Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

nhận biết 5 dd mất nhãn chỉ= một thuốc thử : Na2SO4, Ba(NO3)2, FeCl3, Al2(SO4)3,…

nhận biết 5 dd mất nhãn chỉ= một thuốc thử : Na2SO4, Ba(NO3)2, FeCl3, Al2(SO4)3,…

nhận biết 5 dd mất nhãn chỉ= một thuốc thử : Na2SO4, Ba(NO3)2, FeCl3, Al2(SO4)3, MgCl2
Hỏi bởi: Nguyễn Lee
3 câu trả lời
▲ 4
Chào các em học sinh thân mến! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau chinh phục một dạng bài tập nhận biết hóa chất quen thuộc trong chương trình Hóa học lớp 9. Bài tập này yêu cầu chúng ta sử dụng một thuốc thử duy nhất để phân biệt 5 dung dịch muối đã mất nhãn: Na₂SO₄, Ba(NO₃)₂, FeCl₃, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.

Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích từng bước một, bám sát kiến thức đã học trong sách giáo khoa nhé!

Bước 1: Phân tích đề bài và các chất cần nhận biết.
Chúng ta có 5 dung dịch muối:
– Natri sunfat (Na₂SO₄)
– Bari nitrat (Ba(NO₃)₂)
– Sắt(III) clorua (FeCl₃)
– Nhôm sunfat (Al₂(SO₄)₃)
– Magie clorua (MgCl₂)

Mục tiêu là tìm ra một thuốc thử duy nhất có thể tạo ra những dấu hiệu khác nhau khi cho tác dụng với từng dung dịch, giúp chúng ta phân biệt chúng.

Bước 2: Lựa chọn thuốc thử.
Trong các hóa chất chúng ta đã học, có những chất có khả năng tạo kết tủa hoặc khí với nhiều loại muối khác nhau. Chúng ta hãy thử xem xét một số thuốc thử tiềm năng:
– Axit mạnh (như HCl, H₂SO₄): Có thể tạo khí với muối cacbonat hoặc sunfua, nhưng ở đây chúng ta không có các loại muối đó.
– Bazơ mạnh (như NaOH, KOH): Có thể tạo kết tủa với nhiều ion kim loại.
– Dung dịch muối khác: Có thể tạo kết tủa hoặc khí.

Với các ion có trong danh sách, đặc biệt là ion Ba²⁺, SO₄²⁻, Al³⁺, Fe³⁺, Mg²⁺, ta nhận thấy rằng:
– Ion Ba²⁺ sẽ phản ứng với ion SO₄²⁻ tạo kết tủa trắng BaSO₄.
– Ion Fe³⁺ có màu đặc trưng là vàng nâu.
– Ion Al³⁺ có thể tạo kết tủa với bazơ.
– Ion Mg²⁺ có thể tạo kết tủa với bazơ.

Xét đến khả năng tạo kết tủa, dung dịch bari clorua (BaCl₂) hoặc dung dịch axit sulfuric (H₂SO₄) là những ứng cử viên sáng giá. Tuy nhiên, H₂SO₄ sẽ phản ứng với Ba(NO₃)₂ tạo kết tủa BaSO₄, và cũng phản ứng với Al₂(SO₄)₃ tạo ra H₂SO₄ dư, làm cho việc phân biệt khó khăn hơn.
Nếu ta dùng dung dịch bari clorua (BaCl₂), ta có thể phân biệt được các dung dịch chứa ion SO₄²⁻. Tuy nhiên, nó không tạo kết tủa với các ion còn lại.

Hãy xem xét một thuốc thử khác. Dung dịch chứa ion SO₄²⁻ như natri sunfat (Na₂SO₄) có thể phản ứng với ion Ba²⁺ tạo kết tủa. Tuy nhiên, nó sẽ không phản ứng với các ion còn lại theo cách tạo kết tủa rõ ràng.

Chúng ta hãy thử nghĩ đến một thuốc thử có thể tạo ra kết tủa với nhiều ion kim loại khác nhau hoặc tạo ra màu sắc đặc trưng.
Trong trường hợp này, việc lựa chọn một thuốc thử duy nhất có thể khá thách thức nếu chỉ dựa vào các phản ứng tạo kết tủa đơn giản. Tuy nhiên, nếu ta xem xét kỹ các ion, dung dịch bari nitrat (Ba(NO₃)₂) là một lựa chọn tốt vì nó chứa ion Ba²⁺, có thể phản ứng với ion SO₄²⁻ để tạo kết tủa. Nó cũng không phản ứng trực tiếp với các ion Cl⁻, NO₃⁻, Fe³⁺, Al³⁺, Mg²⁺ theo cách tạo kết tủa ngay lập tức (trừ khi có các phản ứng phức tạp hơn hoặc cần đun nóng/thêm thuốc thử khác).

Hãy thử với dung dịch axit sulfuric loãng (H₂SO₄).

Bước 3: Tiến hành nhận biết bằng thuốc thử H₂SO₄.

Chúng ta lấy mỗi dung dịch một ít ra ống nghiệm riêng biệt, đánh số thứ tự tương ứng với các dung dịch ban đầu. Sau đó, chúng ta sẽ cho từng giọt dung dịch axit sulfuric loãng vào mỗi ống nghiệm.

Quan sát hiện tượng xảy ra:

1. Ống nghiệm nào xuất hiện kết tủa trắng, không tan trong axit dư:
* Nếu có kết tủa trắng BaSO₄, đó là dung dịch chứa ion Ba²⁺ hoặc ion SO₄²⁻.
* Trong trường hợp này, nếu cho H₂SO₄ vào dung dịch Ba(NO₃)₂, sẽ có kết tủa trắng BaSO₄:
Ba(NO₃)₂ + H₂SO₄ → BaSO₄↓ + 2HNO₃
* Nếu cho H₂SO₄ vào dung dịch Na₂SO₄, cũng sẽ có kết tủa trắng BaSO₄:
Na₂SO₄ + H₂SO₄ → BaSO₄↓ + H₂SO₄ (Lưu ý: Đây không phải là phản ứng để nhận biết Na₂SO₄ với H₂SO₄, mà là H₂SO₄ là thuốc thử để nhận biết ion SO₄²⁻ hoặc Ba²⁺.)

* Do đó, nếu dùng H₂SO₄ làm thuốc thử, nó sẽ kết tủa với cả Ba(NO₃)₂ và Na₂SO₄. Điều này làm cho việc phân biệt ban đầu trở nên khó khăn nếu chỉ dựa vào H₂SO₄.

Hãy quay lại xem xét các thuốc thử khác.

Thử lại với một thuốc thử có thể tạo ra nhiều dấu hiệu hơn.
Chúng ta có các ion sau: Na⁺, Ba²⁺, Fe³⁺, Al³⁺, Mg²⁺, SO₄²⁻, NO₃⁻, Cl⁻.

Xét ion Fe³⁺ có màu vàng nâu đặc trưng. Nếu dung dịch nào có màu vàng nâu thì đó chính là FeCl₃. Vậy ta có thể nhận biết được FeCl₃ ngay lập tức.

Vậy, thuốc thử nào có thể giúp chúng ta phân biệt các dung dịch còn lại?
Các dung dịch còn lại là: Na₂SO₄, Ba(NO₃)₂, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.
Chúng ta đã dùng FeCl₃ để nhận biết.
Thuốc thử còn lại cần tìm.

Hãy nghĩ đến khả năng tạo kết tủa. Ion SO₄²⁻ sẽ kết tủa với Ba²⁺. Ion Al³⁺ và Mg²⁺ có thể tạo kết tủa với bazơ.

Thử sử dụng dung dịch natri hydroxit (NaOH) làm thuốc thử. NaOH có thể tạo kết tủa với nhiều ion kim loại.

Bước 4: Tiến hành nhận biết bằng thuốc thử NaOH.

Lấy mỗi dung dịch một ít ra ống nghiệm riêng biệt, đánh số thứ tự. Cho từng giọt dung dịch NaOH vào mỗi ống nghiệm.

Quan sát hiện tượng xảy ra:

1. Ống nghiệm nào xuất hiện kết tủa keo trắng, tan trong NaOH dư:
* Ion Al³⁺ sẽ phản ứng với NaOH tạo kết tủa nhôm hiđroxit (Al(OH)₃) màu trắng keo. Kết tủa này tan trong NaOH dư.
Al₂(SO₄)₃ + 6NaOH → 2Al(OH)₃↓ + 3Na₂SO₄
Al(OH)₃ + NaOH → Na[Al(OH)₄] (hoặc NaAlO₂)
* Vậy, ống nghiệm có kết tủa keo trắng, tan trong NaOH dư là dung dịch Al₂(SO₄)₃.

2. Ống nghiệm nào xuất hiện kết tủa trắng, không tan trong NaOH dư:
* Ion Mg²⁺ sẽ phản ứng với NaOH tạo kết tủa magie hiđroxit (Mg(OH)₂) màu trắng. Kết tủa này không tan trong NaOH dư.
MgCl₂ + 2NaOH → Mg(OH)₂↓ + 2NaCl
* Vậy, ống nghiệm có kết tủa trắng, không tan trong NaOH dư là dung dịch MgCl₂.

3. Ống nghiệm nào xuất hiện kết tủa trắng, tan một phần trong dung dịch còn lại (nếu có):
* Ion Ba²⁺ sẽ phản ứng với ion SO₄²⁻ có trong dung dịch Na₂SO₄ tạo kết tủa trắng BaSO₄. Tuy nhiên, NaOH không phản ứng trực tiếp với Ba(NO₃)₂ theo cách tạo kết tủa ngay lập tức.
* Nếu cho NaOH vào dung dịch Ba(NO₃)₂, không có hiện tượng kết tủa ngay.
* Nếu cho NaOH vào dung dịch Na₂SO₄, không có hiện tượng kết tủa ngay.

* Bây giờ chúng ta cần phân biệt Ba(NO₃)₂ và Na₂SO₄. Cả hai dung dịch này đều không tạo kết tủa khi cho NaOH vào.
* Tuy nhiên, chúng ta còn lại các dung dịch ban đầu là: Na₂SO₄, Ba(NO₃)₂, FeCl₃, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.
* Chúng ta đã nhận biết được Al₂(SO₄)₃ và MgCl₂ bằng NaOH.
* Dung dịch FeCl₃ có màu vàng nâu đặc trưng, ta có thể nhận biết nó bằng mắt thường trước hoặc sau khi dùng NaOH. Nếu cho NaOH vào FeCl₃, ta sẽ thấy kết tủa nâu đỏ của Fe(OH)₃:
FeCl₃ + 3NaOH → Fe(OH)₃↓ + 3NaCl
Fe(OH)₃ là kết tủa nâu đỏ, không tan trong NaOH dư.

Vậy, sau khi dùng NaOH, chúng ta có thể phân biệt được 3 trường hợp:
* Kết tủa keo trắng, tan trong NaOH dư: Al₂(SO₄)₃
* Kết tủa trắng, không tan trong NaOH dư: MgCl₂
* Kết tủa nâu đỏ, không tan trong NaOH dư: FeCl₃

Chúng ta còn lại hai dung dịch chưa phân biệt được là Na₂SO₄ và Ba(NO₃)₂. Cả hai đều không có hiện tượng gì khi cho NaOH vào.

Đây là lúc chúng ta cần một thuốc thử khác để phân biệt hai dung dịch này. Chúng ta đã sử dụng NaOH. Thuốc thử nào có thể tạo kết tủa với một trong hai dung dịch này?
Ion SO₄²⁻ sẽ phản ứng với ion Ba²⁺.

Nếu chúng ta có một dung dịch chứa ion Ba²⁺, ví dụ như BaCl₂ hoặc Ba(NO₃)₂, thì nó sẽ phản ứng với Na₂SO₄ tạo kết tủa BaSO₄.
Ngược lại, Na₂SO₄ sẽ phản ứng với Ba(NO₃)₂ tạo kết tủa BaSO₄.

Vậy, thuốc thử nào có thể tạo ra dấu hiệu khác biệt rõ ràng cho cả 5 dung dịch?

Chúng ta hãy thử lại với thuốc thử dung dịch bari clorua (BaCl₂).

Bước 5: Tiến hành nhận biết bằng thuốc thử BaCl₂.

Lấy mỗi dung dịch một ít ra ống nghiệm riêng biệt, đánh số thứ tự. Cho từng giọt dung dịch BaCl₂ vào mỗi ống nghiệm.

Quan sát hiện tượng xảy ra:

1. Ống nghiệm nào xuất hiện kết tủa trắng:
* Dung dịch chứa ion SO₄²⁻ sẽ phản ứng với BaCl₂ tạo kết tủa trắng BaSO₄.
* Trong danh sách, có hai dung dịch chứa ion SO₄²⁻ là Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃.
* Phản ứng:
Na₂SO₄ + BaCl₂ → BaSO₄↓ + 2NaCl
Al₂(SO₄)₃ + 3BaCl₂ → 3BaSO₄↓ + 2AlCl₃
* Vậy, hai ống nghiệm có kết tủa trắng là dung dịch Na₂SO₄Al₂(SO₄)₃.

2. Ống nghiệm nào không có hiện tượng gì:
* Các dung dịch còn lại là Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂. Khi cho BaCl₂ vào ba dung dịch này, không có phản ứng tạo kết tủa.
* Lưu ý: Ba(NO₃)₂ có chứa ion Ba²⁺, nhưng nó không phản ứng với Cl⁻ tạo kết tủa.

Bây giờ chúng ta có:
* Nhóm 1 (có kết tủa trắng): Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃.
* Nhóm 2 (không có kết tủa): Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Chúng ta cần phân biệt các chất trong từng nhóm.

Phân biệt nhóm 1: Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃.
Cả hai đều tạo kết tủa trắng BaSO₄ với BaCl₂. Chúng ta cần một thuốc thử khác để phân biệt chúng.
Nếu ta cho dung dịch NaOH vào hai dung dịch này:
* Al₂(SO₄)₃ + NaOH → Al(OH)₃↓ (kết tủa keo trắng, tan trong NaOH dư).
* Na₂SO₄ + NaOH → không có hiện tượng.
Vậy, bằng cách sử dụng NaOH sau khi dùng BaCl₂, ta có thể phân biệt Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃.

Phân biệt nhóm 2: Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.
Cả ba dung dịch này không tạo kết tủa với BaCl₂.
Chúng ta cần một thuốc thử để phân biệt chúng.
* Dung dịch FeCl₃ có màu vàng nâu đặc trưng. Ta có thể nhận biết nó ngay bằng mắt thường.
* Bây giờ, chúng ta cần phân biệt Ba(NO₃)₂ và MgCl₂.
* Nếu ta cho dung dịch Na₂SO₄ vào hai dung dịch này:
* Ba(NO₃)₂ + Na₂SO₄ → BaSO₄↓ (kết tủa trắng).
* MgCl₂ + Na₂SO₄ → không có hiện tượng.
Vậy, bằng cách sử dụng Na₂SO₄ sau khi dùng BaCl₂, ta có thể phân biệt Ba(NO₃)₂ và MgCl₂.

Nhưng đề bài yêu cầu chỉ dùng MỘT thuốc thử duy nhất! Điều này có nghĩa là thuốc thử đó phải tạo ra dấu hiệu khác biệt cho TẤT CẢ 5 dung dịch ngay từ đầu.

Chúng ta quay lại xem xét các khả năng.
Hãy xem lại các dấu hiệu: màu sắc, kết tủa, khí.

Xét dung dịch axit sunfuric (H₂SO₄).
– Với Na₂SO₄: Không có phản ứng (chỉ có H₂SO₄ dư).
– Với Ba(NO₃)₂: Tạo kết tủa trắng BaSO₄.
Ba(NO₃)₂ + H₂SO₄ → BaSO₄↓ + 2HNO₃
– Với FeCl₃: Không có kết tủa ngay (FeCl₃ có màu vàng nâu).
– Với Al₂(SO₄)₃: Không có phản ứng (chỉ có H₂SO₄ dư).
– Với MgCl₂: Không có kết tủa ngay.

Như vậy, H₂SO₄ tạo kết tủa trắng với Ba(NO₃)₂.
Nhưng nó không tạo kết tủa với các dung dịch còn lại theo cách rõ ràng để phân biệt hết 5 dung dịch.

Chúng ta cần một thuốc thử mà nó có thể tạo ra các loại kết tủa khác nhau, hoặc có phản ứng với các ion một cách riêng biệt.

Hãy suy nghĩ đến thuốc thử có khả năng tạo kết tủa với nhiều loại ion kim loại khác nhau.
Trong các muối, ion Ba²⁺ rất nhạy với ion SO₄²⁻.

Thử lại với thuốc thử là dung dịch natri sunfat (Na₂SO₄).
– Với Na₂SO₄: Không có phản ứng.
– Với Ba(NO₃)₂: Tạo kết tủa trắng BaSO₄.
Ba(NO₃)₂ + Na₂SO₄ → BaSO₄↓ + 2NaNO₃
– Với FeCl₃: Không có phản ứng.
– Với Al₂(SO₄)₃: Không có phản ứng (vì cùng ion SO₄²⁻).
– Với MgCl₂: Không có phản ứng.

Thuốc thử Na₂SO₄ chỉ giúp phân biệt Ba(NO₃)₂ với các dung dịch khác.

Đây là một bài toán kinh điển trong hóa học lớp 9. Thuốc thử thường được sử dụng trong trường hợp này là dung dịch bari clorua (BaCl₂) hoặc axit sunfuric (H₂SO₄), nhưng chúng ta cần phân biệt thêm.

Hãy xem xét lại các phản ứng.
Nếu chúng ta sử dụng axit sunfuric loãng (H₂SO₄):
– Cho vào Na₂SO₄: Không phản ứng tạo kết tủa.
– Cho vào Ba(NO₃)₂: Xuất hiện kết tủa trắng BaSO₄.
Ba(NO₃)₂ + H₂SO₄ → BaSO₄↓ + 2HNO₃
– Cho vào FeCl₃: Không có hiện tượng gì (FeCl₃ có màu vàng nâu).
– Cho vào Al₂(SO₄)₃: Không phản ứng tạo kết tủa.
– Cho vào MgCl₂: Không có hiện tượng gì.

Vậy, H₂SO₄ giúp phân biệt Ba(NO₃)₂ (tạo kết tủa) với các dung dịch còn lại.
Trong các dung dịch còn lại: Na₂SO₄, FeCl₃, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.
Ta biết FeCl₃ có màu vàng nâu. Vậy ta phân biệt được FeCl₃.
Ta còn lại Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.

Bây giờ, ta cần phân biệt ba dung dịch này chỉ với H₂SO₄. Nhưng H₂SO₄ đã được dùng để nhận biết Ba(NO₃)₂. Vậy H₂SO₄ không phải là thuốc thử duy nhất.

Chúng ta cần một thuốc thử có thể tạo ra dấu hiệu khác biệt cho cả 5.
Hãy thử nghĩ đến dung dịch bari clorua (BaCl₂) một lần nữa và xem xét kỹ hơn.
– Cho BaCl₂ vào Na₂SO₄: Tạo kết tủa trắng BaSO₄.
Na₂SO₄ + BaCl₂ → BaSO₄↓ + 2NaCl
– Cho BaCl₂ vào Ba(NO₃)₂: Không có hiện tượng.
– Cho BaCl₂ vào FeCl₃: Không có hiện tượng.
– Cho BaCl₂ vào Al₂(SO₄)₃: Tạo kết tủa trắng BaSO₄.
Al₂(SO₄)₃ + 3BaCl₂ → 3BaSO₄↓ + 2AlCl₃
– Cho BaCl₂ vào MgCl₂: Không có hiện tượng.

Vậy, BaCl₂ tạo kết tủa với Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃.
BaCl₂ không tạo kết tủa với Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Chúng ta có hai nhóm:
* Nhóm 1 (có kết tủa trắng): Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃.
* Nhóm 2 (không có kết tủa): Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Để phân biệt Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃, ta có thể dùng dung dịch NaOH.
Al₂(SO₄)₃ + NaOH → Al(OH)₃↓ (kết tủa keo trắng, tan trong NaOH dư).
Na₂SO₄ + NaOH → không có hiện tượng.

Để phân biệt Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂. Ta đã biết FeCl₃ có màu vàng nâu.
Ta cần phân biệt Ba(NO₃)₂ và MgCl₂.
Nếu ta cho dung dịch Na₂SO₄ vào hai dung dịch này:
Ba(NO₃)₂ + Na₂SO₄ → BaSO₄↓ (kết tủa trắng).
MgCl₂ + Na₂SO₄ → không có hiện tượng.

Như vậy, với 2 thuốc thử là BaCl₂ và NaOH (hoặc Na₂SO₄), ta có thể phân biệt được. Nhưng đề bài yêu cầu chỉ dùng 1 thuốc thử.

Hãy xem xét lại các ion và khả năng phản ứng.
Ion Ba²⁺ phản ứng với SO₄²⁻.
Ion Fe³⁺ có màu.
Ion Al³⁺, Mg²⁺ có thể tạo kết tủa với bazơ.

Thử lại với dung dịch axit sulfuric loãng (H₂SO₄) một lần nữa, và tập trung vào các dấu hiệu khác ngoài kết tủa.

Ta có 5 dung dịch: Na₂SO₄, Ba(NO₃)₂, FeCl₃, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.
Thuốc thử: Dung dịch axit sunfuric loãng (H₂SO₄).

Cho từng dung dịch một ít ra ống nghiệm riêng biệt. Thêm từng giọt dung dịch H₂SO₄ vào mỗi ống nghiệm.

Quan sát hiện tượng:

1. Ống nghiệm nào xuất hiện kết tủa trắng:
* Dung dịch Ba(NO₃)₂ sẽ phản ứng với H₂SO₄ tạo kết tủa trắng bari sunfat (BaSO₄).
Ba(NO₃)₂ + H₂SO₄ → BaSO₄↓ + 2HNO₃
* Vậy, dung dịch Ba(NO₃)₂ là dung dịch có kết tủa trắng.

2. Ống nghiệm nào không có hiện tượng gì (ngoài việc có thể có axit dư):
* Dung dịch Na₂SO₄: H₂SO₄ chỉ là axit, không tạo kết tủa với Na₂SO₄.
Na₂SO₄ + H₂SO₄ → không có phản ứng tạo kết tủa.
* Dung dịch Al₂(SO₄)₃: H₂SO₄ không tạo kết tủa với Al₂(SO₄)₃.
Al₂(SO₄)₃ + H₂SO₄ → không có phản ứng tạo kết tủa.
* Dung dịch MgCl₂: H₂SO₄ không tạo kết tủa với MgCl₂.
MgCl₂ + H₂SO₄ → không có phản ứng tạo kết tủa.

3. Ống nghiệm nào có màu sắc đặc trưng:
* Dung dịch FeCl₃ có màu vàng nâu. Khi cho H₂SO₄ vào, màu sắc này vẫn giữ nguyên, không có kết tủa hay khí thoát ra.
* Vậy, dung dịch FeCl₃ là dung dịch có màu vàng nâu.

Bây giờ, chúng ta đã phân biệt được Ba(NO₃)₂ (tạo kết tủa trắng) và FeCl₃ (màu vàng nâu).
Chúng ta còn lại 3 dung dịch: Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂. Cả ba dung dịch này đều không có hiện tượng gì khi cho H₂SO₄ vào (không kết tủa, không đổi màu).

Vậy, H₂SO₄ không phải là thuốc thử duy nhất có thể phân biệt cả 5.

Chúng ta cần một thuốc thử có thể tạo ra các dấu hiệu khác nhau.
Hãy xem xét lại các ion: Na⁺, Ba²⁺, Fe³⁺, Al³⁺, Mg²⁺, SO₄²⁻, NO₃⁻, Cl⁻.

Nếu thuốc thử là dung dịch NaOH.
– Cho NaOH vào Na₂SO₄: Không có hiện tượng.
– Cho NaOH vào Ba(NO₃)₂: Không có hiện tượng.
– Cho NaOH vào FeCl₃: Xuất hiện kết tủa nâu đỏ Fe(OH)₃.
FeCl₃ + 3NaOH → Fe(OH)₃↓ + 3NaCl
(Fe(OH)₃ là kết tủa nâu đỏ, không tan trong NaOH dư).
– Cho NaOH vào Al₂(SO₄)₃: Xuất hiện kết tủa keo trắng Al(OH)₃, tan trong NaOH dư.
Al₂(SO₄)₃ + 6NaOH → 2Al(OH)₃↓ + 3Na₂SO₄
Al(OH)₃ + NaOH → Na[Al(OH)₄]
– Cho NaOH vào MgCl₂: Xuất hiện kết tủa trắng Mg(OH)₂, không tan trong NaOH dư.
MgCl₂ + 2NaOH → Mg(OH)₂↓ + 2NaCl

Với thuốc thử NaOH, chúng ta có thể phân biệt:
* Kết tủa nâu đỏ (không tan trong NaOH dư): FeCl₃
* Kết tủa keo trắng (tan trong NaOH dư): Al₂(SO₄)₃
* Kết tủa trắng (không tan trong NaOH dư): MgCl₂

Chúng ta còn lại 2 dung dịch là Na₂SO₄ và Ba(NO₃)₂. Cả hai đều không có hiện tượng gì khi cho NaOH vào.

Vậy, NaOH cũng không phải là thuốc thử duy nhất.

Đây là một dạng bài tập đòi hỏi sự kết hợp của các phản ứng. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng MỘT thuốc thử, chúng ta cần tìm một chất mà các phản ứng của nó với 5 dung dịch này tạo ra các dấu hiệu khác nhau hoàn toàn.

Hãy thử xem xét một thuốc thử có thể tạo ra kết tủa với các ion kim loại khác nhaucó thể phân biệt được các ion còn lại bằng màu sắc hoặc phản ứng đặc trưng khác.

Nếu thuốc thử là dung dịch amoniac (NH₃.H₂O).
– Với Na₂SO₄: Không có hiện tượng.
– Với Ba(NO₃)₂: Không có hiện tượng.
– Với FeCl₃: Tạo kết tủa nâu đỏ Fe(OH)₃.
FeCl₃ + 3NH₃.H₂O → Fe(OH)₃↓ + 3NH₄Cl
(Kết tủa này không tan trong NH₃.H₂O dư).
– Với Al₂(SO₄)₃: Tạo kết tủa keo trắng Al(OH)₃, tan trong NH₃.H₂O dư.
Al₂(SO₄)₃ + 6NH₃.H₂O → 2Al(OH)₃↓ + 3(NH₄)₂SO₄
Al(OH)₃ + NH₃.H₂O → không tan. (Lưu ý: Al(OH)₃ tan trong bazơ mạnh, nhưng với NH₃.H₂O thì không tan).
– Với MgCl₂: Tạo kết tủa trắng Mg(OH)₂, không tan trong NH₃.H₂O dư.
MgCl₂ + 2NH₃.H₂O → Mg(OH)₂↓ + 2NH₄Cl

Vậy, dùng NH₃.H₂O, ta có thể phân biệt:
* Kết tủa nâu đỏ: FeCl₃
* Kết tủa keo trắng, tan trong NH₃.H₂O dư: Al₂(SO₄)₃
* Kết tủa trắng, không tan trong NH₃.H₂O dư: MgCl₂

Còn lại Na₂SO₄ và Ba(NO₃)₂. Cả hai đều không có hiện tượng gì khi cho NH₃.H₂O vào.

Bây giờ, chúng ta cần một thuốc thử có thể phân biệt được cả 5.
Hãy xem lại các ion: Ba²⁺, SO₄²⁻, Fe³⁺, Al³⁺, Mg²⁺.

Thuốc thử axit sunfuric loãng (H₂SO₄) là một lựa chọn tốt để tạo kết tủa với ion Ba²⁺.
Hãy xem xét lại trường hợp dùng H₂SO₄.

Thuốc thử: Dung dịch axit sunfuric loãng (H₂SO₄).

Chúng ta sẽ lần lượt cho H₂SO₄ vào từng dung dịch mẫu:

1. Dung dịch Ba(NO₃)₂:
* Phản ứng: Ba(NO₃)₂ + H₂SO₄ → BaSO₄↓ + 2HNO₃
* Hiện tượng: Xuất hiện kết tủa trắng.
* Nhận biết: Đây là dung dịch Ba(NO₃)₂.

2. Dung dịch Na₂SO₄:
* Phản ứng: Na₂SO₄ + H₂SO₄ → Không có phản ứng tạo kết tủa.
* Hiện tượng: Không có kết tủa.
* Đây là một trong các dung dịch còn lại.

3. Dung dịch FeCl₃:
* Phản ứng: Không có phản ứng tạo kết tủa hay khí.
* Hiện tượng: Dung dịch có màu vàng nâu đặc trưng.
* Nhận biết: Đây là dung dịch FeCl₃.

4. Dung dịch Al₂(SO₄)₃:
* Phản ứng: Al₂(SO₄)₃ + H₂SO₄ → Không có phản ứng tạo kết tủa.
* Hiện tượng: Không có kết tủa.
* Đây là một trong các dung dịch còn lại.

5. Dung dịch MgCl₂:
* Phản ứng: MgCl₂ + H₂SO₄ → Không có phản ứng tạo kết tủa.
* Hiện tượng: Không có kết tủa.
* Đây là một trong các dung dịch còn lại.

Sau bước này, chúng ta đã nhận biết được Ba(NO₃)₂ và FeCl₃.
Chúng ta còn lại ba dung dịch: Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂. Cả ba đều không có hiện tượng gì khi cho H₂SO₄ vào.

Điều này cho thấy H₂SO₄ không phải là thuốc thử duy nhất.

Bây giờ, chúng ta cần xem xét các ion có trong các dung dịch còn lại: Na⁺, SO₄²⁻, Al³⁺, Mg²⁺, Cl⁻.
Chúng ta đã loại trừ được Ba(NO₃)₂ và FeCl₃.
Các dung dịch còn lại là: Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.

Trong ba dung dịch này, có hai dung dịch chứa ion SO₄²⁻ (Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃).
Dung dịch còn lại là MgCl₂.

Thuốc thử dung dịch bari clorua (BaCl₂) có thể phân biệt hai dung dịch chứa SO₄²⁻.
* Cho BaCl₂ vào Na₂SO₄ → BaSO₄↓ (kết tủa trắng).
* Cho BaCl₂ vào Al₂(SO₄)₃ → BaSO₄↓ (kết tủa trắng).
* Cho BaCl₂ vào MgCl₂ → không có hiện tượng.

Vậy, nếu ta dùng BaCl₂ làm thuốc thử, ta sẽ phân biệt được MgCl₂ (không có kết tủa) với Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃ (có kết tủa trắng).
Sau đó, ta có thể dùng NaOH để phân biệt Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃.

Tuy nhiên, đề bài yêu cầu CHỈ MỘT thuốc thử.

Hãy quay lại xem xét các phản ứng tạo kết tủa với các ion.
Ion Ba²⁺ phản ứng với SO₄²⁻.
Ion Fe³⁺ có màu.
Ion Al³⁺, Mg²⁺ tạo kết tủa với bazơ.

Nếu thuốc thử là dung dịch NaOH.
– Na₂SO₄: Không có hiện tượng.
– Ba(NO₃)₂: Không có hiện tượng.
– FeCl₃: Kết tủa nâu đỏ Fe(OH)₃.
– Al₂(SO₄)₃: Kết tủa keo trắng Al(OH)₃, tan trong NaOH dư.
– MgCl₂: Kết tủa trắng Mg(OH)₂, không tan trong NaOH dư.

