của mình, ghi nhớ những kiến thức đã học và áp dụng vào những bài tập sau nhé. Cô khen các em đã rất cố gắng! Hẹn gặp lại các em trong những tiết học tiếp theo!
Câu 1.A
Câu 2.A
Câu 3.C
Câu 4.A
Câu 5.A
Câu 6.D
Câu 7._Trạng ngữ: Buổi tối,
_Chủ ngữ: Tôi
_Vị ngữ: Say mê ngắm những thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có thiên thần nhỏ nào bị ngã.
Câu 8. Mặc dù Tùng nghèo nhưng bạn ấy là học sinh giỏi.
Câu 9. Đường chân trời rất xa.
Câu 10. Đêm khuya, các anh chị công nhân dọn dẹp, quét rác như những con kiến đang chăm chỉ hoàn thành công việc.
_____Chúc bạn học tốt!Cho mik xin câu trả lời hay nhất ạ!_____
1. B
2. A
3. C
4. A
5. A
6. D
7.
– Trạng ngữ: buổi tối
– Chủ ngữ một: đám trẻ
– Vị ngữ một: đùa nhau tung tăng chạy nhảy
– Chủ ngữ hai: tôi
– Vị ngữ hai: say mê ngắm những thiên thần bé nhỏ, và lắng nghe từng bước chân để kịp nâng đỡ mỗi khi có thiên thần nhỏ nào bị ngã.
8.
Tuy gia đình Hoa rất nghèo, nhưng bạn học rất giỏi.
\(->\) Cặp quan hệ từ Tuy … nhưng chỉ quan hệ tương phản
9.
Dưới chân đê, đám trẻ con đang vui đùa, những cụ ông, cụ bà ngồi hóng gió.
10.
Đêm khuya, khi chị gió đang tung tăng bay lượn, vạn vật ngủ say, các anh chị công nhân dọn dẹp, quét rác rất hăng hái.