Một vật khối lượng 10 kg đang trượt với vận tốc 10 m/s thì đi vào mặt phẳng nằm …
Đề bài yêu cầu: Tính công của lực ma sát đã thực hiện đến khi vật dừng lại.
Chúng ta cùng nhau phân tích bài toán và tìm lời giải nhé.
Tóm tắt đề bài:
- Khối lượng vật: \(m = 10 \text{ kg}\)
- Vận tốc ban đầu: \(v_0 = 10 \text{ m/s}\)
- Mặt phẳng ngang có hệ số ma sát \(u\) (chúng ta sẽ thấy rằng giá trị của \(u\) không cần thiết để tính công trong trường hợp này!)
- Vật dừng lại, nghĩa là vận tốc cuối cùng: \(v = 0 \text{ m/s}\)
Phân tích và phương pháp giải:
Để tìm công của lực ma sát khi vật dừng lại, chúng ta có thể sử dụng Định lí động năng. Định lí này rất mạnh mẽ và giúp chúng ta giải quyết các bài toán liên quan đến công và năng lượng một cách hiệu quả.
Nội dung Định lí động năng: Độ biến thiên động năng của một vật bằng tổng công của các ngoại lực tác dụng lên vật đó.
Công thức: \[ \Delta W_đ = A_{tổng} \]
Trong đó:
- \( \Delta W_đ = W_{đ_{sau}} – W_{đ_{trước}} \) là độ biến thiên động năng.
- \( W_đ = \frac{1}{2} m v^2 \) là công thức tính động năng.
- \( A_{tổng} \) là tổng công của tất cả các lực tác dụng lên vật.
Các bước giải chi tiết:
Bước 1: Xác định các lực tác dụng lên vật và công của chúng.
Khi vật trượt trên mặt phẳng ngang, có ba lực chính tác dụng lên vật:
- Trọng lực (P): Luôn hướng thẳng đứng xuống dưới.
- Phản lực pháp tuyến (N): Do mặt phẳng tác dụng lên vật, hướng thẳng đứng lên trên, vuông góc với mặt phẳng.
- Lực ma sát trượt (Fms): Hướng ngược chiều chuyển động, cản trở chuyển động của vật.
Chúng ta cần tính công của từng lực:
- Công của trọng lực (P): Trọng lực có phương thẳng đứng, vuông góc với phương chuyển động của vật (theo phương ngang). Do đó, công của trọng lực bằng 0.
- Công của phản lực pháp tuyến (N): Tương tự, phản lực pháp tuyến cũng có phương thẳng đứng, vuông góc với phương chuyển động. Do đó, công của phản lực pháp tuyến bằng 0.
- Công của lực ma sát (Fms): Lực ma sát có phương nằm ngang, ngược chiều với chiều chuyển động. Lực ma sát là lực duy nhất thực hiện công âm (công cản) trong quá trình này.
Như vậy, tổng công của các ngoại lực tác dụng lên vật chính là công của lực ma sát: \( A_{tổng} = A_{ms} \).
Bước 2: Tính động năng của vật ở trạng thái ban đầu và cuối cùng.
- Động năng ban đầu (Wđ_trước): Khi vật có vận tốc \(v_0 = 10 \text{ m/s}\).
Áp dụng công thức động năng:
\[ W_{đ_{trước}} = \frac{1}{2} m v_0^2 \]
Thay số:
\[ W_{đ_{trước}} = \frac{1}{2} \times 10 \text{ kg} \times (10 \text{ m/s})^2 \]
\[ W_{đ_{trước}} = \frac{1}{2} \times 10 \times 100 \]
\[ W_{đ_{trước}} = 500 \text{ J} \] - Động năng cuối cùng (Wđ_sau): Khi vật dừng lại, vận tốc \(v = 0 \text{ m/s}\).
Áp dụng công thức động năng:
\[ W_{đ_{sau}} = \frac{1}{2} m v^2 \]
Thay số:
\[ W_{đ_{sau}} = \frac{1}{2} \times 10 \text{ kg} \times (0 \text{ m/s})^2 \]
\[ W_{đ_{sau}} = 0 \text{ J} \]
Bước 3: Áp dụng Định lí động năng để tìm công của lực ma sát.
Theo Định lí động năng:
\[ A_{tổng} = W_{đ_{sau}} – W_{đ_{trước}} \]
Vì \( A_{tổng} = A_{ms} \), ta có:
\[ A_{ms} = W_{đ_{sau}} – W_{đ_{trước}} \]
Thay các giá trị đã tính được vào:
\[ A_{ms} = 0 \text{ J} – 500 \text{ J} \]
\[ A_{ms} = -500 \text{ J} \]
Kết luận:
Công của lực ma sát đã thực hiện đến khi vật dừng lại là \( \mathbf{-500 \text{ J}} \).
Giá trị âm của công ma sát cho thấy rằng lực ma sát đã thực hiện công cản, làm giảm động năng của vật cho đến khi vật dừng lại. Đây là một kết quả hoàn toàn hợp lý, các em nhé!
Thầy mong rằng qua bài giải chi tiết này, các em đã hiểu rõ hơn về cách áp dụng Định lí động năng trong các bài toán thực tế. Chúc các em học tốt!
Đáp án:
\(A_[F_[ms]] = – 500 (J)\)
Giải thích các bước giải:
\(m = 10 (kg)\)
\(v_0 = 10 (m/s)\)
Đến khi vật dừng lại, lực ma sát đã thực hiện công là \(A_[F_[ms]]\).
Áp dụng định lí động năng, ta có:
\(A_[F_[ms]] = W_đ – W_[đ0] = – 1/2 mv_^2\)
\(= – 1/2 .10.10^2 = – 500 (J)\)
Đáp án:
Giải thích các bước giải: