Mỗi lần bơm đưa được Vo = 80 cm3 không khí vào ruột xe. Sau khi bơm diện tích ti…
Chúng ta bắt đầu phân tích đề bài nhé.
Đề bài cho biết:
– Thể tích khí mỗi lần bơm đưa vào là: Vo = 80 cm3.
– Diện tích tiếp xúc của ruột xe với mặt đường: S = 30 cm2. (Thông tin này có vẻ không trực tiếp sử dụng trong bài toán tính số lần bơm, nhưng nó giúp ta hình dung về ruột xe).
– Thể tích ruột xe sau khi bơm là: V = 2000 cm3.
– Áp suất khí quyển: P_atm = 1 atm.
– Trọng lượng xe: P_xe = 600 N.
– Nhiệt độ không đổi trong quá trình bơm.
Yêu cầu của chúng ta là tính số lần phải bơm để lốp xe có thể chịu được trọng lượng của xe.
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của bài toán. Khi bơm xe, không khí bên trong ruột xe sẽ có áp suất cao hơn áp suất khí quyển. Chính sự chênh lệch áp suất này, tác dụng lên diện tích tiếp xúc của lốp xe với mặt đường, sẽ tạo ra một lực nâng đỡ trọng lượng của xe.
Vì nhiệt độ không đổi trong quá trình bơm, chúng ta sẽ áp dụng định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt. Định luật này phát biểu rằng: Trong quá trình đẳng nhiệt, tích của áp suất và thể tích của một lượng khí nhất định là không đổi.
Công thức của định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt là: \(p_1 V_1 = p_2 V_2\)
Bây giờ, chúng ta sẽ đi từng bước để giải bài tập này.
Bước 1: Xác định áp suất ban đầu trong ruột xe.
Trước khi bơm, ruột xe chưa có không khí hoặc có một lượng rất ít không khí với áp suất bằng áp suất khí quyển. Tuy nhiên, đề bài cho “thể tích ruột xe sau khi bơm là 2000 cm3” và hỏi “số lần phải bơm”, ngụ ý rằng chúng ta đang tính toán để lốp xe có đủ khả năng chịu tải.
Trong tình huống này, chúng ta cần xác định áp suất cần thiết bên trong lốp xe để nâng đỡ trọng lượng của xe.
Lực nâng do áp suất gây ra được tính bằng công thức: F = p.S, trong đó p là áp suất tác dụng lên diện tích S.
Để ruột xe chịu được trọng lượng của xe, lực nâng này phải cân bằng với trọng lượng của xe. Tuy nhiên, áp suất bên trong lốp xe không chỉ do không khí chúng ta bơm vào mà còn có áp suất khí quyển tác dụng từ bên ngoài.
Do đó, áp suất thực sự bên trong lốp xe cần phải lớn hơn áp suất khí quyển một lượng đủ để tạo ra lực nâng.
Áp suất dư trong lốp xe (áp suất mà ta bơm vào vượt quá áp suất khí quyển) sẽ tạo ra lực nâng.
Giả sử p là áp suất bên trong ruột xe sau khi bơm.
Lực tác dụng lên mặt đường là F_nâng = (p – P_atm).S
Để xe không bị xẹp, lực nâng này phải đủ để cân bằng trọng lượng của xe.
F_nâng >= P_xe
(p – P_atm).S >= P_xe
Chúng ta cần tìm áp suất tối thiểu bên trong ruột xe để chịu được trọng lượng.
Chúng ta sẽ xem xét áp suất tuyệt đối bên trong ruột xe.
Áp suất khí quyển là \(P_{atm} = 1 \text{ atm}\).
Chúng ta cần chuyển đổi đơn vị áp suất sang đơn vị Newton trên mét vuông (N/m2) để phù hợp với đơn vị của trọng lượng (N).
1 atm xấp xỉ bằng 101325 Pa (Pascal), và 1 Pa = 1 N/m2.
Vậy, \(P_{atm} \approx 101325 \text{ N/m}^2\).
Diện tích tiếp xúc S = 30 cm2 = 30 x (10^-2 m)^2 = 30 x 10^-4 m2 = 0.003 m2.
Trọng lượng xe P_xe = 600 N.
Để xe có thể di chuyển được, áp suất bên trong ruột xe phải lớn hơn áp suất khí quyển để tạo ra lực nâng.
Áp suất chân không là 0. Áp suất khí quyển là áp suất tuyệt đối của không khí bao quanh chúng ta.
Khi chúng ta bơm không khí vào, áp suất bên trong ruột xe tăng lên.
Lực nâng do lốp xe tạo ra là do sự chênh lệch áp suất giữa bên trong và bên ngoài lốp xe, tác dụng lên diện tích tiếp xúc.
Lực nâng = (Áp suất bên trong – Áp suất khí quyển) x Diện tích tiếp xúc.
