lấy ví dụ về phép đo trực tiếp và phép đo gián tiếp (mỗi cái lấy 5 VD)
Trong cuộc sống hàng ngày và trong các thí nghiệm vật lý, chúng ta thường xuyên thực hiện các phép đo. Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể đo trực tiếp đại lượng mình quan tâm. Lúc đó, chúng ta cần sử dụng phép đo gián tiếp.
Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu vềphép đo trực tiếp.
Phép đo trực tiếp là phép đo mà ta có thể xác định trực tiếp giá trị của đại lượng vật lý bằng một dụng cụ đo duy nhất.
Để hiểu rõ hơn, thầy sẽ đưa ra 5 ví dụ về phép đo trực tiếp:
Ví dụ 1: Đo chiều dài của một cây bút chì bằng thước thẳng.
Ta dùng thước thẳng (là dụng cụ đo) để xác định trực tiếp chiều dài của cây bút chì. Ta đọc giá trị đo được trên vạch chia của thước.
Ví dụ 2: Đo khối lượng của một quả táo bằng cân.
Ta đặt quả táo lên đĩa cân (là dụng cụ đo) và đọc giá trị khối lượng hiển thị trên cân. Đây là phép đo trực tiếp khối lượng.
Ví dụ 3: Đo thời gian chuyển động của một viên bi bằng đồng hồ bấm giây.
Khi viên bi bắt đầu chuyển động, ta bấm nút bắt đầu trên đồng hồ bấm giây (là dụng cụ đo). Khi viên bi kết thúc chuyển động, ta bấm nút dừng. Giá trị hiển thị trên đồng hồ chính là thời gian chuyển động được đo trực tiếp.
Ví dụ 4: Đo nhiệt độ của nước sôi bằng nhiệt kế.
Ta nhúng bầu nhiệt kế (là dụng cụ đo) vào nước sôi và đọc giá trị nhiệt độ hiển thị trên thang đo của nhiệt kế. Đây là phép đo trực tiếp nhiệt độ.
Ví dụ 5: Đo cường độ dòng điện chạy trong một đoạn mạch bằng ampe kế.
Ta mắc ampe kế (là dụng cụ đo) nối tiếp với đoạn mạch và đọc giá trị cường độ dòng điện hiển thị trên ampe kế. Đây là phép đo trực tiếp cường độ dòng điện.
Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu vềphép đo gián tiếp.
Phép đo gián tiếp là phép đo mà ta không thể xác định trực tiếp giá trị của đại lượng cần đo, mà phải tính toán nó dựa trên kết quả của các phép đo trực tiếp các đại lượng liên quan.
Thầy cũng sẽ đưa ra 5 ví dụ về phép đo gián tiếp để các em dễ hình dung:
Ví dụ 1: Đo thể tích của một khối kim loại hình lập phương.
Chúng ta không có dụng cụ nào đo trực tiếp thể tích của khối lập phương. Tuy nhiên, chúng ta có thể dùng thước thẳng để đo trực tiếp chiều dài cạnh của khối lập phương, gọi là ‘a’. Sau đó, ta tính thể tích theo công thức:
\[ V = a^3 \]
Đây là phép đo gián tiếp thể tích, dựa trên phép đo trực tiếp chiều dài.
Ví dụ 2: Đo diện tích của một mặt bàn hình chữ nhật.
Tương tự như trên, ta không có dụng cụ đo trực tiếp diện tích. Ta dùng thước thẳng để đo trực tiếp chiều dài (l) và chiều rộng (w) của mặt bàn. Sau đó, ta tính diện tích theo công thức:
\[ A = l \times w \]
Đây là phép đo gián tiếp diện tích, dựa trên phép đo trực tiếp chiều dài và chiều rộng.
Ví dụ 3: Đo tốc độ trung bình của một chiếc xe.
Chúng ta không có dụng cụ nào đo trực tiếp tốc độ. Tuy nhiên, chúng ta có thể dùng đồng hồ bấm giây để đo trực tiếp thời gian (t) xe di chuyển trên một quãng đường và dùng thước đo chiều dài để đo trực tiếp quãng đường đó (s). Sau đó, ta tính tốc độ trung bình theo công thức:
\[ v = \frac{s}{t} \]
Đây là phép đo gián tiếp tốc độ, dựa trên phép đo trực tiếp quãng đường và thời gian.
Ví dụ 4: Đo khối lượng riêng của một chất lỏng.
Khối lượng riêng (ρ) của một chất được định nghĩa bằng khối lượng (m) trên thể tích (V) của nó. Chúng ta có thể dùng cân để đo trực tiếp khối lượng của một lượng chất lỏng (m), và dùng bình chia độ để đo trực tiếp thể tích của lượng chất lỏng đó (V). Sau đó, ta tính khối lượng riêng theo công thức:
\[ \rho = \frac{m}{V} \]
Đây là phép đo gián tiếp khối lượng riêng, dựa trên phép đo trực tiếp khối lượng và thể tích.
Ví dụ 5: Đo công thực hiện của một lực.
Công (A) thực hiện bởi một lực không đổi (F) được định nghĩa bằng tích của độ lớn lực đó và quãng đường dịch chuyển (d) theo phương của lực. Chúng ta có thể dùng lực kế để đo trực tiếp độ lớn của lực (F) và dùng thước đo chiều dài để đo trực tiếp quãng đường dịch chuyển (d). Sau đó, ta tính công theo công thức:
\[ A = F \times d \]
Đây là phép đo gián tiếp công, dựa trên phép đo trực tiếp lực và quãng đường.
Như vậy, qua các ví dụ trên, các em có thể thấy rõ sự khác biệt giữa phép đo trực tiếp và phép đo gián tiếp. Trong nhiều trường hợp, phép đo gián tiếp là cách duy nhất hoặc hiệu quả nhất để xác định đại lượng vật lý mà chúng ta quan tâm.
Các em về nhà xem lại bài và làm thêm các bài tập trong sách giáo khoa để củng cố kiến thức này nhé. Nếu có gì chưa hiểu, tiết sau chúng ta sẽ cùng trao đổi.
\(#Sky\)
\(-\) Ví dụ về phép đo trực tiếp:
\(+\) Đo quãng đường đi được của một chiếc oto
\(+\) Đo thời gian chạy của vận động viên
\(+\) Đo nhiệt độ ngoài trời vào buổi sáng
\(+\) Đo cân nặng của một người/ vật
\(+\) Đo cường độ dòng điện của mạch điện trong phòng thí nghiệm
\(-\) Ví dụ về phép đo gián tiếp:
\(+\) Đo vận tốc của chiếc xe đạp (đo quãng đường xe đi được trong 1 khoảng thời gian nhất định)
\(+\) Đo nhiệt lượng sinh ra của ấm nước
\(+\) Đo khối lượng/ trọng lượng riêng của một vật (đo khối lượng/ lực và thể tích)
\(+\) Đo gia tốc của một vật (đo vận tốc và thời gian)
\(+\) Đođiện trở của mạch điện trong nhà (đo cường độ dòng điện và hiệu điện thế)
\(star\) Phép đo trực tiếp Là phép đo mà kết quả đo được nhận ngay từ giá trị của đại lượng cần đo mà không cần qua bất kỳ phép tính hay suy luận nào khác.
\(@\) Đo chiều dài của cái bút bằng thước kẻ.
\(@\) Đo khối lượng của miếng sắt bằng cân.
\(@\) Đo cường độ dòng điện trong nhà.
\(@\) Đo thời gian bằng đồng hồ bấm giờ.
\(@\) Đo nhiệt độ của nước
\(star\) Phép đo gián tiếp Là phép đo không trực tiếp đo được đại lượng cần tìm mà phải thông qua các đại lượng khác và sau đó áp dụng công thức hoặc tính toán để tìm ra kết quả.
\(@\) Đo diện tích của hình chữ nhật bằng cách đo chiều dài và chiều rộng
\(@\) Đo vận tốc của một vật bằng cách đo khoảng cách và thời gian di chuyển
\(@\) Đo thể tích của một vật không đều bằng cách đo lượng nước dịch chuyển trong bình chia độ khi nhúng vật vào
\(@\) Đo mật độ của một chất lỏng bằng cách đo khối lượng và thể tích
\(@\) Đo công suất điện bằng cách đo hiệu điện thế và cường độ dòng điện