Nhận xét về truyện Kiều của Nguyễn Du Mộng Liên Đường chủ nhân viết nguyễn du là…
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau giải một bài tập rất hay và sâu sắc, liên quan đến nhận định của Mộng Liên Đường chủ nhân về đại thi hào Nguyễn Du. Đây là một dạng bài yêu cầu chúng ta vận dụng kiến thức về tác phẩm để làm sáng tỏ một ý kiến, một kỹ năng rất quan trọng trong việc học văn.
Chúng ta sẽ đi từng bước để làm sáng tỏ nhận định: “Nguyễn Du là người có con mắt trông thấu cả 6 cõi, có tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời” qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
—
BÀI LÀM THAM KHẢO
MỞ BÀI
Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc Việt Nam, và “Truyện Kiều” là kiệt tác bất hủ của ông. Bàn về tài năng và tấm lòng của Nguyễn Du, Mộng Liên Đường chủ nhân đã có một nhận xét vô cùng sâu sắc: “Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy”. Nhận định này đã khái quát trọn vẹn tầm vóc của một thiên tài. Đặc biệt, qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (trích “Truyện Kiều”), chúng ta càng thấy rõ “con mắt” và “tấm lòng” vĩ đại ấy của Nguyễn Du.
THÂN BÀI
1. Bước 1: Giải thích nhận định
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa của nhận định này.
* “Con mắt trông thấu cả 6 cõi”:
* “Sáu cõi” (lục giới) trong quan niệm của nhà Phật bao gồm: trời, người, a-tu-la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.
* Hiểu theo nghĩa rộng, đây là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi khả năng quan sát, thấu hiểu toàn diện, sâu sắc của Nguyễn Du về mọi mặt của vũ trụ, của cuộc đời và của con người. “Con mắt” ấy có thể nhìn thấu từ thế giới hữu hình đến thế giới vô hình, từ ngoại cảnh đến nội tâm sâu kín, phức tạp nhất của con người. Đó là con mắt của một nhà hiện thực bậc thầy.
* “Tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”:
* “Nghìn đời” là chỉ sự vĩnh hằng, vượt qua mọi giới hạn của thời gian.
* Câu nói này ca ngợi tấm lòng nhân đạo bao la, vĩ đại của Nguyễn Du. Tấm lòng ấy chứa chan tình yêu thương, sự đồng cảm sâu sắc với mọi kiếp người, đặc biệt là những số phận bất hạnh. Tấm lòng ấy có sức lay động, có giá trị muôn đời, khiến cho những nỗi đau, khát vọng của con người trong “Truyện Kiều” vẫn còn vẹn nguyên giá trị cho đến tận ngày nay.
=> Như vậy, nhận định đã khẳng định ở Nguyễn Du có sự kết hợp tuyệt vời giữa một trí tuệ sắc sảo, một tầm nhìn sâu rộng (con mắt) và một trái tim nhân ái, vị tha (tấm lòng).
2. Bước 2: Chứng minh nhận định qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”
a. “Con mắt trông thấu cả 6 cõi” được thể hiện qua bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc:
Nguyễn Du không chỉ miêu tả cảnh vật đơn thuần mà thông qua cảnh vật, ông đã soi rọi vào tận cùng thế giới nội tâm đầy biến động của Thúy Kiều.
* Sáu câu thơ đầu: Bức tranh thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích hiện lên qua con mắt của Kiều.
* Không gian mênh mông, hoang vắng: “non xa”, “trăng gần”, “cát vàng cồn nọ”, “bụi hồng dặm kia”.
* Thời gian tuần hoàn, khép kín: “ngày đêm”.
* Khung cảnh ấy không phải là cảnh thực bên ngoài, mà là cảnh được nhìn qua tâm trạng cô đơn, bẽ bàng, tù túng của Kiều. “Con mắt” của Nguyễn Du đã thấu suốt được sự tương quan giữa ngoại cảnh và tâm cảnh. Cảnh vật càng rộng lớn, hoang vắng bao nhiêu thì càng tô đậm nỗi cô đơn, lạc lõng của thân phận con người bấy nhiêu.
* Tám câu thơ cuối: Đây là đỉnh cao của bút pháp tả cảnh ngụ tình, nơi “con mắt” của Nguyễn Du đã đạt đến độ tinh vi.
* Mỗi cảnh vật đều mang một nỗi buồn, một tâm trạng khác nhau của Kiều. Cảnh được nhìn từ xa đến gần, nỗi buồn cũng từ man mác đến dữ dội.
* “Buồn trông cửa bể chiều hôm”: Cảnh biển cả mênh mông, vô định gợi nỗi buồn về tương lai mờ mịt, không biết trôi dạt về đâu.
* “Buồn trông ngọn nước mới sa”: Cánh hoa trôi nổi trên dòng nước gợi nỗi buồn về thân phận mỏng manh, lênh đênh, không tự chủ.
* “Buồn trông nội cỏ rầu rầu”: Màu cỏ úa tàn gợi nỗi buồn về sự tàn phai, héo hon của tuổi xuân và cuộc đời.
* “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh”: Âm thanh dữ dội của sóng gió báo hiệu những tai ương, bão tố sắp ập đến cuộc đời Kiều.
=> Rõ ràng, Nguyễn Du đã dùng “con mắt” của mình để nhìn thấu tâm can nhân vật. Ông để Kiều nhìn cảnh và qua đó, cảnh vật lại soi chiếu ngược lại vào thế giới nội tâm đầy phức tạp của nàng. Đó chính là “con mắt trông thấu cả 6 cõi”.
b. “Tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời” được thể hiện qua sự thấu hiểu, đồng cảm với nỗi niềm của Thúy Kiều:
Nguyễn Du không chỉ tả nỗi buồn của Kiều mà còn cho thấy vẻ đẹp trong nhân cách của nàng, qua đó thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của mình.
* Tấm lòng thủy chung trong tình yêu (nhớ Kim Trọng):
* Trong cảnh ngộ bi đát, người đầu tiên Kiều nhớ đến là chàng Kim. Nỗi nhớ da diết, đau đáu: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”.
* Nàng xót xa cho tình yêu tan vỡ, tự nhận mình là người phụ bạc (“rày trông mai chờ”, “bên trời góc bể bơ vơ”).
* Việc đặt nỗi nhớ người yêu lên trước nỗi nhớ gia đình cho thấy Nguyễn Du đã rất thấu hiểu và trân trọng tình yêu tự do, một tư tưởng rất mới mẻ thời bấy giờ. Ông cảm thông với bi kịch tình yêu của Kiều.
* Tấm lòng hiếu thảo của người con (nhớ cha mẹ):
* Ngay sau đó, Kiều lại xót thương cha mẹ già yếu nơi quê nhà đang ngày đêm mong ngóng tin con: “Xót người tựa cửa hôm mai”.
* Nàng day dứt, ân hận vì không thể chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ: “Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?”.
* Nguyễn Du đã dùng những điển cố, điển tích (“Sân Lai”, “gốc tử”) để khắc họa một cách trang trọng, sâu sắc lòng hiếu thảo của Kiều.
=> Khi đặt mình vào vị trí của Kiều, “tấm lòng” của Nguyễn Du đã rung động cùng những cung bậc cảm xúc của nàng. Ông không chỉ thấy Kiều là một nạn nhân đáng thương mà còn là một con người có nhân cách cao đẹp: một người tình thủy chung, một người con hiếu thảo. Chính sự thấu hiểu và trân trọng những giá trị tốt đẹp ấy làm nên “tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”, vượt qua mọi định kiến của xã hội phong kiến, để lại niềm thương cảm sâu xa cho độc giả muôn thế hệ.
KẾT BÀI
Tóm lại, qua đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, nhận định của Mộng Liên Đường chủ nhân đã được chứng minh một cách thuyết phục. Bằng “con mắt trông thấu cả 6 cõi”, Nguyễn Du đã dựng nên một bức tranh nội tâm đặc sắc qua bút pháp tả cảnh ngụ tình. Bằng “tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời”, ông đã thể hiện sự đồng cảm, trân trọng vẻ đẹp nhân cách của Thúy Kiều. Chính sự kết hợp hài hòa giữa trí tuệ và trái tim đã làm nên sức sống vĩnh cửu cho “Truyện Kiều” và tầm vóc vĩ đại của đại thi hào Nguyễn Du.
—
Các em hãy đọc kỹ bài giải, đối chiếu với sách giáo khoa và ghi chép lại những ý chính. Quan trọng nhất là các em phải tự mình phân tích lại từng câu thơ để cảm nhận được cái hay, cái sâu sắc trong đó. Chúc các em học tốt
Kể đến những tác giả, tác phẩm xuất sắc của văn học trung đại Việt Nam, ta nghĩ ngay đến Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều của ông. Với tấm lòng nhân đạo tha thiết và tài năng văn học kiệt xuất, Nguyễn Du để lại ấn tượng sâu sắc qua những sáng tác của ông, đặc biệt là Truyện Kiều.
Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên (1765 – 1820), quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn chương. Cha là Nguyễn Nghiễm làm tới tể tướng dưới triều Lê, cũng là người giỏi văn chương. Mẹ là bà Trân Thị Tân người con gái xứ Kinh Bắc. Anh khác mẹ (con bà chính) Nguyễn Khản làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều. Nguyễn Du sống ở thời đại đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam, đó là sự kì khủng hoảng trầm trọng, giai cấp thông trị thối nát, tham lam, tàn bạo, các tập đoàn phong kiến (Lê – Trịnh- Nguyễn) chém giết lẫn nhau. Nông dân nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi, đời sống nhân dân khổ cực, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, tiêu biểu là phong trào Tây Sơn mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Huệ. Những yếu tố này tác động nhiều tới tình cảm, nhận thức của Nguyễn Du. Ông sớm lâm vào cảnh mồ côi (9 tuổi cha mất, 12 tuổi mẹ mất), phải sống phiêu bạt nhiều năm, nhiều nơi, lúc ở Thăng Long, lúc lại vào quê nội Hà Tĩnh, có giai đoạn về quê vợ ở Thái Bình. Những biến động lịch sử và cuộc đời đó đã tác động nhiều đến tâm hồn và tư tưởng của Nguyễn Du. Bởi thế ông cũng có nhiều tâm trạng: trung thành với nhà Lê, chống quân Tây sơn, sau này làm quan triều Nguyễn nhưng lại rụt rè, u uất. Có thể nói cuộc đời ông chìm nổi, gian truân, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều hạng người, đời từng trải, vôn sông phong phú, có nhận thức sâu rộng, được coi là một trong năm người giỏi nhất nước Nam lúc bấy giờ. Ông còn là người có trái tim giàu lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với những người nghèo khổ, với nhũng đau khổ của nhân dânệ Nguyễn Du nổi tiếng trước hết bởi cái tâm của một người luôn nghĩ đến nhân dân, luôn bênh vực cho những cuộc đời. nhữne số phận éo le, oan trái, đặc biệt là thân phận người phụ nữ.
Nguyễn Du cũng là người có năng khiếu văn học bẩm sinh, bậc thầy trong việc sử dụng tiếng Việt, ngôi sao chói lọi trong nền văn học trung đại Việt Nam. Về sự nghiệp, văn học Nguyễn Du có nhiều sáng tạo lớn cả về chữ Hán và chữ Nôm. Các sáng tác chữ Hán có Thanh Hiên thi tập (78 bài), Bắc hành tạp lục (125 bài), Nam trung tạp ngâm (40 bài)… sáng tác chữ Nôm có Vân chiêu hồn, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, tiêu biểu là tác phẩm Truyện Kiều hay còn gọi là Đoạn trường tân thanh.
Truyện Kiều ra đời đầu thế kỉ XIX (khoảng từ 1805 – 1809), lúc đầu có tên là “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới đứt ruột), sau này đổi thành “Truyện Kiều”. Tác phẩm viết dựa trên cuốn tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng đã có sự sáng tạo tài tình và thay đổi, bổ sung nhiều yếu tố trong cốt truyện cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Là truyện thơ Nôm được viết bằng thơ lục bát, dài 3254 câu, chia làm 3 phần (Gặp gỡ và đính ước; Gia biến và lưu lạc; Đoàn tụ). Đề tài của truyện là viết về cuộc đời Kiều nhưng thông qua đó tố cáo xã hội phong kiến lúc bấy giờ đã chà đạp, xô đẩy người phụ nữ vào bước đường cùng; đồng thời ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của Thuý Kiều và của người phụ nữ nói chung. Tác phẩm còn thể hiện rất rõ hiện thực cuộc sống đương thời với “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ tới muôn đời” của nhà thơ.
Truyện Kiều kể về cuộc đời truân chuyên của người con gái tài sắc Thuý Kiều. Thuý Kiều là một cô gái sinh trưởng trong gia đình họ Vương có ba chị em: Thuý Kiều, Thuý Vân và Vương Quan. Kiều là người con gái tài năng và nhan sắc thuộc bậc trên người. Nàng còn là người con hiếu nghĩa. Trong hội đạp thanh, Kiều gặp Kim Trọng, họ đã yêu nhau sau đó đính ước. Khi Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú, gia đình Kiều gặp tai biến, Kiều phải bán mình chuộc cha. Mã Giám sinh mua Kiều về Lâm Tri. Tú Bà lập mưu biến nàng thành gái lầu xanh. Thúc Sinh chuộc Kiều và cưới nàng làm vợ lẽ. Nàng lại bị Hoạn Thư – vợ Thúc Sinh sai lính đến bắt về làm hoa nô và bày trò đánh ghen. Nàng trốn khỏi nhà Thúc Sinh. Nhưng lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh phải vào lầu xanh lần thứ hai. Tại đây, Kiều gặp Từ Hải – một anh hùng “đội trời, đạp đất”, chàng chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, giúp Kiều báo ân, báo oán. Kiều lại mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị chết đứng. Kiều bị ép lấv viên thổ quanể Nhục nhã, đau đớn, nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự tư. được sư Giác Duyên cứu và đi tu. Kim Trọng trở lại sau nửa năm, chàng kết duyên với Thuý Vân theo lời trao duyên của Kiều.Sau này, Kim Trọng và Vương Quan đã bỏ nhiều công sức tìm Thúy Kiều. Rất may họ đã gặp lại Thuý Kiều, Kiều được đoàn tụ với gia đình và Kim Trọng sau mười lăm năm lưu lạc.
Đúng vậy tác giả đã miêu tả vẻ đẹp của Kiều làm cho thiên nhiên hờn ghen đó kị. Qua đây tác giả đã dự cảm chính xác số phận của kiều ba chìm bảy nổi và lênh đênh lận đận.