Để xe đứng vững, lực nâng này phải ít nhất bằng trọng lượng của xe.
\( (p_{in} – P_{atm}) \times S \ge P_{xe} \)
Chúng ta cần tìm \(p_{in}\).
\( p_{in} – P_{atm} \ge \frac{P_{xe}}{S} \)
\( p_{in} \ge P_{atm} + \frac{P_{xe}}{S} \)
\( p_{in} \ge 101325 \text{ N/m}^2 + \frac{600 \text{ N}}{0.003 \text{ m}^2} \)
\( p_{in} \ge 101325 \text{ N/m}^2 + 200000 \text{ N/m}^2 \)
\( p_{in} \ge 301325 \text{ N/m}^2 \)
Để tiện cho việc tính toán với đơn vị atm, chúng ta có thể tính áp suất dư cần thiết:
Áp suất dư cần thiết = \( \frac{P_{xe}}{S} = \frac{600 \text{ N}}{0.003 \text{ m}^2} = 200000 \text{ N/m}^2 \)
Chuyển đổi áp suất dư này sang atm:
Áp suất dư cần thiết (atm) = \( \frac{200000 \text{ N/m}^2}{101325 \text{ N/m}^2/\text{atm}} \approx 1.97 \text{ atm} \)
Vậy, áp suất tuyệt đối bên trong ruột xe sau khi bơm phải ít nhất là:
\( p_{in} \ge P_{atm} + \text{Áp suất dư cần thiết} \)
\( p_{in} \ge 1 \text{ atm} + 1.97 \text{ atm} \approx 2.97 \text{ atm} \)
Tuy nhiên, cách tiếp cận này hơi phức tạp vì chúng ta không biết áp suất ban đầu của không khí trong ruột xe trước khi bơm.
Hãy xem xét một cách đơn giản hơn. Thông thường, khi bơm lốp xe, chúng ta bơm không khí từ bên ngoài (với áp suất khí quyển) vào bên trong ruột xe.
Ban đầu, ruột xe có thể coi như có áp suất là \(P_0 = P_{atm}\).
Sau khi bơm một lượng khí, áp suất bên trong ruột xe tăng lên.
Chúng ta cần xác định áp suất cuối cùng bên trong ruột xe, gọi là \(p_f\), để ruột xe có thể chịu được trọng lượng.
Lực nâng của lốp xe được tạo ra bởi áp suất bên trong ruột xe tác dụng lên diện tích tiếp xúc với mặt đường.
Áp suất khí quyển tác dụng từ bên ngoài lên lốp xe.
Lực nâng = (Áp suất bên trong – Áp suất khí quyển) * Diện tích tiếp xúc.
Để xe đứng yên, lực nâng này phải cân bằng với trọng lượng của xe.
\( (p_f – P_{atm}) \times S = P_{xe} \)
\( p_f – P_{atm} = \frac{P_{xe}}{S} \)
\( p_f = P_{atm} + \frac{P_{xe}}{S} \)
Chúng ta đã tính ở trên:
\( \frac{P_{xe}}{S} \approx 1.97 \text{ atm} \)
Vậy, áp suất cuối cùng cần thiết bên trong ruột xe là:
\( p_f \approx 1 \text{ atm} + 1.97 \text{ atm} = 2.97 \text{ atm} \)
Bước 2: Áp dụng định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt để tính số lần bơm.
Gọi \(n\) là số lần bơm.
Mỗi lần bơm, chúng ta đưa vào một thể tích \(V_0 = 80 \text{ cm}^3\) không khí có áp suất ban đầu là \(P_{atm} = 1 \text{ atm}\).
Chúng ta sẽ thực hiện quá trình bơm liên tục.
Xem xét quá trình bơm lần thứ nhất:
Ban đầu, ruột xe có thể tích \(V_{trước}\) và áp suất \(p_{trước}\).
Sau khi bơm một lần, thể tích tăng thêm \(V_0\) và áp suất thay đổi.
Cách đơn giản nhất để tiếp cận bài toán này là xem xét tổng lượng khí trong ruột xe sau khi bơm.
Ban đầu, giả sử ruột xe không có không khí, tức là thể tích ban đầu là 0 và áp suất là 0 (trong chân không).
Sau \(n\) lần bơm, mỗi lần bơm đưa vào \(V_0\) khí ở áp suất \(P_{atm}\), tổng thể tích khí đã bơm vào là \(n \times V_0\).
Lượng khí này sẽ chiếm thể tích \(V = 2000 \text{ cm}^3\) trong ruột xe với áp suất cuối cùng \(p_f \approx 2.97 \text{ atm}\).
Áp dụng định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt, ta có thể coi như toàn bộ \(n\) lần bơm đưa khí vào ruột xe từ trạng thái ban đầu \(P_{atm}, V_0\) đến trạng thái cuối cùng \(p_f, V\).
Tuy nhiên, đây là một cách hiểu sai. Định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt áp dụng cho một lượng khí cố định.
Chúng ta cần xem xét từng lần bơm một cách tuần tự.
Giả sử ban đầu, ruột xe rỗng (hoặc có áp suất không đáng kể).
Sau lần bơm thứ nhất:
Ta đưa vào \(V_0\) khí ở áp suất \(P_{atm}\). Lượng khí này chiếm thể tích bao nhiêu trong ruột xe?
Nó sẽ chiếm một phần của thể tích ruột xe, và áp suất sẽ tăng lên.
Cách tiếp cận phổ biến cho dạng bài này như sau:
Chúng ta coi mỗi lần bơm đưa vào một “gói” khí có thể tích \(V_0\) ở áp suất \(P_{atm}\).
Lượng khí này, khi nằm trong ruột xe, sẽ có áp suất khác.
Giả sử trạng thái ban đầu của không khí trong ruột xe là \(p_1, V_1\).
Sau \(n\) lần bơm, trạng thái cuối cùng là \(p_f, V\).
Mỗi lần bơm đưa vào \(V_0\) khí ở áp suất \(P_{atm}\).
Chúng ta cần tính tổng áp suất tăng thêm.
Áp suất tăng thêm do bơm vào là: \(p_f – P_{atm}\).
Lượng khí này đến từ bên ngoài, nơi nó có áp suất \(P_{atm}\) và thể tích được bơm vào.
Hãy xem xét lượng khí có trong ruột xe.
Lượng khí ban đầu trong ruột xe (trước khi bơm, khi ruột xe chưa căng) có thể coi là \(n_0\) mol khí ở áp suất \(P_{atm}\) và thể tích \(V_{trước}\). Tuy nhiên, \(V_{trước}\) không rõ.
Chúng ta dùng phương pháp tính số mol. Theo định luật khí lý tưởng: \(pV = nRT\). Vì nhiệt độ không đổi, R cũng là hằng số, nên \(pV\) là tỉ lệ với số mol.
\(p_1 V_1 = p_2 V_2\) (với cùng một lượng khí).
Trạng thái của khí trong ruột xe sau khi bơm:
Áp suất tuyệt đối: \(p_f \approx 2.97 \text{ atm}\)
Thể tích: \(V = 2000 \text{ cm}^3\)
Tích: \(p_f V \approx 2.97 \text{ atm} \times 2000 \text{ cm}^3 = 5940 \text{ atm} \cdot \text{cm}^3\)
Bây giờ, chúng ta cần xem xét lượng khí đã được bơm vào.
Mỗi lần bơm, ta đưa vào \(V_0 = 80 \text{ cm}^3\) khí ở áp suất \(P_{atm} = 1 \text{ atm}\).
Giả sử ban đầu, ruột xe rỗng (số mol khí bằng 0).
Sau \(n\) lần bơm, tổng thể tích khí đã bơm vào, nếu nó vẫn ở áp suất khí quyển, sẽ là \(n \times V_0\).
Lượng khí này, khi nằm trong ruột xe, đã bị nén lại đến áp suất \(p_f\).
Ta áp dụng định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt cho toàn bộ quá trình bơm.
Coi như chúng ta gom tất cả \(n\) lần bơm khí \(V_0\) ở áp suất \(P_{atm}\) lại.
Tổng lượng khí ban đầu (trước khi vào ruột xe) có thể tích là \(n \times V_0\) và áp suất \(P_{atm}\).
Khi vào ruột xe, lượng khí này chiếm thể tích \(V\) và có áp suất \(p_f\).
Áp dụng định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt:
\(P_{atm} \times (n \times V_0) = p_f \times V\)
Bây giờ, chúng ta thay số vào:
\(1 \text{ atm} \times (n \times 80 \text{ cm}^3) = 2.97 \text{ atm} \times 2000 \text{ cm}^3\)
\(n \times 80 = 2.97 \times 2000\)
\(n \times 80 = 5940\)
\(n = \frac{5940}{80}\)
\(n = \frac{594}{8}\)
\(n = 74.25\)
Số lần bơm phải là một số nguyên. Vì chúng ta cần đạt được áp suất tối thiểu để chịu được trọng lượng, nên chúng ta phải làm tròn lên. Nếu bơm 74 lần thì áp suất chưa đủ.
Vậy, số lần phải bơm là 75 lần.
Chúng ta kiểm tra lại các bước và giả định.
Giả định ban đầu ruột xe rỗng là hợp lý cho bài toán này.
Chúng ta đã chuyển đổi đơn vị áp suất và thể tích một cách nhất quán.
Hãy xem xét lại áp suất \(p_f\).
\(p_f = P_{atm} + \frac{P_{xe}}{S}\)
\(P_{xe} = 600 \text{ N}\)
\(S = 30 \text{ cm}^2 = 30 \times 10^{-4} \text{ m}^2 = 0.003 \text{ m}^2\)
\(P_{atm} = 1 \text{ atm} \approx 101325 \text{ Pa}\)
\(\frac{P_{xe}}{S} = \frac{600 \text{ N}}{0.003 \text{ m}^2} = 200000 \text{ Pa}\)
\(p_f = 101325 \text{ Pa} + 200000 \text{ Pa} = 301325 \text{ Pa}\)
Chuyển \(p_f\) sang atm:
\(p_f = \frac{301325 \text{ Pa}}{101325 \text{ Pa/atm}} \approx 2.974 \text{ atm}\)
Áp dụng định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt:
\(P_{atm} \times (n \times V_0) = p_f \times V\)
\(1 \text{ atm} \times (n \times 80 \text{ cm}^3) = 2.974 \text{ atm} \times 2000 \text{ cm}^3\)
\(n \times 80 = 2.974 \times 2000\)
\(n \times 80 = 5948\)
\(n = \frac{5948}{80}\)
\(n = \frac{594.8}{8}\)
\(n = 74.35\)
Làm tròn lên số nguyên gần nhất là 75 lần.
Bước 3: Trình bày kết quả cuối cùng.
Để ruột xe có thể chịu được trọng lượng 600 N, áp suất bên trong ruột xe phải đạt một giá trị tối thiểu \(p_f\).
Áp suất này tạo ra lực nâng cân bằng với trọng lượng xe.
\( (p_f – P_{atm}) \times S = P_{xe} \)
\( p_f = P_{atm} + \frac{P_{xe}}{S} \)
Ta có:
\(P_{atm} = 1 \text{ atm}\)
\(V_0 = 80 \text{ cm}^3\)
\(V = 2000 \text{ cm}^3\)
\(P_{xe} = 600 \text{ N}\)
\(S = 30 \text{ cm}^2 = 0.003 \text{ m}^2\)
Tính áp suất cần thiết \(p_f\):
\(p_f = 1 \text{ atm} + \frac{600 \text{ N}}{0.003 \text{ m}^2 \times 101325 \text{ Pa/atm}}\)
\(p_f = 1 \text{ atm} + \frac{200000 \text{ Pa}}{101325 \text{ Pa/atm}}\)
\(p_f \approx 1 \text{ atm} + 1.974 \text{ atm}\)
\(p_f \approx 2.974 \text{ atm}\)
Áp dụng định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt cho quá trình bơm:
Tổng thể tích khí ở áp suất khí quyển được bơm vào ruột xe là \(n \times V_0\).
Lượng khí này chiếm thể tích \(V\) trong ruột xe với áp suất \(p_f\).
\(P_{atm} \times (n \times V_0) = p_f \times V\)
\(1 \text{ atm} \times (n \times 80 \text{ cm}^3) = 2.974 \text{ atm} \times 2000 \text{ cm}^3\)
\(n \times 80 = 2.974 \times 2000\)
\(n = \frac{5948}{80}\)
\(n = 74.35\)
Vì số lần bơm phải là số nguyên và để đảm bảo áp suất đủ chịu trọng lượng, ta làm tròn lên.
Vậy, số lần phải bơm là 75 lần.
Hy vọng với cách trình bày chi tiết từng bước, các em đã hiểu rõ bài tập này. Điều quan trọng là nắm vững định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt và cách áp dụng nó trong các tình huống thực tế. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, đừng ngần ngại hỏi cô nhé!
Đáp án:
Vậy cần phải bơm 75 lần.
Giải thích các bước giải:
Áp dụng phương trình đẳng nhiệt:
\(\begin{array}{l}
p’V’ = n{p_o}{V_o}\\
\Leftrightarrow \left( {{p_o} + \dfrac{F}{S}} \right).V’ = n{p_o}{V_o}\\
\Leftrightarrow \left( {{{10}^5} + \dfrac{{600}}{{{{30.10}^{ – 4}}}}} \right).2000 = n{.10^5}.80\\
\Leftrightarrow n = 75lan
\end{array}\)
Đáp án:
– Gọi n là số lần bơm để đưa không khí vào ruột xe.
Vậy thể tích không khí cần đưa vào ruột xe là V1 = nV0 = 80tn cm3.
Và áp suất p1 = l atm.
Áp suất p2 sau khi bơm là
và thể tích V2 = 2000 cm3
Vì quá trình bơm là đẳng nhiệt nên: p1V1 = p2.V2 ó 80n = 2000.2 => n = 50
Vậy số lần cần bơm là 50 lần.
Giải thích các bước giải: