Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

LẠI THƯ TRẢ LỜI PHƯƠNG CHÍNH (Phương Chính gửi thư cho ta, cho nên có thư đáp lạ…

LẠI THƯ TRẢ LỜI PHƯƠNG CHÍNH
(Phương Chính gửi thư cho ta, cho nên có thư đáp lạ…

LẠI THƯ TRẢ LỜI PHƯƠNG CHÍNH
(Phương Chính gửi thư cho ta, cho nên có thư đáp lại)
Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu. Chỉ nhân nghĩa có gồm đủ thì công việc mới xong xuôi. Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội(1), kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên. Nhân nghĩa mà lại thế ư? Nay ở nước mày, dân oán thần giận, kế tiếp đại tang(2), thế mà đã không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ(3), cam lòng xâm lược phương xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi. Ta e mối lo của họ Quý không phải ở nước Chuyên-du, mà ở trong tiêu tường(4) vậy.
(TríchQuân trung từ mệnh tập rút từ Nguyễn Trãi toàn tập, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976)
Chú thích:
(1) Điếu dân phạt tội nghĩa là thương dân sống khổ mà đánh kẻ có tội để cứu dân. Nhà Minh giả danh đánh kẻ thoán nghịch là họ Hộ (cha con Hồ Quý Ly), phù lập hộ Trần, mà đem quân sang chiếm nước ta
(2) Đại tang, theo tục là chỉ tang cha mẹ, nhưng lời chú ở sách Chu lễ thì đại tang là tang nhà vua, hoàng hậu và thế tử. Kế tiếp đại tang ở đây là nói tang vu Minh; tháng 8 năm 1424 Minh Thành-tổ chết, thái tử là Cao Xý lên nối ngôi tức vua Minh Nhân-tông; tháng 7 năm 1425 Minh Nhân-tông lại chết, thái tử là Chiêm Cơ lên nối ngôi tức vua Minh Tuyên-tông.
(3) Cùng binh độc vũ: sính dùng vũ lục, đánh nhau không thôi.
(4) Tiêu tường: tiêu là nghiêm kính, tường là cái bình phong xây ở bên trong cổng. Theo lễ xưa, vua tôi tiếp kiến nhau, đến chỗ bình phòng thì càng nghiêm kính, vì thế mới gọi là tiêu tường. Thường dùng tiêu tường chỉ bên trong. Sách Luận ngữ, Khổng tử có nói: Ngô khủng Quý tôn chi ưu, bất tại Chuyên- du, nhi tại tiêu tường chi nội dã (Ta e mối lo của họ Quý tôn không ở nước Chuyên-du, mà ở nơi tiêu tường vậy). Ý nói mối lo không ở bên ngoài mà lại ở bên trong.
Câu 1. Theo Nguyễn Trãi, cái gốc của việc lớn, công to là:
Câu 2. Hoàn cảnh nước ta lúc đó được nhắc đến trong văn bản trên:
Câu 3. Tội ác mà giặc Minh gây lên cho nhân dân ta:
Câu 4. Bọn giặc Minh đã phải chuốc những tổn hại gì khi xâm lược nước ta:
Câu 5. Nhân nghĩa trong quan niệm của Nguyễn Trãi:
Câu 6. Câu nào sau đây mô tả đúng nhất tội ác của giặc Minh:
Câu 7. Vị trí của câu hỏi tu từ: Nhân nghĩa mà lại thế ư?
Câu 8. Mục đích của Nguyễn Trãi khi đặt câu hỏi tu từ là gì?
Câu 9. Xác định hệ thống lí lẽ mà Nguyễn Trãi đưa ra để lập luận trong văn bản.
Câu 10. Nhận xét về nghệ thuật văn chính luận Nguyễn Trãi.
Hỏi bởi: Nga Kiều
2 câu trả lời

▲ 6
Chào các em học sinh lớp 10 thân mến!

Cô rất vui được đồng hành cùng các em trong tiết học Ngữ Văn hôm nay. Để giúp các em hiểu sâu hơn về áng văn chính luận kiệt xuất của Nguyễn Trãi – một danh nhân văn hóa thế giới, chúng ta sẽ cùng nhau giải bài tập về văn bản “Lại thư trả lời Phương Chính”. Đây là một văn bản rất hay, thể hiện rõ tư tưởng nhân nghĩa và tài năng lập luận sắc bén của Nguyễn Trãi.

