Một đội máy kéo dự định mỗi ngày cày 40ha. Khi thực hiện, mỗi ngày đội máy kéo c…
Chúng ta bắt đầu phân tích đề bài nhé:
– Năng suất dự định: 40 ha/ngày
– Năng suất thực tế: 52 ha/ngày
– Thời gian thực tế ít hơn dự định: 2 ngày
– Diện tích thực tế cày được nhiều hơn dự định: 4 ha
Mục tiêu của chúng ta là tính diện tích thửa ruộng.
Để giải bài toán này, chúng ta sẽ gọi ẩn cho đại lượng chưa biết. Ta nên gọi ẩn cho đại lượng nào liên quan trực tiếp đến yêu cầu của đề bài. Ở đây, đề bài hỏi “diện tích thửa ruộng”, nhưng việc gọi trực tiếp diện tích có thể làm phép tính phức tạp hơn. Chúng ta hãy thử gọi ẩn cho thời gian.
Bước 1: Đặt ẩn và biểu diễn các đại lượng.
Gọi thời gian dự định để đội cày xong thửa ruộng là \(x\) (ngày).
Dựa vào dự định, ta có:
– Năng suất dự định: 40 ha/ngày.
– Diện tích thửa ruộng dự định cày: \(40x\) (ha).
Bây giờ, chúng ta xem xét thực tế.
– Năng suất thực tế: 52 ha/ngày.
– Đội cày xong trước 2 ngày, vậy thời gian thực tế là: \(x – 2\) (ngày).
– Diện tích thực tế đội cày được: \(52(x – 2)\) (ha).
Bước 2: Lập phương trình dựa trên mối quan hệ giữa diện tích thực tế và dự định.
Đề bài cho biết “đội không những cày xong trước 2 ngày mà còn cày thêm được 4ha nữa”. Điều này có nghĩa là diện tích thực tế đội cày được lớn hơn diện tích dự định cày là 4ha.
Ta có mối quan hệ: Diện tích thực tế = Diện tích dự định + 4 ha.
Hay: \(52(x – 2) = 40x + 4\)
Bước 3: Giải phương trình vừa lập.
Ta có phương trình:
\(52(x – 2) = 40x + 4\)
Mở ngoặc vế trái:
\(52x – 52 \times 2 = 40x + 4\)
\(52x – 104 = 40x + 4\)
Chuyển các hạng tử chứa \(x\) về một vế và các hạng tử tự do về vế còn lại:
\(52x – 40x = 4 + 104\)
\(12x = 108\)
Giải tìm \(x\):
\(x = \frac{108}{12}\)
\(x = 9\)
Bước 4: Kiểm tra điều kiện của ẩn và tính diện tích thửa ruộng.
Chúng ta tìm được \(x = 9\). Điều kiện của \(x\) là thời gian dự định, nên \(x\) phải là số dương. \(x = 9\) thỏa mãn điều kiện này.
Hơn nữa, thời gian thực tế là \(x – 2 = 9 – 2 = 7\) ngày. Thời gian thực tế cũng là số dương, nên nghiệm \(x=9\) là hợp lệ.
Bây giờ, chúng ta tính diện tích thửa ruộng. Có hai cách để tính:
Cách 1: Dựa vào dự định.
Diện tích thửa ruộng = Năng suất dự định \(\times\) Thời gian dự định
Diện tích thửa ruộng = \(40 \times x = 40 \times 9 = 360\) (ha).
Cách 2: Dựa vào thực tế.
Diện tích thửa ruộng = Năng suất thực tế \(\times\) Thời gian thực tế
Diện tích thửa ruộng = \(52 \times (x – 2) = 52 \times (9 – 2) = 52 \times 7 = 364\) (ha).
Ôi, có vẻ như có một chút nhầm lẫn trong cách hiểu đề bài của thầy hoặc các em rồi. Chúng ta hãy đọc lại kỹ câu “Vì vậy, đội không những cày xong trước 2 ngày mà còn cày thêm được 4ha nữa.”
Cụm từ “cày thêm được 4ha nữa” có nghĩa là cái lượng công việc mà đội đã hoàn thành trong thực tế (với năng suất cao hơn và thời gian ít hơn) đã vượt quá cái kế hoạch ban đầu của họ là bao nhiêu.
Chúng ta sửa lại cách lập phương trình ở Bước 2 nhé.
Bước 2 (Sửa lại): Lập phương trình dựa trên sự chênh lệch diện tích.
Đề bài cho biết diện tích thực tế cày được nhiều hơn dự định là 4ha.
Diện tích thực tế = Diện tích dự định + 4ha
\(52(x – 2) = 40x + 4\)
Phương trình này vẫn đúng với cách hiểu là “diện tích thực tế cày được lớn hơn diện tích dự định cày là 4ha”.
Thế thì, có thể cách hiểu về “diện tích thửa ruộng” là một diện tích cố định ban đầu. Tuy nhiên, cách diễn đạt “cày thêm được 4ha nữa” thường ám chỉ đến việc khối lượng công việc hoàn thành.
Chúng ta thử một cách đặt ẩn khác nhé. Gọi ẩn là diện tích thửa ruộng.
Bước 1 (Cách khác): Đặt ẩn và biểu diễn các đại lượng.
Gọi diện tích thửa ruộng là \(S\) (ha).
Dựa vào dự định:
– Năng suất dự định: 40 ha/ngày.
– Thời gian dự định để cày xong thửa ruộng: \(t_{dự định} = \frac{S}{40}\) (ngày).
Dựa vào thực tế:
– Năng suất thực tế: 52 ha/ngày.
– Thời gian thực tế để cày xong thửa ruộng: \(t_{thực tế} = \frac{S}{52}\) (ngày).
Bước 2 (Cách khác): Lập phương trình dựa trên mối quan hệ về thời gian và diện tích.
Đề bài cho biết đội cày xong trước 2 ngày.
\(t_{dự định} – t_{thực tế} = 2\)
Hay: \(\frac{S}{40} – \frac{S}{52} = 2\)
Tiếp theo, đề bài nói “còn cày thêm được 4ha nữa”. Điều này có nghĩa là cái lượng công việc thực tế họ hoàn thành (với năng suất 52ha/ngày trong \(t_{thực tế}\) ngày) đã vượt quá một cái gì đó.
Nếu thửa ruộng có diện tích là \(S\), thì việc “cày thêm 4ha nữa” có thể hiểu là họ đã hoàn thành một khối lượng công việc lớn hơn \(S\) là 4ha. Tức là tổng diện tích họ đã cày thực tế là \(S+4\).
Vậy ta có hai mối quan hệ:
1. Thời gian thực tế ít hơn dự định 2 ngày: \(\frac{S}{40} – \frac{S}{52} = 2\)
2. Diện tích thực tế cày được là \(S+4\), với năng suất 52ha/ngày. Thời gian thực tế là \(t_{thực tế} = \frac{S+4}{52}\).
Và ta cũng có \(t_{thực tế} = t_{dự định} – 2 = \frac{S}{40} – 2\).
Kết hợp hai điều trên:
\(\frac{S+4}{52} = \frac{S}{40} – 2\)
Bây giờ chúng ta giải phương trình này:
Để khử mẫu, ta tìm bội chung nhỏ nhất của 40 và 52.
Phân tích: \(40 = 2^3 \times 5\), \(52 = 2^2 \times 13\).
Bội chung nhỏ nhất (BCNN) của 40 và 52 là \(2^3 \times 5 \times 13 = 8 \times 5 \times 13 = 40 \times 13 = 520\).
Nhân cả hai vế của phương trình với 520:
\(520 \times \frac{S+4}{52} = 520 \times (\frac{S}{40} – 2)\)
\(10 \times (S+4) = 520 \times \frac{S}{40} – 520 \times 2\)
\(10S + 40 = 13S – 1040\)
Chuyển các hạng tử chứa \(S\) về một vế và các hạng tử tự do về vế còn lại:
\(40 + 1040 = 13S – 10S\)
\(1080 = 3S\)
Giải tìm \(S\):
\(S = \frac{1080}{3}\)
\(S = 360\) (ha)
Bước 3 (Cách khác): Kiểm tra lại kết quả.
Nếu diện tích thửa ruộng là \(S = 360\) ha.
– Thời gian dự định: \(t_{dự định} = \frac{360}{40} = 9\) ngày.
– Thời gian thực tế: \(t_{thực tế} = \frac{360}{52} = \frac{90}{13}\) ngày.
Kiểm tra chênh lệch thời gian: \(9 – \frac{90}{13} = \frac{9 \times 13 – 90}{13} = \frac{117 – 90}{13} = \frac{27}{13}\) ngày.
Kết quả này không bằng 2 ngày. Như vậy cách hiểu “cày thêm được 4ha nữa” là thêm vào diện tích thửa ruộng là chưa đúng.
Chúng ta quay lại với cách đặt ẩn ban đầu, có thể cách hiểu “cày thêm được 4ha nữa” nó liên quan đến cái năng suất thực tế.
Quay lại với ẩn \(x\) là thời gian dự định.
Diện tích dự định cày: \(40x\) (ha)
Thời gian thực tế: \(x-2\) (ngày)
Năng suất thực tế: 52 ha/ngày.
Khối lượng công việc thực tế hoàn thành là: \(52(x-2)\) ha.
Đề bài nói “Vì vậy, đội không những cày xong trước 2 ngày mà còn cày thêm được 4ha nữa.”
Điều này có nghĩa là, với cái kế hoạch ban đầu là cày \(40x\) ha trong \(x\) ngày, thì đến khi họ hoàn thành xong công việc, họ đã cày được một diện tích lớn hơn dự định là 4ha.
Vậy, Diện tích thực tế cày được = Diện tích dự định cày + 4 ha.
\(52(x-2) = 40x + 4\)
Phương trình này đã được giải ở trên và cho ta \(x=9\).
Nếu \(x=9\) ngày là thời gian dự định.
Diện tích dự định cày là \(40 \times 9 = 360\) ha.
Thời gian thực tế là \(9-2 = 7\) ngày.
Năng suất thực tế là 52 ha/ngày.
Diện tích thực tế cày được là \(52 \times 7 = 364\) ha.
Và \(364 = 360 + 4\). Điều này khớp với đề bài “cày thêm được 4ha nữa”.
Và thời gian thực tế (7 ngày) ít hơn thời gian dự định (9 ngày) là 2 ngày. Điều này cũng khớp với đề bài.
Vậy, diện tích thửa ruộng mà đội cày chính là diện tích mà họ đã hoàn thành trong thực tế.
Diện tích thửa ruộng = Diện tích thực tế cày được = 364 ha.
Để chắc chắn, chúng ta có thể thử lại bằng cách giả sử diện tích là 364 ha ngay từ đầu.
Nếu diện tích là 364 ha:
– Thời gian dự định: \(\frac{364}{40} = 9.1\) ngày.
– Thời gian thực tế: \(\frac{364}{52} = 7\) ngày.
Chênh lệch thời gian: \(9.1 – 7 = 2.1\) ngày. Cái này không khớp với 2 ngày.
Rõ ràng là có sự mâu thuẫn trong cách hiểu hoặc cách diễn đạt của đề bài. Tuy nhiên, trong các bài toán năng suất, “cày thêm được X ha nữa” thường được hiểu là khối lượng công việc hoàn thành đã vượt quá một mốc nào đó.
Chúng ta xem xét lại câu: “Vì vậy, đội không những cày xong trước 2 ngày mà còn cày thêm được 4ha nữa.”
Hãy tưởng tượng có một thửa ruộng với một diện tích cố định. Nếu đội định cày diện tích đó trong \(x\) ngày với năng suất 40ha/ngày.
Và khi họ thực tế làm việc, họ cày với năng suất 52ha/ngày, và xong sớm hơn 2 ngày.
Hãy gọi \(S\) là diện tích thửa ruộng.
Thời gian dự định: \(t_1 = S/40\)
Thời gian thực tế: \(t_2 = S/52\)
Ta có: \(t_1 – t_2 = 2\)
\(\frac{S}{40} – \frac{S}{52} = 2\)
\(\frac{13S – 10S}{520} = 2\)
\(\frac{3S}{520} = 2\)
\(3S = 1040\)
\(S = \frac{1040}{3}\) ha.
Với \(S = \frac{1040}{3}\) ha.
Thời gian dự định: \(t_1 = \frac{1040/3}{40} = \frac{1040}{120} = \frac{104}{12} = \frac{26}{3}\) ngày.
Thời gian thực tế: \(t_2 = \frac{1040/3}{52} = \frac{1040}{156} = \frac{104}{15.6}\) — đây là phép tính sai.
\(t_2 = \frac{1040}{3 \times 52} = \frac{20}{3}\) ngày.
Kiểm tra lại chênh lệch thời gian: \(t_1 – t_2 = \frac{26}{3} – \frac{20}{3} = \frac{6}{3} = 2\) ngày.
Điều này khớp với yêu cầu “xong trước 2 ngày”.
Thế còn “cày thêm được 4ha nữa”?
Nếu thửa ruộng có diện tích là \(S = \frac{1040}{3}\) ha, thì việc cày xong thửa ruộng này đã hoàn thành.
Có lẽ cách hiểu “cày thêm được 4ha nữa” là một hệ quả của việc hoàn thành sớm.
Tức là, trong cái khoảng thời gian 2 ngày mà họ làm sớm hơn, nếu họ cứ tiếp tục cày với năng suất thực tế thì họ sẽ cày được thêm bao nhiêu?
Nếu họ cày trong 2 ngày với năng suất 52 ha/ngày, họ sẽ cày được: \(52 \times 2 = 104\) ha.
Nếu đề bài hiểu là: “Diện tích mà đội cày được trong thời gian thực tế nhiều hơn diện tích thửa ruộng ban đầu là 4ha.”
Tức là, diện tích thực tế là \(S_{thực tế}\), và \(S_{thực tế} = S_{thửa ruộng} + 4\).
Và \(S_{thửa ruộng}\) được cày trong thời gian dự định \(t_1 = S_{thửa ruộng} / 40\).
Và \(S_{thực tế}\) được cày trong thời gian thực tế \(t_2 = S_{thực tế} / 52\).
Và \(t_1 – t_2 = 2\).
Ta có hệ phương trình:
1. \(t_1 = S_{thửa ruộng} / 40\)
2. \(t_2 = (S_{thửa ruộng} + 4) / 52\)
3. \(t_1 – t_2 = 2\)
Thay (1) và (2) vào (3):
\(\frac{S_{thửa ruộng}}{40} – \frac{S_{thửa ruộng} + 4}{52} = 2\)
Đặt \(S_{thửa ruộng} = S\).
\(\frac{S}{40} – \frac{S + 4}{52} = 2\)
Nhân cả hai vế với BCNN(40, 52) = 520:
\(520 \times \frac{S}{40} – 520 \times \frac{S + 4}{52} = 520 \times 2\)
\(13S – 10(S + 4) = 1040\)
\(13S – 10S – 40 = 1040\)
\(3S – 40 = 1040\)
\(3S = 1040 + 40\)
\(3S = 1080\)
\(S = \frac{1080}{3}\)
\(S = 360\) (ha)
Kiểm tra lại với \(S = 360\) ha.
Diện tích thửa ruộng là 360 ha.
– Thời gian dự định: \(t_1 = \frac{360}{40} = 9\) ngày.
– Diện tích thực tế cày được: \(360 + 4 = 364\) ha.
– Thời gian thực tế: \(t_2 = \frac{364}{52} = 7\) ngày.
Chênh lệch thời gian: \(t_1 – t_2 = 9 – 7 = 2\) ngày.
Kết quả này hoàn toàn khớp với đề bài.
Vậy, diện tích thửa ruộng mà đội cày là 360ha.
Tóm lại các bước giải:
1. Đặt ẩn cho diện tích thửa ruộng. Gọi \(S\) (ha) là diện tích thửa ruộng.
2. Biểu diễn thời gian dự định và thời gian thực tế theo \(S\).
– Thời gian dự định: \(t_{dự định} = \frac{S}{40}\) (ngày)
– Thời gian thực tế: \(t_{thực tế} = \frac{S}{52}\) (ngày)
3. Lập phương trình dựa vào mối quan hệ thời gian và diện tích cày thêm.
Đội cày xong trước 2 ngày, nên \(t_{dự định} – t_{thực tế} = 2\).
Đội cày thêm 4ha, nghĩa là diện tích thực tế cày được là \(S+4\).
Vậy, ta có phương trình: \(\frac{S}{40} – \frac{S+4}{52} = 2\).
4. Giải phương trình:
Tìm BCNN(40, 52) = 520.
Nhân cả hai vế với 520: \(13S – 10(S+4) = 1040\).
\(13S – 10S – 40 = 1040\).
\(3S = 1080\).
\(S = 360\).
5. Kết luận: Diện tích thửa ruộng mà đội cày là 360ha.
Các em thấy đó, bài toán này đòi hỏi chúng ta phải suy luận cẩn thận về ý nghĩa của từng câu chữ. Chúc các em học tốt!
Đáp án:
Diện tích thửa ruộng cày được là 364ha
Lời giải:
Gọi số ngày dự định hoàn thành là \(x\) (ngày)
Diện tích định cày lúc đầu là \(40x\) (ha)
Thực tế, mỗi ngày cày được \(52\)ha và cày trong \((x-2)\) ngày
Diện tích thực tế cày được là \(52(x-2)\)ha
Ta có: \(52(x-2)=40x+4 ⇔ 12x=108 \)
\(⇔x=9\) (ngày)
⇒ Diện tích thửa ruộng cày được là:
\(52(x-2)=52(9-2)=52.7=364\) (ha)
Gọi x ( ngày ) là số ngày dự định cày xong ( x ∈ N* )
=> Số ngày cày thực tế là : x-2 ( ngày )
Theo đề ra ta có :
40x + 4 = 52( x-2 )
<=> 12x = 108 <=> x = 9 ( ngày )
Diện tích thửa ruộng mà đội đó cày là :
52.7 = 364(ha)
Đáp số : 364ha