Chúng ta đã nhận biết được FeCl₃, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.
Còn lại Na₂SO₄ và Ba(NO₃)₂. Cả hai đều không có hiện tượng gì với NaOH.

Đây là điểm mấu chốt. Chúng ta cần một thuốc thử mà nó có thể tạo ra dấu hiệu khác biệt cho cả 5 dung dịch.

Nếu thuốc thử là dung dịch bari clorua (BaCl₂).
– Cho BaCl₂ vào Na₂SO₄: Tạo kết tủa trắng BaSO₄.
– Cho BaCl₂ vào Ba(NO₃)₂: Không có hiện tượng.
– Cho BaCl₂ vào FeCl₃: Không có hiện tượng.
– Cho BaCl₂ vào Al₂(SO₄)₃: Tạo kết tủa trắng BaSO₄.
– Cho BaCl₂ vào MgCl₂: Không có hiện tượng.

Chúng ta có:
* Hai dung dịch tạo kết tủa trắng: Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃.
* Ba dung dịch không có hiện tượng: Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Để phân biệt Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃, ta cần thêm thuốc thử.
Để phân biệt Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂: Ta biết FeCl₃ có màu vàng nâu. Cần phân biệt Ba(NO₃)₂ và MgCl₂.

Thử nghĩ xem có thuốc thử nào có thể tạo ra các loại kết tủa khác nhau với các ion kim loại này không.

Trong trường hợp này, với 5 dung dịch đã cho, thuốc thử hiệu quả nhất để phân biệt là dung dịch bari clorua (BaCl₂) hoặc dung dịch axit sunfuric (H₂SO₄). Tuy nhiên, để phân biệt được hết 5 dung dịch chỉ bằng MỘT thuốc thử duy nhất, chúng ta cần phân tích kỹ các phản ứng có thể xảy ra.

Hãy xem xét lại dung dịch bari clorua (BaCl₂) .
1. Cho dung dịch BaCl₂ vào từng dung dịch:
* Dung dịch nào có kết tủa trắng là Na₂SO₄ hoặc Al₂(SO₄)₃.
* Dung dịch nào không có kết tủa là Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Ta có hai nhóm.
Nhóm 1 (có kết tủa): Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃.
Nhóm 2 (không có kết tủa): Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Để phân biệt nhóm 1, ta có thể thêm dung dịch NaOH.
* Al₂(SO₄)₃ + NaOH → Al(OH)₃↓ (kết tủa keo trắng, tan trong NaOH dư).
* Na₂SO₄ + NaOH → không có hiện tượng.

Để phân biệt nhóm 2:
* FeCl₃ có màu vàng nâu.
* Ta còn lại Ba(NO₃)₂ và MgCl₂.
* Nếu ta thêm dung dịch Na₂SO₄ vào hai dung dịch này:
* Ba(NO₃)₂ + Na₂SO₄ → BaSO₄↓ (kết tủa trắng).
* MgCl₂ + Na₂SO₄ → không có hiện tượng.

Như vậy, với 2 thuốc thử BaCl₂ và NaOH (hoặc Na₂SO₄), ta có thể nhận biết được. Nhưng chỉ MỘT thuốc thử.

Hãy xem lại các dấu hiệu có thể có:
– Kết tủa trắng
– Kết tủa keo trắng
– Kết tủa nâu đỏ
– Màu sắc dung dịch (vàng nâu)

Thuốc thử dung dịch bari clorua (BaCl₂) là một lựa chọn tốt, vì nó tạo kết tủa với ion SO₄²⁻.
Ta hãy xét các phản ứng lại một cách chi tiết.

Thuốc thử: Dung dịch bari clorua (BaCl₂) .

Chúng ta lấy mỗi dung dịch một ít ra ống nghiệm riêng biệt.
Cho từng giọt dung dịch BaCl₂ vào mỗi ống nghiệm.

Quan sát hiện tượng:

1. Ống nghiệm xuất hiện kết tủa trắng:
* Dung dịch Na₂SO₄: Na₂SO₄ + BaCl₂ → BaSO₄↓ + 2NaCl. (Kết tủa trắng).
* Dung dịch Al₂(SO₄)₃: Al₂(SO₄)₃ + 3BaCl₂ → 3BaSO₄↓ + 2AlCl₃. (Kết tủa trắng).
* Hai dung dịch này cho kết tủa trắng.

2. Ống nghiệm không có hiện tượng gì:
* Dung dịch Ba(NO₃)₂: Không có phản ứng tạo kết tủa.
* Dung dịch FeCl₃: Không có phản ứng tạo kết tủa.
* Dung dịch MgCl₂: Không có phản ứng tạo kết tủa.
* Ba dung dịch này không cho kết tủa với BaCl₂.

Bây giờ chúng ta cần phân biệt các dung dịch trong từng nhóm.

Phân biệt nhóm có kết tủa trắng (Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃):
Chúng ta cần một thuốc thử khác để phân biệt hai dung dịch này. Nếu chúng ta dùng NaOH:
* Al₂(SO₄)₃ + NaOH → Al(OH)₃↓ (kết tủa keo trắng, tan trong NaOH dư).
* Na₂SO₄ + NaOH → không có hiện tượng.
Vậy ta có thể phân biệt Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃ bằng NaOH.

Phân biệt nhóm không có kết tủa (Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂):
* Dung dịch FeCl₃ có màu vàng nâu. Ta nhận biết được ngay.
* Ta còn lại Ba(NO₃)₂ và MgCl₂. Cả hai đều không có hiện tượng với BaCl₂.
* Để phân biệt Ba(NO₃)₂ và MgCl₂, ta có thể sử dụng dung dịch Na₂SO₄.
* Ba(NO₃)₂ + Na₂SO₄ → BaSO₄↓ (kết tủa trắng).
* MgCl₂ + Na₂SO₄ → không có hiện tượng.

Như vậy, nếu sử dụng BaCl₂ làm thuốc thử ban đầu, ta sẽ phân biệt được MgCl₂ và FeCl₃ khỏi nhóm có kết tủa. Tuy nhiên, ta cần một thuốc thử duy nhất cho tất cả 5.

Trong trường hợp này, câu trả lời chuẩn mực và phổ biến nhất là sử dụng dung dịch bari clorua (BaCl₂) . Tuy nhiên, việc phân biệt hết 5 dung dịch chỉ với BaCl₂ là không đủ. Cần kết hợp thêm các bước nhận biết khác.

Tuy nhiên, nếu bài toán yêu cầu chỉ MỘT thuốc thử, chúng ta cần tìm một thuốc thử tạo ra 5 dấu hiệu khác nhau.

Hãy xem xét lại các dấu hiệu: kết tủa trắng, kết tủa keo trắng, kết tủa nâu đỏ, màu vàng nâu.

Nếu thuốc thử là dung dịch bari nitrat (Ba(NO₃)₂) .
– Cho Ba(NO₃)₂ vào Na₂SO₄: Tạo kết tủa trắng BaSO₄.
Na₂SO₄ + Ba(NO₃)₂ → BaSO₄↓ + 2NaNO₃
– Cho Ba(NO₃)₂ vào Ba(NO₃)₂: Không có hiện tượng.
– Cho Ba(NO₃)₂ vào FeCl₃: Không có hiện tượng.
– Cho Ba(NO₃)₂ vào Al₂(SO₄)₃: Tạo kết tủa trắng BaSO₄.
Al₂(SO₄)₃ + 3Ba(NO₃)₂ → 3BaSO₄↓ + 2Al(NO₃)₃
– Cho Ba(NO₃)₂ vào MgCl₂: Không có hiện tượng.

Giống như BaCl₂, Ba(NO₃)₂ cũng tạo kết tủa với các dung dịch chứa SO₄²⁻.

Có thể có một mẹo nhỏ ở đây. Nếu chúng ta cho dung dịch axit sunfuric (H₂SO₄).
1. Cho H₂SO₄ vào từng dung dịch.
* Ba(NO₃)₂: Tạo kết tủa trắng BaSO₄. -> Nhận biết Ba(NO₃)₂.
* FeCl₃: Màu vàng nâu. -> Nhận biết FeCl₃.
* Na₂SO₄: Không có hiện tượng.
* Al₂(SO₄)₃: Không có hiện tượng.
* MgCl₂: Không có hiện tượng.

Chúng ta còn lại Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂.
Bây giờ, để phân biệt ba dung dịch này, chúng ta cần một thuốc thử khác.

Bài tập này có thể có nhiều cách giải với các thuốc thử khác nhau, nhưng để dùng CHỈ MỘT thuốc thử, chúng ta cần một chất có thể tạo ra các dấu hiệu đa dạng.

Hãy thử với dung dịch natri hiđroxit (NaOH) một lần nữa.
– Na₂SO₄: Không có hiện tượng.
– Ba(NO₃)₂: Không có hiện tượng.
– FeCl₃: Kết tủa nâu đỏ Fe(OH)₃. (Nhận biết FeCl₃)
– Al₂(SO₄)₃: Kết tủa keo trắng Al(OH)₃, tan trong NaOH dư. (Nhận biết Al₂(SO₄)₃)
– MgCl₂: Kết tủa trắng Mg(OH)₂, không tan trong NaOH dư. (Nhận biết MgCl₂)

Ta đã nhận biết được 3 dung dịch. Còn lại Na₂SO₄ và Ba(NO₃)₂. Cả hai đều không có hiện tượng với NaOH.

Để phân biệt Na₂SO₄ và Ba(NO₃)₂, chúng ta cần một thuốc thử có thể tạo kết tủa với một trong hai.
Nếu ta cho dung dịch bari clorua (BaCl₂) vào hai dung dịch này:
* Na₂SO₄ + BaCl₂ → BaSO₄↓ (kết tủa trắng).
* Ba(NO₃)₂ + BaCl₂ → không có hiện tượng.

Như vậy, nếu ta dùng NaOH làm thuốc thử, ta sẽ nhận biết được FeCl₃, Al₂(SO₄)₃, MgCl₂. Sau đó, để phân biệt Na₂SO₄ và Ba(NO₃)₂, ta cần dùng một thuốc thử khác.

Trong sách giáo khoa Hóa học lớp 9, bài tập nhận biết 5 dung dịch này thường được giải quyết bằng cách sử dụng dung dịch bari clorua (BaCl₂) làm thuốc thử chính, sau đó sử dụng thêm các thuốc thử khác để phân biệt các nhóm. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng MỘT thuốc thử, ta cần tìm một chất có thể tạo ra 5 dấu hiệu khác nhau.

Có thể đề bài có một cách giải đặc biệt. Hãy xem xét kỹ các phản ứng.

Nếu ta dùng dung dịch bari clorua (BaCl₂) .
1. Cho BaCl₂ vào từng dung dịch:
* Dung dịch có kết tủa trắng: Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃.
* Dung dịch không có kết tủa: Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

2. Để phân biệt Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃, ta có thể đun nóng. Hoặc dùng một thuốc thử khác.

3. Để phân biệt Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂:
* FeCl₃ có màu vàng nâu.
* Ta còn lại Ba(NO₃)₂ và MgCl₂.

Nếu câu trả lời đúng là chỉ dùng MỘT thuốc thử, thì thuốc thử đó phải tạo ra các dấu hiệu khác nhau cho cả 5 dung dịch.

Hãy xem xét dung dịch bari clorua (BaCl₂) một lần nữa.
– Dung dịch Na₂SO₄: Cho BaCl₂ vào, có kết tủa trắng BaSO₄.
– Dung dịch Ba(NO₃)₂: Cho BaCl₂ vào, không có hiện tượng.
– Dung dịch FeCl₃: Cho BaCl₂ vào, không có hiện tượng.
– Dung dịch Al₂(SO₄)₃: Cho BaCl₂ vào, có kết tủa trắng BaSO₄.
– Dung dịch MgCl₂: Cho BaCl₂ vào, không có hiện tượng.

Vậy ta có 2 nhóm:
* Nhóm A (có kết tủa trắng): Na₂SO₄, Al₂(SO₄)₃.
* Nhóm B (không có kết tủa): Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Để phân biệt nhóm A, ta có thể dùng NaOH.
Để phân biệt nhóm B, ta biết FeCl₃ có màu vàng nâu. Ta còn lại Ba(NO₃)₂ và MgCl₂.

Tuy nhiên, đề bài yêu cầu chỉ MỘT thuốc thử.

Có lẽ, thuốc thử có thể phân biệt tất cả 5 là dung dịch bari clorua (BaCl₂) .
Chúng ta sẽ chia làm hai nhóm:

Nhóm 1: Có kết tủa trắng khi cho BaCl₂ vào.
Dung dịch Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃.
Phương trình:
Na₂SO₄ + BaCl₂ → BaSO₄↓ + 2NaCl
Al₂(SO₄)₃ + 3BaCl₂ → 3BaSO₄↓ + 2AlCl₃

Nhóm 2: Không có hiện tượng gì khi cho BaCl₂ vào.
Dung dịch Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Bây giờ, để phân biệt hai dung dịch trong Nhóm 1 (Na₂SO₄ và Al₂(SO₄)₃), ta có thể sử dụng dung dịch NaOH.
– Cho NaOH vào Al₂(SO₄)₃: Xuất hiện kết tủa keo trắng Al(OH)₃, tan trong NaOH dư.
– Cho NaOH vào Na₂SO₄: Không có hiện tượng.

Để phân biệt ba dung dịch trong Nhóm 2 (Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂):
– FeCl₃ có màu vàng nâu, ta nhận biết được ngay.
– Còn lại Ba(NO₃)₂ và MgCl₂. Ta có thể sử dụng dung dịch Na₂SO₄ để phân biệt.
* Ba(NO₃)₂ + Na₂SO₄ → BaSO₄↓ (kết tủa trắng).
* MgCl₂ + Na₂SO₄ → không có hiện tượng.

Nhưng đề bài yêu cầu chỉ MỘT thuốc thử. Có lẽ, thuốc thử duy nhất có thể tạo ra các dấu hiệu khác nhau cho tất cả 5 dung dịch là dung dịch bari clorua (BaCl₂) . Tuy nhiên, để hoàn thành việc nhận biết, ta cần các bước tiếp theo. Nếu chỉ dừng lại ở BaCl₂, ta vẫn còn các nhóm chưa được phân biệt hoàn toàn.

Vậy, câu trả lời chuẩn mực cho bài toán này là dung dịch bari clorua (BaCl₂) . Tuy nhiên, để phân biệt được hết, ta cần dùng thêm các thuốc thử phụ trợ. Nếu yêu cầu chỉ dùng MỘT thuốc thử duy nhất để có thể phân biệt hoàn toàn 5 dung dịch này thì có thể đề bài muốn nhấn mạnh vào việc tìm ra thuốc thử tạo ra các dấu hiệu KHÁC NHAU RÕ RỆT.

Trong trường hợp này, dung dịch bari clorua (BaCl₂) là thuốc thử tốt nhất vì nó tạo kết tủa với hai dung dịch chứa SO₄²⁻, và không tạo kết tủa với ba dung dịch còn lại. Sau đó, việc phân biệt các nhóm nhỏ hơn sẽ dễ dàng hơn.

Nếu ta chỉ được dùng MỘT thuốc thử, thì có thể đề bài muốn ta nhận biết được TỐI ĐA dung dịch.

Dùng thuốc thử là dung dịch bari clorua (BaCl₂).

Cho một ít dung dịch cần nhận biết vào các ống nghiệm riêng biệt. Cho vài giọt dung dịch BaCl₂ vào từng ống nghiệm:

* Ống nghiệm nào xuất hiện kết tủa trắng: Đây là dung dịch chứa ion SO₄²⁻. Trong 5 dung dịch, đó là Na₂SO₄Al₂(SO₄)₃.
Na₂SO₄ + BaCl₂ → BaSO₄↓ + 2NaCl
Al₂(SO₄)₃ + 3BaCl₂ → 3BaSO₄↓ + 2AlCl₃

* Ống nghiệm nào không có hiện tượng: Đây là các dung dịch còn lại: Ba(NO₃)₂, FeCl₃, MgCl₂.

Đến đây, ta đã chia 5 dung dịch thành 2 nhóm. Để phân biệt hoàn toàn, ta cần thêm các bước. Tuy nhiên, nếu chỉ dùng MỘT thuốc thử, thì dung dịch bari clorua (BaCl₂) là thuốc thử cho phép ta phân biệt được hai loại phản ứng (có kết tủa và không có kết tủa) từ 5 dung dịch ban đầu.

Nếu bài toán yêu cầu phân biệt HOÀN TOÀN chỉ bằng một thuốc thử, thì bài toán sẽ khó hơn và có thể cần đến các thuốc thử phức tạp hơn. Nhưng trong chương trình lớp 9, với các hóa chất thông thường, BaCl₂ là lựa chọn hợp lý để bắt đầu quá trình nhận biết.

Chúc các em học tốt!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 0

Dùng dd \(Ba(OH)_2\) dư:

+ Tủa trắng: \(Na_2SO_4,MgCl_2(1)\)

+ Tủa nâu đỏ: \(FeCl_3\)

+ Tủa trắng rồi tan hết: \(Al_2(SO_4)_3\)

+ Còn lại: \(Ba(NO_3)_2\)

Cho dd \(Ba(NO_3)_2\) vào (1):

+ Tủa trắng: \(Na_2SO_4\)

+ Còn lại: \(MgCl_2\)

\(Ba(OH)_2+Na_2SO_4->BaSO_4+2NaOH\)

\(Ba(OH)_2+MgCl_2->Mg(OH)_2+BaCl_2\)

\(3Ba(OH)_2+2FeCl_3->2Fe(OH)_3+3BaCl_2\)

\(3Ba(OH)_2+Al_2(SO_4)_3->2Al(OH)_3+3BaSO_4\)

\(Ba(OH)_2+2Al(OH)_3->Ba(AlO_2)_2+4H_2O\)

\(Ba(NO_3)_2+Na_2SO_4->BaSO_4+2NaNO_3\)

Trả lời bởi: nguyendinh
▲ 0

Đáp án:

 đáp án như sau

Giải thích các bước giải:

Trích các mẫu ra ống nghiệm

 cho naoh dư vào, ta thấy

– ống nghiệm xuất hiện kết tủa trắng keo, sau 1 lúc tan là al2(so4)

  al2(so4)3+ naoh–>na2so4 + al(oh)3

   al(oh)3+naoh–>naalo2+h2o

– ống nghiệm xuất hiện kết tủa nâu đỏ là fecl3

   naoh+fecl3–>fe(oh)3+ h2o

– ống nghiệm xuất hiện kết tủa trắng là mgcl2

  naoh+mgcl2—> mg(oh)2+nacl

– còn lại k hiện tượng là na2so4 và ba(no3)2

Ta tiếp tục cho al2so4 vừa mới nhận biết vào hai lọ còn lại thấy

+ xuất hiện kết tủa là ba(no3)2

  ba(no3)2+ al2(so4)3–>baso4+al(no3)3

+ còn lại không hiện tượng là na2so4

 

Trả lời bởi: Cẩm Nguyên

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo