nêu phong cảnh thiên nhiên xứ huế và mạch cảm xúc trong tâm trạnh của nhà thơ đâ…
Bước 1: Tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm và bối cảnh bài thơ.
Trước hết, các em cần nắm được đôi nét về Hàn Mặc Tử. Ông là một nhà thơ tài hoa nhưng có cuộc đời đầy bi thương. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ Mới, với những đóng góp độc đáo cho nền thơ Việt Nam.
“Đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác vào năm 1939, khi Hàn Mặc Tử đang sống tại Quy Nhơn nhưng vẫn nhớ về Huế, nơi ông từng gắn bó. Bài thơ là sự thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn bã của nhà thơ trước cảnh vật và cuộc đời.
Bước 2: Phân tích phong cảnh thiên nhiên xứ Huế qua các hình ảnh trong bài thơ.
Để hình dung được phong cảnh thiên nhiên xứ Huế, chúng ta sẽ lần lượt phân tích các khổ thơ:
* Khổ 1:
* “Trăng chờ gió,” “mây” – những hình ảnh gợi lên sự tĩnh lặng, nhẹ nhàng của không gian.
* “Ai ngồi dưới trăng?” – câu hỏi tu từ mở ra một không gian hư ảo, gợi sự suy tư.
* “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?” – hình ảnh con thuyền neo đậu bên bến sông lung linh ánh trăng, gợi sự thơ mộng, lãng đãng.
* “Có chăng hoa bưởi thơm?” – câu hỏi về mùi hương đặc trưng của hoa bưởi, gợi sự tinh tế, quyến rũ của thiên nhiên.
Qua khổ thơ đầu, ta thấy bức tranh thiên nhiên Huế hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng, thanh khiết, có chút mơ hồ, huyền ảo. Ánh trăng, sông nước, hoa bưởi là những nét chấm phá tinh tế.
* Khổ 2:
* “Mặt trời xuống biển,” “mây trên núi” – những hình ảnh đối lập, vừa bao la, khoáng đạt vừa gần gũi, thân quen.
* “Ai mang vân trúc đi?” – câu hỏi gợi sự tiếc nuối, bâng khuâng về một hình ảnh đẹp đã không còn. Vân trúc có thể là hình ảnh thơ mộng của thiên nhiên hoặc một ai đó gắn bó với nhà thơ.
* “Ngựa theo đàn…” – hình ảnh quen thuộc của làng quê, gợi sự sinh hoạt bình dị.
* “Sóng gợn t*r*ang” – tiếp tục tái hiện không gian sông nước thơ mộng.
Ở khổ thơ thứ hai, bức tranh thiên nhiên Huế mở rộng hơn với không gian biển, núi, làng quê. Có cả sự chuyển động, sự sống nhưng vẫn phảng phất nỗi niềm bâng khuâng.
* Khổ 3:
* “Dài tay nhớ…” – thể hiện một nỗi nhớ da diết, mãnh liệt.
* “Nhớ khói,” “nhớ sương” – những hình ảnh mờ ảo, khói sương vốn là đặc trưng của Huế, gợi sự u hoài, bí ẩn.
* “Nhớ người,” “nhớ cảnh” – sự hòa quyện giữa nỗi nhớ con người và cảnh vật.
* “Ai thấy mặt trời đỏ hạ trên đường đi?” – hình ảnh mặt trời đỏ rực lúc hoàng hôn, một khung cảnh ấn tượng, có thể gợi sự chia ly, hoặc một vẻ đẹp dữ dội, bi tráng.
Khổ thơ thứ ba là sự trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ, và trong nỗi nhớ đó, thiên nhiên Huế hiện lên với những nét đẹp đặc trưng, có phần tĩnh lặng, u hoài nhưng cũng rất gợi cảm.
Bước 3: Phân tích mạch cảm xúc trong tâm trạng nhà thơ.
Mạch cảm xúc của nhà thơ trong bài thơ này là một dòng chảy phức tạp, đan xen giữa yêu thương, hoài niệm và cô đơn, khắc khoải.
* Nỗi nhớ da diết, thiết tha đối với Huế: Từ những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng, nhà thơ đã thể hiện nỗi nhớ quê hương, nhớ những gì thân thuộc. Nỗi nhớ này không chỉ dừng lại ở cảnh vật mà còn ẩn chứa sự gắn bó, yêu thương sâu sắc.
* Sự cô đơn, lạc lõng: Tuy yêu Huế, nhưng nhà thơ lại cảm thấy mình lạc lõng giữa không gian ấy. Những câu hỏi tu từ như “Ai ngồi dưới trăng?”, “Ai mang vân trúc đi?”, “Ai thấy mặt trời đỏ hạ trên đường đi?” thể hiện sự cô đơn, bơ vơ, tìm kiếm một sự đồng cảm, một bóng hình quen thuộc nhưng không tìm thấy.
* Ước mơ hòa nhập, tìm thấy ý nghĩa cuộc sống: Trong nỗi cô đơn đó, nhà thơ vẫn khao khát được hòa nhập, được kết nối với cuộc sống. Hình ảnh “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” cho thấy sự đồng cảm giữa tâm trạng con người và cảnh vật. Nhà thơ muốn tìm thấy niềm vui, muốn thoát khỏi sự cô đơn, nhưng dường như lại bất lực trước hoàn cảnh.
* Nỗi niềm khắc khoải, u buồn: Bài thơ toát lên một nỗi buồn man mác, thấm đẫm cả cảnh vật và tâm hồn nhà thơ. Nỗi buồn này xuất phát từ cuộc đời bất hạnh, bệnh tật, và có lẽ cả sự cô đơn trong tình yêu.
Kết luận:
Qua việc phân tích, chúng ta thấy rằng, phong cảnh thiên nhiên xứ Huế trong “Đây thôn Vĩ Dạ” hiện lên với vẻ đẹp dịu dàng, thơ mộng, có chút huyền ảo, đặc trưng với sông nước, trăng sao, khói sương. Song hành cùng vẻ đẹp thiên nhiên ấy là mạch cảm xúc đan xen phức tạp của nhà thơ: nỗi nhớ quê hương da diết, sự cô đơn, lạc lõng trong cuộc đời, và ước mơ được hòa nhập, tìm thấy niềm vui, ý nghĩa cuộc sống. Tất cả hòa quyện lại tạo nên một bức tranh tâm cảnh đầy ám ảnh và lay động lòng người.
Các em về nhà đọc lại bài thơ, suy ngẫm thêm và ghi nhớ những nội dung chính mà chúng ta vừa phân tích nhé. Cô tin rằng, các em sẽ ngày càng yêu hơn những áng thơ văn của dân tộc.
Hàn Mạc Tử được biết đến là một nhà thơ có sức sáng tạo mãnh liệt với phong cách “điên”, có đôi khi là vượt ra khỏi thế giới hiện thực, tràn ngập mộng mị. Tuy nhiên sáng tác của ông vẫn có những vần thơ về thiên nhiên mượt mà, đẹp tươi như rọi vào lòng người đọc xúc cảm mới. Bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” là một bức tranh tuyệt đẹp về cảnh vật, thiên nhiên xứ Huế mộng mơ. Bức tranh ấy neo đậu trong lòng nhà thơ và neo lại trong lòng người đọc nhiều dư âm.
“Đây thôn Vỹ Dạ” là bài thơ được ghi sau một bức ảnh được gửi từ người con gái xứ Huế. Khi ấy Hàn Mạc Tử đang ở Quy Nhơn dưỡng bệnh. Nỗi nhớ mong, hoài niệm về con người và thiên nhiên xứ Huế, Hàn Mạc Tử đã viết bài thơ tuyệt đẹp này.
Thiên nhiên trong bài thơ “Đây thôn Vỹ Dạ” dường như cũng mang nhiều gam màu, nhiều cung bậc lẫn lộn trong chính cảm xúc của nhà thơ.
Mở đầu bài thơ là lời trách móc nhẹ nhàng, tình tứ người “khách xa” sao lâu nay không về Huế chơi:
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Tứ thơ thật đẹp, thật tinh tế và ẩn chứa nội dung sâu xa. Nỗi nhớ về Huế được tác giả gửi gắm qua lời trách yêu nhẹ nhàng này. Hàn Mạc Tử đã dẫn dụ người đọc khám phá một bức tranh xứ Huế nhiều nét đẹp riêng.
Sau lời trách móc ấy, một bức tranh thiên nhiên tươi sáng, tràn đầy sức sống hiện ra:
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọ
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Bức tranh thiên nhiên xứ Huế vào buổi sáng ban mai tinh khôi, trong lành. Ánh nắng đầu ngày luôn tinh khô, tràn đầy sức sống nhất. Dường như ánh nắng đang lên cao trên những hàng cau dài thẳng tắp. Từ “nắng” được lặp lại hai lần như nhấn mạnh bầu không khí trong lành nhất ở xứ Huế mộng và thơ. Một khu vườn hiện lên thật xinh xắn và tươi đẹp. “Vườn ai” phiếm chỉ một địa danh cụ thể nào đó nhưng tác giả ẩn ý không nói ra. Màu xanh “như ngọc” của khu vườn khiến cho bức tranh bừng lên sức sống. Không phải xanh non, xanh rì mà là “xanh mướt”. Từ “mướt” làm mềm cả câu thơ và khiến cho khung cảnh trở nên hiền dịu và nên thơ hơn
Đến câu thơ cuối dường như hình ảnh con người mới xuất hiện. Mặt chữ điền là khuôn mặt phú hậu, hiền lành của người con trai. Cây trúc biểu tượng cho chí trí nam chi. Có lẽ có “khách đường xa” nào đã ghé thăm xứ Huế, nhưng chỉ là ghé thăm một cách thầm lặng như vậy.
Qua ngôn ngữ điêu luyện, giọng văn nhẹ nhàng, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên một bức tranh thiên nhiên xứ Huế nên thơ nhất. Tuy nhiên sang đến khổ thơ thứ hai thì dường như bức tranh thiên nhiên ở đây đã bắt đầu chuyển màu:
Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Có một sự chia ly, tan vỡ ở trong hai câu thơ. Mây và gió vốn chung đường nhưng trong thơ Hàn Mạc Tử lại chia lìa đôi ngả. Hình ảnh hoa bắp ven bờ sông hương lay nhẹ rơi rụng xuống mặt nước khiến người đọc liên tưởng đến sự nổi trôi, bấp bênh của một đời người. Thiên nhiên ở đây vẫn đẹp, nhưng đẹp mang nỗi buồn mênh mang và sâu thẳm.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
Xứ Huế với một đêm nên thơ, tràn ngập ánh trăng nhưng dường như tác giả đang thấp thỏm, lo âu điều gì đó. Từ “kịp” khiến cho mạch thơ vỡ ra, vội vàng và gấp gáp hơn. Tác giả đang hỏi ai hay hỏi chính bản thân mình
Và đến khổ thơ cuối thì dường như thiên nhiên đã chuyển sang gam màu khác, mờ ảo, huyền diệu hơn:
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ai biết tình ai có đậm đà
Một đêm trăng mờ ảo, sông nước mênh mông khiến tác giả có cảm giác như mọi thứ đang ở trong cõi hư không. Màu trắng bao trùm lấy khổ thơ cuối. Sự mộng mị của cảnh sông nước khiến cho tác giả thấy mình chới với, không có điểm tựa. Câu hỏi cuối cùng của bài thơ là một câu hỏi da diết và day dứt, nó như một điệp âm cứ thổn thức mãi trong lòng tác giả.
Bức tranh thiên nhiên của xứ Huế có sự chuyển biến qua ba khổ thơ theo hướng hư không, mờ ảo dần. Tuy nhiên người đọc vẫn nhận ra được sức sống tràn trề, nét đẹp tinh khôi của một bức tranh thiên nhiên ở Huế.
“Đây thôn Vỹ Dạ” là một bức tranh về xứ Huế vừa tươi đẹp, vừa mộng mơ, vừa huyền ảo khiến người đọc có cảm giác như đang lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh.
Bên cạnh Phân tích bức tranh thiên nhiên trong bài Đây thôn Vĩ Dạ các em cần tìm hiểu thêm những nội dung khác như Phân tích cái tôi trữ tình của Hàn Mạc Tử trong bài Đây thôn Vĩ Dạ hay phần Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ nhằm củng cố kiến thucws cuar minhf
Hàn Mạc Tử là thi sĩ với phong cách sang tác riêng và “lạ” trong phong trào Thơ mới. Thơ ông luôn bộc lộ nỗi niềm da diết với đời, với người nhưng nhận lại là sự thờ ơ và lãnh đạm. Đọc thơ Hàn Mạc Tử, chúng ta nhận ra cái tôi hơi hướng “điên” với những vần thơ “suýt” vượt ra khỏi “mảnh đất hiện thực”. Nhưng đối lập với những hình ảnh “điên” đó là những hình ảnh thơ rất đẹp và thi vị. Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” là một ví dụ tiêu biểu. Bức tranh thiên nhiên xứ Huế hiện lên nên thơ và tươi đẹp qua những nét vẽ tài hoa của tác giả.
“Đây thôn Vĩ Dạ” thực ra là lời đáp của nhà thơ dành cho một cô gái ở thôn Vĩ Dạ khi cô gái ấy trách sao lâu rồi không ghé về chơi. Tứ thơ được viết ra từ mạch cảm xúc chân thành và mãnh liệt đó.
Huế luôn là mảnh đất gợi nhớ, gợi thương đối với những ai đã từng đặt chân qua đây. Bởi nó có một nét đẹp vừa tươi mới, vừa cổ kính, vừa gần gũi. Thiên nhiên trong bài thơ chính là chất liệu để làm tôn thêm hình ảnh con người nơi xứ Huế.
Câu thơ đầu có thể nói là câu thơ phác họa một cách rõ nét nhất bức tranh thiên nhiên tươi đẹp và đầy lôi cuốn của mảnh đất kinh đô này:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Khổ thơ được cất lên bằng tiếng trách hờ của cô gái đối với nhân vật trữ tình. Một câu trách nhẹ nhàng, nhưng tình cảm và đầy sự tinh tế. Dù có trách thì người khác cũng không nỡ lòng nào để giận để hờn. Và đằng sau câu trách ấy là một bức tranh thiên nhiên thơ mộng được vẽ ra. Có thể nói tác giả đã không còn đơn thuần dùng chất liệu ngôn ngữ để vẽ tranh nữa mà đã dùng cả sự rung động trong trái tim để vẽ nên bức tranh tuyệt đẹp đó.
Thiên nhiên cứ thế sang rực lên, tươi tắn và khỏe khắn. Cách dùng từ “nắng mới lên” gợi cho người đọc liên tưởng đến nắng đầu ngày, nắng bình minh khoan thai, dễ chịu và nhẹ nhàng. Nắng mới lên đậu trên hàng cau xanh vút khiến người đọc mường tượng đến một khung cảnh tSahanh mát và trong lành.
Ở câu thơ thứ ba, tác giả dùng đại từ phiếm chỉ “vườn ai” như để hỏi người nhưng cũng là tự hỏi mình. “Vườn ai” vừa bộc lộ sự kín đáo, e dè, vừa thê hiện sự tinh tế và sâu sắc của nhà thơ. “Vườn ai” thì chính trong trái tin của nhân vật trữ tình đã hiểu quá rõ, quá sâu sắc rồi. Màu xanh của khu vườn là một màu xanh rất đặc biệt và lạ kì. “Xanh như ngọc” chính là màu xanh vừa trong lành vừa tinh khôi. Từ “mướt” như làm sang bừng lên cả câu thơ, tạo sự mềm mại và uyển chuyển cho khu vườn buổi sang mai.
Một bức tranh thiên nhiên giàu chất thơ và tươi đẹp biết bao nhiêu.
Sang đến câu thơ thứ hai thì thiên nhiên từ tươi tắn chuyển sang buồn bã và vương sự chia li.
Gió theo lối gió mây đường mây
DÒng nước buồn thiu hoa bắp lay
Gió mây xưa nay vốn đi chung đường nhưng trong thơ của Hàn Mạc Tử lại là chia đôi thành hai đường xa lạ. Từ “buồn thiu” như diễn tả được tâm trạng của thiên nhiên, một sự não nề và thê lương.
Đoạn cuối có thể xem là đoạn thiên nhiên thôn Vi trở nên huyền ảo và mơ hồ hơn. Có thể nói đó chính là sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc của Hàn Mạc Tử.
Với những nét vẽ đơn giản, nhẹ nhàng nhưng tinh tế và sâu sắc, Hàn Mạc Tử đã vẽ lên trước mắt người xem một bức tranh thiên nhiên xứ huế vừa tươi mới, vừa thơ mộng, vừa u sầu. Có lẽ đó chính là nét đặc trưng của Huế.