Các em hãy cùng cô phân tích từng câu hỏi một nhé!

***

Câu 1. Theo Nguyễn Trãi, cái gốc của việc lớn, công to là:

Lời giải chi tiết:

Để trả lời câu hỏi này, các em chỉ cần đọc kỹ ngay câu mở đầu của văn bản:

“Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu.”

Từ câu này, chúng ta dễ dàng xác định được đáp án.

Đáp án:

Theo Nguyễn Trãi, cái gốc của việc lớn, công to là nhân nghĩa.

Giải thích: Nguyễn Trãi đã đưa ra một chân lí bất di bất dịch trong quan niệm của ông: mọi việc lớn lao, trọng đại, nếu muốn thành công và bền vững, đều phải lấy nhân nghĩa làm nền tảng. Đây là kim chỉ nam cho mọi hành động chính trị và quân sự của ông.

Câu 2. Hoàn cảnh nước ta lúc đó được nhắc đến trong văn bản trên:

Lời giải chi tiết:

Các em hãy tập trung vào đoạn văn tố cáo tội ác của giặc Minh đối với nước ta. Chính trong những lời tố cáo đó, hoàn cảnh đất nước ta hiện lên một cách rõ nét.

“Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội, kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên.”

Đáp án:

Hoàn cảnh nước ta lúc đó là: Đất nước đang bị giặc Minh lấn cướp, đô hộ. Nhân dân sống trong cảnh lầm than, khốn khổ, bị bóc lột tàn tệ bởi các loại thuế má nặng nề, hình phạt hà khắc, tài nguyên bị vơ vét, không ai được sống yên ổn.

Giải thích: Đoạn văn đã khắc họa một bức tranh u tối về thực trạng đất nước dưới ách đô hộ của nhà Minh, làm nổi bật sự thống khổ cùng cực của người dân, từ đó tạo tiền đề cho việc khẳng định tính chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Câu 3. Tội ác mà giặc Minh gây lên cho nhân dân ta:

Lời giải chi tiết:

Tương tự câu 2, các em hãy bám sát vào những động từ và cụm từ miêu tả hành động của giặc Minh trong đoạn văn trên.

“…làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên.”

Đáp án:

Các tội ác mà giặc Minh gây ra cho nhân dân ta là:

  1. Lấn cướp, chiếm đoạt đất nước ta.
  2. Làm việc bạo tàn.
  3. Bóc lột nhân dân ta đến cùng cực.
  4. Áp đặt các loại thuế má nặng nề, phiền hà.
  5. Vơ vét mọi của cải quý giá.
  6. Khiến cho dân thường, kể cả ở những xóm làng nhỏ bé nhất, cũng không được sống yên ổn.

Giải thích: Nguyễn Trãi không chỉ liệt kê mà còn sử dụng những từ ngữ mạnh, giàu sức gợi để tố cáo bản chất tàn bạo, phi nghĩa của quân xâm lược, cho thấy sự phẫn nộ sâu sắc của ông trước những đau khổ mà nhân dân phải gánh chịu.

Câu 4. Bọn giặc Minh đã phải chuốc những tổn hại gì khi xâm lược nước ta:

Lời giải chi tiết:

Các em hãy chuyển sang đoạn văn nói về tình hình nước Minh và hậu quả của chiến tranh.

“Nay ở nước mày, dân oán thần giận, kế tiếp đại tang, thế mà đã không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ, cam lòng xâm lược phương xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi. Ta e mối lo của họ Quý không phải ở nước Chuyên-du, mà ở trong tiêu tường vậy.”

Đáp án:

Khi xâm lược nước ta, bọn giặc Minh đã phải chuốc lấy những tổn hại nghiêm trọng:

  1. Trong nước:
    • Tình trạng “dân oán thần giận” (nhân dân căm ghét, thần linh cũng phẫn nộ).
    • “Kế tiếp đại tang” (liên tiếp có vua chết, cho thấy sự bất ổn về chính trị, nội bộ).
    • Có mối lo từ bên trong, không phải từ bên ngoài (“mối lo của họ Quý không phải ở nước Chuyên-du, mà ở trong tiêu tường”).
  2. Ngoài chiến trường:
    • “Sĩ tốt phơi thây” (quân lính chết chóc nhiều, hao binh tổn tướng).
    • “Nhân dân lầm bụi” (nhân dân phải chịu cảnh lầm than vì chiến tranh).

Giải thích: Nguyễn Trãi đã chỉ ra rằng hành động phi nghĩa của nhà Minh không chỉ gây đau khổ cho dân ta mà còn dẫn đến những hậu quả nặng nề ngay chính trên đất nước họ và trên chiến trường. Ông đã đi sâu vào phân tích những suy yếu từ bên trong, như một lời cảnh báo đanh thép gửi tới kẻ thù.

Câu 5. Nhân nghĩa trong quan niệm của Nguyễn Trãi:

Lời giải chi tiết:

Để hiểu được quan niệm về nhân nghĩa của Nguyễn Trãi, chúng ta cần tổng hợp thông tin từ hai phần chính của văn bản: phần mở đầu và phần tố cáo tội ác của giặc Minh, kèm theo câu hỏi tu từ.

1. Khẳng định vai trò: Ở đầu thư, ông nêu rõ: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu. Chỉ nhân nghĩa có gồm đủ thì công việc mới xong xuôi.” Điều này cho thấy nhân nghĩa là nền tảng, là nguyên tắc tối thượng để xây dựng và thực hiện mọi công việc lớn, công to.

2. Phân định chính – tà: Ông dùng nhân nghĩa để làm thước đo, đối chiếu với hành động của giặc Minh: chúng “mượn tiếng điếu dân phạt tội” nhưng lại “làm việc bạo tàn, lấn cướp, bóc lột”. Câu hỏi tu từ “Nhân nghĩa mà lại thế ư?” thể hiện sự phủ định mạnh mẽ, vạch trần bản chất phi nghĩa của chúng.

Đáp án:

Trong quan niệm của Nguyễn Trãi, nhân nghĩa không chỉ là một khái niệm đạo đức trừu tượng mà là một nguyên tắc sống, là kim chỉ nam cho mọi hành động chính trị và quân sự:

  1. Là nền tảng của mọi việc lớn: Nhân nghĩa là cái gốc, cái đầu của mọi mưu sự lớn lao, là điều kiện tiên quyết để đạt được thành công bền vững.
  2. Gắn liền với việc yêu dân, an dân: Nhân nghĩa là phải thương xót, che chở cho dân, bảo vệ quyền lợi và cuộc sống bình yên cho nhân dân, không bóc lột, không gây chiến tranh phi nghĩa.
  3. Là thước đo phân biệt chính – tà: Nhân nghĩa giúp vạch trần bản chất giả dối của kẻ thù (mượn danh nghĩa tốt đẹp nhưng thực chất lại bạo tàn, phi nghĩa).
  4. Là bản chất của người lãnh đạo có tâm, có tầm: Người hành động theo nhân nghĩa là người có tấm lòng vì dân, vì nước, có khả năng xây dựng một xã hội thịnh vượng và hòa bình.

Giải thích: Quan niệm về nhân nghĩa của Nguyễn Trãi rất sâu sắc, không chỉ mang ý nghĩa đạo đức mà còn có ý nghĩa chính trị to lớn. Đó là sự kết hợp hài hòa giữa “yên dân” (vì dân) và “trừ bạo” (diệt trừ cái ác), thể hiện tầm vóc tư tưởng của một nhà chính trị lỗi lạc.

Câu 6. Câu nào sau đây mô tả đúng nhất tội ác của giặc Minh:

Lời giải chi tiết:

Câu hỏi này yêu cầu chúng ta tổng hợp và khái quát hóa bản chất tội ác của giặc Minh dựa trên những gì văn bản đã nêu. Các em cần nhìn nhận cả về “danh nghĩa” lẫn “hành động” thực tế của chúng.

Đáp án:

Câu mô tả đúng nhất tội ác của giặc Minh là: Giả danh “điếu dân phạt tội” để thực hiện hành vi bạo tàn, lấn cướp đất nước và bóc lột nhân dân đến cùng cực, trái hoàn toàn với nguyên tắc nhân nghĩa.

Giải thích: Tội ác của giặc Minh không chỉ đơn thuần là xâm lược hay bóc lột, mà còn nằm ở sự giả dối, ngụy biện về danh nghĩa. Chúng lợi dụng tình hình nội bộ nước ta (“họ Hồ lỗi đạo”) để mượn tiếng “thương dân đánh kẻ có tội” nhưng thực chất lại gây ra vô vàn tội ác, khiến người dân lầm than. Sự đối lập giữa lời nói và hành động chính là điểm mấu chốt để vạch trần bản chất phi nghĩa của chúng.

Câu 7. Vị trí của câu hỏi tu từ: Nhân nghĩa mà lại thế ư?

Lời giải chi tiết:

Các em hãy nhìn lại cấu trúc đoạn văn.

“Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội, kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên. Nhân nghĩa mà lại thế ư?

Đáp án:

Câu hỏi tu từ “Nhân nghĩa mà lại thế ư?” nằm ở cuối đoạn văn thứ nhất (đoạn văn tố cáo tội ác của giặc Minh), ngay sau khi Nguyễn Trãi đã liệt kê chi tiết, đầy đủ và đanh thép các hành vi bạo tàn, phi nghĩa của chúng đối với nhân dân Đại Việt.

Giải thích: Vị trí này rất đắc địa, nó như một dấu chấm hỏi lớn, một lời chất vấn đầy căm phẫn, đóng lại phần tố cáo và mở ra suy tư về bản chất thực sự của “nhân nghĩa” trong hành động của kẻ thù.

Câu 8. Mục đích của Nguyễn Trãi khi đặt câu hỏi tu từ là gì?

Lời giải chi tiết:

Câu hỏi tu từ không đòi hỏi câu trả lời trực tiếp mà nhằm thể hiện cảm xúc, thái độ và tăng sức thuyết phục cho lập luận. Trong trường hợp này, các em cần xem xét bối cảnh và ý đồ của tác giả.

Đáp án:

Mục đích của Nguyễn Trãi khi đặt câu hỏi tu từ “Nhân nghĩa mà lại thế ư?” là:

  1. Bày tỏ sự phẫn nộ, căm tức tột độ: Đây là lời chất vấn gay gắt, bộc lộ cảm xúc mạnh mẽ của người đứng trên lập trường chính nghĩa, chứng kiến những hành vi trái với đạo lí, nhân nghĩa của kẻ thù.
  2. Lật tẩy bản chất giả dối, phi nghĩa: Nguyễn Trãi muốn nhấn mạnh sự mâu thuẫn tột độ giữa lời lẽ “điếu dân phạt tội” hoa mỹ mà giặc Minh đưa ra và hành động bạo tàn, bóc lột thực sự của chúng. Câu hỏi này như một lời vạch mặt, chỉ rõ sự ngụy biện của quân xâm lược.
  3. Khẳng định lại chuẩn mực nhân nghĩa: Bằng cách chất vấn, Nguyễn Trãi gián tiếp nhắc nhở và khẳng định lại quan niệm đúng đắn về nhân nghĩa – đó là phải vì dân, vì nước, chứ không phải là cái cớ để xâm lược và gây đau khổ.
  4. Tăng tính hùng biện, thuyết phục cho văn bản: Câu hỏi tu từ làm cho lời văn trở nên sống động, có sức lay động mạnh mẽ, không chỉ tác động đến lí trí mà còn cả tình cảm của người đọc (hoặc người nghe), khiến đối phương phải suy ngẫm và tự vấn.

Giải thích: Câu hỏi này là một thủ pháp nghệ thuật đắt giá, thể hiện tài năng văn chương của Nguyễn Trãi trong việc sử dụng ngôn ngữ để đạt được mục đích chính trị, ngoại giao cao cả.

Câu 9. Xác định hệ thống lí lẽ mà Nguyễn Trãi đưa ra để lập luận trong văn bản.

Lời giải chi tiết:

Đây là câu hỏi yêu cầu các em phân tích cấu trúc lập luận của Nguyễn Trãi. Các em cần xác định các luận điểm chính và cách ông dùng lí lẽ để làm sáng tỏ, chứng minh các luận điểm đó.

Dàn ý các lí lẽ:

  1. Lí lẽ về nguyên tắc nền tảng: Khẳng định “nhân nghĩa” là gốc của mọi việc lớn.
  2. Lí lẽ tố cáo sự giả dối, phi nghĩa của kẻ thù: Mượn danh nghĩa để thực hiện hành vi bạo tàn, bóc lột.
  3. Lí lẽ về hậu quả tất yếu của hành động phi nghĩa: Chỉ ra những tổn hại mà kẻ thù đang phải gánh chịu cả trong lẫn ngoài nước.
  4. Lí lẽ cảnh báo về nguy cơ nội tại: Khẳng định mối lo thực sự của kẻ thù nằm ở bên trong, do chính hành động phi nghĩa gây ra.

Đáp án:

Nguyễn Trãi đã xây dựng một hệ thống lí lẽ chặt chẽ, sắc bén và vô cùng thuyết phục trong văn bản này:

  1. Lí lẽ về nguyên tắc “nhân nghĩa” là gốc của việc lớn:
    • Ông mở đầu bằng việc nêu ra một chân lí phổ quát: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu.”
    • Đây là tiền đề đạo đức và chính trị để ông đánh giá mọi hành động, cả của ta và của địch.
  2. Lí lẽ vạch trần sự giả dối và phi nghĩa của quân Minh:
    • Ông chỉ rõ giặc Minh đã lợi dụng tình hình “họ Hồ lỗi đạo” để “mượn tiếng điếu dân phạt tội”, nhưng thực chất là “làm việc bạo tàn, lấn cướp, bóc lột” nhân dân ta.
    • Ông sử dụng hàng loạt dẫn chứng cụ thể về tội ác (thuế nặng, hình phiền, vơ vét của quý, dân không yên) để chứng minh sự trái ngược giữa lời nói và hành động của chúng.
    • Câu hỏi tu từ “Nhân nghĩa mà lại thế ư?” đóng vai trò như một lời kết luận đanh thép, lật tẩy hoàn toàn bản chất phi nghĩa của kẻ thù.
  3. Lí lẽ về hậu quả tất yếu của hành động phi nghĩa:
    • Nguyễn Trãi phân tích những hệ quả nghiêm trọng mà nhà Minh phải gánh chịu do hành động xâm lược phi nghĩa của mình: “dân oán thần giận” (trong nước), “kế tiếp đại tang” (vua chết liên tục, nội bộ bất ổn), “sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi” (trên chiến trường).
    • Đây là lí lẽ dựa trên quy luật nhân quả, gieo ác thì gặt quả xấu, nhằm chỉ rõ sự thất bại đã cận kề.
  4. Lí lẽ cảnh báo về nguy cơ sụp đổ từ bên trong:
    • Ông sử dụng điển cố “mối lo của họ Quý không phải ở nước Chuyên-du, mà ở trong tiêu tường” để cảnh báo Phương Chính rằng mối nguy hiểm lớn nhất của nhà Minh không phải đến từ bên ngoài (tức cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của ta) mà chính là từ những bất ổn nội tại, sự mất lòng dân, sự thối nát trong triều đình do hành động phi nghĩa gây ra.
    • Lí lẽ này mang tính dự báo, cảnh tỉnh, làm suy yếu ý chí của đối phương.

Giải thích: Hệ thống lí lẽ này được sắp xếp một cách logic, từ chân lí chung đến thực tế, từ tố cáo đến dự báo, từ đó khẳng định tính chính nghĩa của ta và tính phi nghĩa của địch, đồng thời thể hiện tầm vóc tư tưởng và tài năng biện luận của Nguyễn Trãi.

Câu 10. Nhận xét về nghệ thuật văn chính luận Nguyễn Trãi.

Lời giải chi tiết:

Để nhận xét về nghệ thuật văn chính luận của Nguyễn Trãi qua văn bản này, các em cần khái quát hóa những đặc điểm nổi bật về cách ông sử dụng ngôn ngữ, cấu trúc lập luận, giọng điệu và mục đích biểu đạt.

Dàn ý nhận xét:

  1. Lập luận chặt chẽ, sắc bén, có tính hệ thống:
    • Đi từ chân lí chung (nhân nghĩa) đến phân tích thực tế (tội ác của Minh, hậu quả của Minh), sau đó đưa ra dự báo và cảnh báo.
    • Các lí lẽ sắp xếp khoa học, liên kết chặt chẽ, tạo thành một mạch lập luận không thể bác bỏ.
  2. Giọng văn hùng hồn, đanh thép, giàu cảm xúc:
    • Thể hiện sự phẫn nộ, căm thù sâu sắc khi tố cáo tội ác.
    • Thể hiện sự tự tin, khí phách của người đứng về chính nghĩa.
    • Sử dụng câu hỏi tu từ “Nhân nghĩa mà lại thế ư?” để tăng sức biểu cảm và chất vấn.
  3. Ngôn ngữ cô đọng, giàu hình ảnh và biểu cảm:
    • Sử dụng các từ ngữ mạnh, giàu sức gợi để tố cáo tội ác (“bạo tàn”, “lấn cướp”, “bóc lột”, “vơ vét”, “thuế nặng hình phiền”).
    • Các hình ảnh cụ thể, sống động (“dân mọn xóm làng không được sống yên”, “sĩ tốt phơi thây”, “nhân dân lầm bụi”) làm tăng tính thuyết phục và cảm xúc.
  4. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và tình cảm:
    • Văn bản không chỉ khô khan lí lẽ mà còn thấm đẫm tình yêu nước, thương dân, sự căm phẫn trước cái ác.
    • Lí lẽ được thể hiện bằng cảm xúc, cảm xúc được dẫn dắt bởi lí lẽ, tạo nên sự lay động mạnh mẽ.
  5. Sử dụng điển cố, điển tích một cách uyên bác:
    • Điển cố “điếu dân phạt tội”, “tiêu tường”, “Chuyên-du” không chỉ làm tăng tính học thuật mà còn giúp lí lẽ trở nên sâu sắc, hàm súc và có sức nặng lịch sử, văn hóa.
  6. Mục đích thuyết phục và răn đe rõ ràng:
    • Văn bản không chỉ để đấu tranh bằng ngôn từ mà còn nhằm làm lung lay ý chí của đối phương, cảnh báo họ về hậu quả tất yếu của hành động phi nghĩa, đồng thời khẳng định chính nghĩa của cuộc kháng chiến của ta.

Đáp án:

Nghệ thuật văn chính luận của Nguyễn Trãi trong “Lại thư trả lời Phương Chính” thể hiện những đặc điểm nổi bật sau:

  1. Lập luận chặt chẽ, sắc bén và có hệ thống: Nguyễn Trãi xây dựng hệ thống lí lẽ mạch lạc, khoa học, đi từ chân lí phổ quát (nhân nghĩa) đến phân tích thực tế (tội ác và hậu quả của giặc Minh), sau đó là dự báo và cảnh báo. Các luận điểm được sắp xếp logic, không thể bác bỏ, tạo nên sức thuyết phục cao.
  2. Giọng điệu hùng hồn, đanh thép nhưng cũng rất trữ tình: Văn phong mạnh mẽ, cứng rắn khi tố cáo tội ác và khẳng định chính nghĩa. Tuy nhiên, đằng sau đó là tấm lòng yêu nước thương dân sâu sắc, được thể hiện qua sự phẫn nộ trước cảnh lầm than và xót xa cho sinh linh.
  3. Ngôn ngữ cô đọng, chọn lọc, giàu hình ảnh và sức biểu cảm: Nguyễn Trãi sử dụng từ ngữ chính xác, mạnh mẽ để vạch trần bản chất phi nghĩa của giặc (“bạo tàn”, “lấn cướp”, “bóc lột”, “vơ vét”). Các hình ảnh cụ thể, gợi cảm (“dân mọn xóm làng không được sống yên”, “sĩ tốt phơi thây”, “nhân dân lầm bụi”) đã khắc sâu vào tâm trí người đọc, làm tăng hiệu quả thuyết phục.
  4. Kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và tình cảm: Ông không chỉ dùng lí lẽ để phân tích, mà còn lồng ghép cảm xúc phẫn nộ, căm thù và lòng trắc ẩn vào từng câu chữ. Điều này khiến văn bản vừa có tính chiến đấu cao, vừa có sức lay động lòng người, tạo nên phong cách độc đáo “biện văn và phú” của ông.
  5. Sử dụng điển cố, điển tích một cách tài tình: Việc vận dụng các điển cố như “điếu dân phạt tội”, “tiêu tường”, “Chuyên-du” không chỉ thể hiện sự uyên bác, trí tuệ của tác giả mà còn làm cho lập luận trở nên sâu sắc, hàm súc, tăng thêm sức nặng cho lời lẽ.
  6. Tính mục đích cao, hiệu quả ngoại giao: Văn bản không chỉ là lời tố cáo mà còn là một chiến lược ngoại giao sắc bén, làm lung lay tinh thần đối phương, cảnh báo về thất bại tất yếu nếu tiếp tục đi ngược lại nhân nghĩa.

Giải thích: Những đặc điểm nghệ thuật này không chỉ khẳng định tài năng kiệt xuất của Nguyễn Trãi trong lĩnh vực văn chính luận mà còn cho thấy tư tưởng “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” được thể hiện một cách sâu sắc và tài tình như thế nào.

***

Cô hy vọng qua phần giải thích chi tiết này, các em đã nắm vững kiến thức và hiểu rõ hơn về giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật của văn bản “Lại thư trả lời Phương Chính”. Hãy luôn nhớ rằng, đọc hiểu văn bản không chỉ là tìm ra câu trả lời đúng mà còn là quá trình tư duy, phân tích và cảm nhận cái hay, cái đẹp của tác phẩm, các em nhé!

Chúc các em học tốt và luôn yêu thích môn Ngữ Văn!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

Câu 1: 

Theo Nguyễn Trãi, cái gốc của việc lớn, công to là nhân nghĩa

“Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu”

Câu 2:

Hoàn cảnh nước ta lúc đó được nhắc đến trong văn bản trên: nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, giặc Minh mượn danh điếu phạt sang xâm lược.

Câu 3:

Tội ác mà giặc Minh gây lên cho nhân dân ta:lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên.

Câu 4:

Khi bọn giặc Minh sang xâm lược nước ta đã phải chịu cảnh tang tóc; dân chúng oán than

” dân oán thần giận, kế tiếp đại tang”

Câu 5:

Theo quan niệm của Nguyễn Trãi, nhân nghĩa là: yêu nước, thương dân, vì dân trừ bạo để dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Câu 6:

Câu nào sau đây mô tả đúng nhất tội ác của giặc Minh:

Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội(1), kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên

Câu 7:

Vị trí: ở giữa thư, sau khi nêu ra những tội ác của giặc Minh

Câu 8:

Mục đích: Nhấn mạnh sự tàn ác, mạn rợ vô nhân đạo cửa giặc Minh đối với dân ta mà chúng dám nói là diếu phạt vì nhân nghĩa.

Câu 9:

Luận điểm: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu.

Các luận cứ: giặc Minh làm trái điều nhân nghĩa

+Chỉ nhân nghĩa có gồm đủ thì công việc mới xong xuôi.

+Nguyên nhân: sự tham lam, tàn bạo của giặc Minh

Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội(1), kỳ thực làm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hình phiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên. Nhân nghĩa mà lại thế ư?

+Hậu quả: Nay ở nước mày, dân oán thần giận, kế tiếp đại tang(2), thế mà đã không biết tự xét lỗi mình, lại còn cùng binh độc vũ(3), cam lòng xâm lược phương xa, khiến cho sĩ tốt phơi thây, nhân dân lầm bụi.

+Kết luận: quân định đang đứng trước nhiều mối họa 

\(=>\) Đoạn văn diễn dịch

Câu 10:

Văn chính luận của Nguyễn Trãi có sức tác động mạnh mẽ đến nền văn học nước nhà và có ” sức nặng” đối với người nghe. Lời văn sắc bé, lí lẽ thuyết phục, sắt đáng, bố cục chặt chẽ và đặc biệt là vận dụng triệt để tư tưởng, đạo đức Nho giáo, chân lí khách quan. Đối với từng đối tượng ông có những cách truyền đạt, diễn đạt sao cho hợp lí và phù hợp.

Trả lời bởi: chibana

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo