Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Nhớ gì như nhớ người yêu Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản k…

Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản k…

Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy…
…Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Án sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên, từ đó nhận xét đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.
Hỏi bởi: Lê Thị Linh
3 câu trả lời
▲ 8
Xin chào các em học sinh yêu quý! Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào phân tích hai đoạn thơ trích trong tác phẩm “Việt Bắc” của nhà thơ Tố Hữu. Đây là một bài thơ giàu cảm xúc và mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc, xứng đáng là một trong những đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam.

Để làm tốt bài tập này, chúng ta sẽ thực hiện theo các bước sau:

Bước 1: Đọc kỹ hai đoạn thơ và tìm hiểu bối cảnh sáng tác.

Trước hết, các em hãy đọc thật kỹ hai đoạn thơ này. Cần đọc với tâm trạng lắng đọng, cảm nhận từng câu chữ, nhịp điệu.

Đoạn thơ thứ nhất:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy…

Đoạn thơ thứ hai:
…Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Án sao đầu súng bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.

Về bối cảnh sáng tác, các em cần nhớ rằng “Việt Bắc” được Tố Hữu sáng tác năm 1954, ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử, khi cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta kết thúc thắng lợi và miền Bắc bắt đầu bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bài thơ là lời tâm tình của người Việt Bắc (đại diện cho nhân dân Việt Bắc) với người cán bộ kháng chiến nay trở về xuôi.

Bước 2: Cảm nhận về nội dung và nghệ thuật của từng đoạn thơ.

Chúng ta sẽ đi vào cảm nhận từng đoạn thơ một nhé.

Phân tích đoạn thơ thứ nhất:

Nội dung: Đoạn thơ này khắc họa một bức tranh Việt Bắc đầy thơ mộng, trữ tình nhưng cũng rất đỗi thân thương, gần gũi. Tố Hữu đã tái hiện lại những hình ảnh quen thuộc, gắn bó máu thịt với cuộc sống kháng chiến, với “người thương” – những người cán bộ cách mạng.

Nghệ thuật:
* Điệp ngữ “nhớ”: Điệp ngữ “nhớ” được lặp đi lặp lại ngay từ đầu, tạo nên âm hưởng day dứt, thiết tha, nhấn mạnh nỗi nhớ da diết và bao trùm.
* So sánh độc đáo: “Nhớ gì như nhớ người yêu” là một hình ảnh so sánh vô cùng đắt giá. Nỗi nhớ Việt Bắc không còn là nỗi nhớ thông thường mà được nâng lên tầm cao của tình yêu đôi lứa. Tình yêu này là sự hòa quyện giữa tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cách mạng và tình cảm cá nhân.
* Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, giàu sức sống:
* “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”: Vẻ đẹp thiên nhiên bình dị, thơ mộng. Trăng và nắng là những yếu tố quen thuộc của bức tranh thiên nhiên Việt Nam, gợi lên sự trong trẻo, thanh bình.
* “Bản khói cùng sương”: Hình ảnh bản làng mờ ảo trong làn khói lam chiều và sương sớm, mang vẻ đẹp huyền ảo, cổ kính.
* “Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”: Hình ảnh bếp lửa gợi lên sự ấm áp, sum vầy, là nơi con người tụ họp, là nhịp sống thường ngày của bản làng. “Người thương đi về” không chỉ là hình ảnh người thân trong gia đình mà còn là những người cán bộ cách mạng đã gắn bó, sẻ chia.
* “Rừng nứa bờ tre”: Những hình ảnh đặc trưng của làng quê Việt Nam, gợi lên sự gắn bó, thân thuộc.
* “Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê”: Việc liệt kê các địa danh cụ thể, dù vơi đầy, cũng cho thấy sự gắn bó sâu sắc, chi tiết, không hề quên lãng. Nó cho thấy Việt Bắc không chỉ là một vùng đất mà là cả một kỷ niệm, một phần máu thịt.
* Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi: Tố Hữu sử dụng ngôn ngữ giản dị, mộc mạc nhưng lại giàu sức gợi, vẽ nên những bức tranh sống động và đầy cảm xúc.
* Nhịp điệu: Nhịp điệu thơ chậm rãi, da diết, thể hiện nỗi nhớ thương sâu lắng.

Phân tích đoạn thơ thứ hai:

Nội dung: Khác với vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của đoạn thơ thứ nhất, đoạn thơ thứ hai lại khắc họa một bức tranh hùng tráng, oanh liệt của Việt Bắc trong những ngày kháng chiến. Đó là hình ảnh Việt Bắc với những đoàn quân ra trận, những đoàn dân công vượt mọi gian khó để phục vụ chiến trường.

Nghệ thuật:
* Hình ảnh “Đường Việt Bắc”: “Những đường Việt Bắc của ta” được nhân hóa, trở thành những con đường sống động, mang ý nghĩa lịch sử.
* Sức mạnh và khí thế hào hùng:
* “Đêm đêm rầm rập như là đất rung”: Âm thanh “rầm rập” gợi lên bước chân hành quân dồn dập, mạnh mẽ, âm vang. So sánh “như là đất rung” cho thấy quy mô của cuộc hành quân, sức mạnh của cả một dân tộc đang sục sôi.
* “Quân đi điệp điệp trùng trùng”: Hình ảnh đoàn quân kéo dài vô tận, nối tiếp nhau ra trận. “Điệp điệp trùng trùng” vừa gợi tả số lượng đông đảo, vừa gợi lên sự kiên cường, bất khuất.
* “Án sao đầu súng bạn cùng mũ nan”: Một hình ảnh vô cùng độc đáo và ấn tượng. “Án sao” là những tàn lửa nhỏ bắn ra từ đầu súng, “mũ nan” là chiếc mũ lá của người dân công. Sự kết hợp này không chỉ gợi lên hình ảnh chiến đấu khốc liệt mà còn cho thấy sự hòa quyện giữa người chiến sĩ và người dân, giữa tiền tuyến và hậu phương. Mũ nan bình dị lại đi cùng với “đầu súng” – biểu tượng của chiến tranh.
* “Dân công đỏ đuốc từng đoàn”: Ánh đuốc đỏ rực soi sáng con đường đêm, gợi lên tinh thần lạc quan, ý chí quyết tâm. “Đỏ đuốc” vừa là hình ảnh thực tế, vừa mang tính biểu tượng cho tinh thần cách mạng bừng cháy.
* “Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”: Hình ảnh cực tả sự gian lao, vất vả của dân công. “Bước chân nát đá” cho thấy sự bền bỉ, phi thường. “Muôn tàn lửa bay” vừa là hình ảnh thực tế của việc đốt đuốc, vừa gợi lên hình ảnh của bom đạn, chiến tranh.
* Ngôn ngữ mạnh mẽ, giàu âm hưởng: Tố Hữu sử dụng những từ ngữ có âm điệu mạnh mẽ, dứt khoát, thể hiện khí thế hào hùng của thời đại.
* Nhịp điệu: Nhịp điệu nhanh, gấp gáp, thể hiện sự khẩn trương, mạnh mẽ của không khí chiến tranh.

Bước 3: Nhận xét đặc điểm phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu qua hai đoạn thơ.

Từ việc phân tích nội dung và nghệ thuật của hai đoạn thơ trên, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm phong cách nghệ thuật nổi bật của thơ Tố Hữu:

1. Tính dân tộc, tính thời đại sâu sắc:
* Thơ Tố Hữu luôn gắn liền với những sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc, phản ánh chân thực những chặng đường cách mạng. Hai đoạn thơ trên đã khắc họa rõ nét bức tranh Việt Bắc trong hai giai đoạn khác nhau: trữ tình, êm đềm và hào hùng, khốc liệt.
* Ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ mang đậm hồn cốt dân tộc. Tố Hữu sử dụng những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với đời sống nhân dân như bếp lửa, khói sương, rừng tre, nứa, mũ nan, đuốc… để nói lên những vấn đề lớn lao của cách mạng.

2. Giọng thơ trữ tình – chính trị, đậm đà tính Đảng:
* Tố Hữu có khả năng kết hợp hài hòa giữa cảm xúc cá nhân và ý thức chính trị. Nỗi nhớ cá nhân trong “nhớ người yêu” lại được nâng lên thành tình yêu cách mạng, tình yêu đất nước.
* Thơ Tố Hữu luôn mang một giọng điệu lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, đề cao tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu của dân tộc.
* Tính Đảng được thể hiện rõ nét qua việc ca ngợi Đảng, ca ngợi Chủ tịch Hồ Chí Minh, ca ngợi những đóng góp của nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.

3. Sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh giàu sức biểu cảm, sáng tạo, mang tính đại chúng:
* Tố Hữu có biệt tài sử dụng ngôn ngữ bình dị, quen thuộc nhưng lại vô cùng giàu sức gợi và có sức lay động lớn. Ông biết cách “đưa thơ vào cuộc sống và đưa cuộc sống vào thơ”.
* Những hình ảnh so sánh, ẩn dụ, nhân hóa của Tố Hữu thường rất độc đáo, mới mẻ và mang đậm dấu ấn cá nhân như: “nhớ gì như nhớ người yêu”, “đêm đêm rầm rập như là đất rung”, “án sao đầu súng bạn cùng mũ nan”.
* Tuy nhiên, những hình ảnh này không hề khó hiểu mà vẫn mang tính đại chúng, dễ dàng đi vào lòng người.

4. Nhịp điệu bài thơ phong phú, biến hóa:
* Tố Hữu rất chú trọng đến âm hưởng của câu thơ, nhịp điệu của bài thơ. Tùy thuộc vào nội dung và cảm xúc mà nhịp điệu có thể chậm rãi, da diết, hoặc nhanh, mạnh, hùng tráng. Điều này thể hiện sự tài hoa của nhà thơ trong việc sử dụng ngôn ngữ.

Kết luận:

Qua hai đoạn thơ trích từ “Việt Bắc”, chúng ta không chỉ cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, con người Việt Bắc mà còn thấy rõ tài năng của Tố Hữu trong việc xây dựng những bức tranh thơ vừa trữ tình, sâu lắng, vừa hùng tráng, mạnh mẽ. Phong cách nghệ thuật của Tố Hữu với những đặc điểm trên đã góp phần làm nên giá trị to lớn của thơ ca cách mạng Việt Nam.

Các em về nhà ôn lại bài và chuẩn bị cho phần tiếp theo nhé! Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, đừng ngần ngại hỏi cô.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 3

I, MB: – Giới thiệu tác giả tác phẩm

         – Nêu đoạn trích

Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, là “con chim đầu đàn” của thơ ca Cách mạng Việt Nam thế kỉ XX. Sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu gắn liền với sự nghiệp cách mạng, thơ ông luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng. Nhắc đến ông, ta chẳng thể nào quên được những tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Ra trận, Máu và hoa,… Tiêu biểu trong số đó là bài thơ “Việt Bắc”, là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc. Đặc biệt là đoạn trích 

” Nhớ gì như nhớ người yêu

….

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”

II, TB 

 1, Khái quát chung: 

 – HCST: Chiến thắng Điện Biên Phủ thắng lợi. Tháng 7-1954, Hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, một trang sử mới mở ra cho toàn dân tộc. Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện có tính lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ.

– Vị trí đoạn trích: thuộc phần 2 của đoạn trích VIỆT BẮC (trong sgk)

– Nội dung: Nỗi nhớ của người ra đi và niềm tin vào Đảng, Chính phủ và Bác Hồ

 2, Phân tích 

a, 6 câu trước: Nỗi nhớ về cuộc sống ở VB.

– Bp SS: “nhớ người yêu” cho thấy sắc thái cao nhất của nỗi nhớ;

– Phép tiểu đối: “Trăng lên đầu núi / nắng chiều lưng nương” thể hiện nỗi nhớ từ đêm sang ngày, bao trùm cả không gian lẫn thời gian;

+ “Bát cơm sẻ nửa / chăn sui đắp cùng” là hình ảnh cảm động cho thấy sự san sẻ khó khăn gian khổ, chia sớt ngọt bùi, đắng cay giữa người dân VB và những người CM.

– Phép điệp: nhớ, nhớ từng, nhớ sao => nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, sâu sắc.

=> Con người và cuộc sống VB: nghèo cực, lam lũ mà thủy chung, son sắt.

=> Thiên nhiên, núi rừng, cuộc sống và con người ở VB luôn in đậm trong tâm trí những người về xuôi => tình cảm chân thành, tha thiết của người cán bộ kháng chiến.

b, 6 câu sau: khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến chống thực dânPháp ở VB:

+ Các ĐT mạnh: rầm rập, rung, bật đã tạo thành những chuyển rung dữ dội, thể hiện sức mạnh vô địch của cuộc kháng chiến.

+ Các từ láy: điệp điệp, trùng trùng diễn tả khí thế mạnh mẽ không gì có thể ngăn cản nỗi.

+ Bp cường điệu: Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay => sức mạnh của thời đại, của ý chí tiêu diệt giặc, của tinh thần đoàn kết có thể làm nên những điều tưởng chừng không thể.

+ Nhịp điệu: dồn dập, mạnh mẽ như những bước hành quân của quân dân VB, thể hiện khí thế ra trận của cả một dt trong trận chiến quyết định với kẻ thù.

3, Đánh giá chung 

 -ND, NT

III, KB: Khẳng định lại vấn đề 

* bài viết

Tố Hữu là nhà thơ lớn của dân tộc, là “con chim đầu đàn” của thơ ca Cách mạng Việt Nam thế kỉ XX. Sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu gắn liền với sự nghiệp cách mạng, thơ ông luôn gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng. Nhắc đến ông, ta chẳng thể nào quên được những tập thơ: Từ ấy, Việt Bắc, Ra trận, Máu và hoa,… Tiêu biểu trong số đó là bài thơ “Việt Bắc”, là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc. Đặc biệt là đoạn trích 

” Nhớ gì như nhớ người yêu

….

Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”.

Việt Bắc là khu căn cứ của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7/ 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tháng 10/ 1954, Đảng và Chính phủ rời Việt Bắc về Hà Nội, những người kháng chiến (trong đó có Tố Hữu) từ căn cứ miền núi về miền xuôi chia tay Việt Bắc, chia tay khu căn cứ Cách mạng trong kháng chiến. Nhân sự kiện có tính lịch sử này Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”. Bài thơ “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ ca kháng chiến chống Pháp.

Chia xa mảnh đất mình từng gắn bó, ai mà chẳng nhớ chẳng thương. Thế nhưng hiếm có thi sĩ nào mang trong tim nỗi nhớ tha thiết, khắc khoải, cháy bỏng khi dã từ chiến khu Việt Bắc: “Nhớ gì như nhớ người yêu”. Một dòng thơ mà hai lần chữ “nhớ” được láy lại. Nỗi nhớ cứ lơ lửng ám ảnh mãi tâm trí người đi đến mức không thể kìm nén được. Lời thơ buông ra với ngữ điệu hết sức đặc biệt, nửa như nghi vấn, nửa như cảm thán tạo ấn tượng, ám ảnh người đọc. “Như nhớ người yêu” là hình ảnh so sánh, ví von thật lãng mạn, tình tứ. Nỗi nhớ Việt Bắc được cảm nhận như nỗi nhớ thương người yêu. Có khi ngẩn ngơ, ngơ ngẩn; có khi bồn chồn, bối rối, bổi hổi, bồi hồi. Khi da diết khắc khoải, khi lại đau đáu thăm thẳm. Nỗi nhớ khi chia xa Việt Bắc phải chăng hàm chứa mọi cung bậc cảm xúc ấy. Một nỗi nhớ nồng nàn, đằm thắm, tha thiết. Với hình ảnh so sánh này, Tố Hữu thực sự là một tình nhân đắm đuối trước Việt Bắc, trước nhân dân đất nước mình. Cùng với những câu thơ “Mình về mình có nhớ ta – Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng, Áo chàm đưa buổi phân lí – Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”, tứ thơ “Nhớ gì như nhớ người yêu” đã đưa thi phẩm Việt Bắc trở thành khúc tình ca bậc nhất trong thơ ca Cách mạng. Quả không sai khi Xuân Diệu nhận xét: Tố Hữu đã đưa thơ chính trị lên đến trình độ thơ rất đỗi trữ tình. Khám phá câu thơ “Nhớ gì như nhớ người yêu”, ta bỗng vỡ lẽ hiểu ra rằng lối kết cấu đối đáp cùng cách xưng hô “ta – mình” trong Việt Bắc không đơn thuần là sáng tạo hình thức, là câu chuyện ngôn ngữ. Tình cảm giữa cán bộ Cách mạng và đồng bào chiến khu thiết tha, mặn nồng như tình đôi lứa khiến nhà thơ tìm đến cách cấu tứ xưng hô như vậy.

Chảy về trong nỗi nhớ niềm thương là cảnh sắc Việt Bắc thơ mộng hiền hòa:

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khó cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Nhớ từng rừng nứa, bờ tre

Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.

Những câu thơ như một bức họa gợi cảm về cảnh rừng Việt Bắc thơ mộng, hữu tình. Có đêm trăng huyền ảo, mảnh trăng lấp ló nơi đầu núi, có những chiều tỏa nắng trên nương và hình ảnh những nếp nhà, bản làng thấp thoáng trong sương khói bồng bềnh. Không miêu tả chi tiết, Tố Hữu chỉ chấm phá, khơi gợi. Tuy nhiên, với những người trong cuộc, chỉ chừng ấy thôi cũng đủ bồi hồi, xao xuyến biết bao. Hòa cùng vẻ đẹp bình dị và thơ mộng của thiên nhiên Việt Bắc là hình ảnh con người Việt Bắc rất đỗi thân thương: Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Hình ảnh thơ gợi tả tinh tế sự tần tảo, đảm đang, chịu thương, chịu khó của những cô gái nuôi quân nơi chiến khu Việt Bắc. Không quản khó nhọc gian nan, những thiếu nữ Việt Bắc vẫn sớm hôm cần mẫn nuôi dấu cán bộ. Hình ảnh bếp lửa gợi những buổi đoàn tụ ấm cùng và nghĩa tình quân dân nồng đượm. Tình quân dân, cách mạng mà mang không khí ấm áp, yêu thương như tình cảm gia đình. Cách nói “người thương” khéo léo, nhiều sức gợi, chứa chan tình cảm dịu dàng mà nồng nàn, yêu thương. Hẳn trong trái tim nhà thơ đã để thương một người con gái Việt Bắc biết hi sinh vì Cách mạng.

Những đồi tre bát ngát, những dòng suối mát trong, con sông hiền hòa, tất cả cứ in sâu trong nỗi nhớ người về. Nhắc đến dòng sông, đồi núi, rừng nứa, bờ tre là dưng dưng bao kỉ niệm, đong đầy bao yêu thương. Những cái tên: Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê có lẽ không đơn thuần chỉ là những địa danh mà còn ẩn dấu bao kỉ niệm cảm xúc. Những gắn bó gian khổ, ngọt bùi đã trở thành những kỷ niệm da diết trong trái tim người đi khó có thể quên được. Biết bao những xúc động bồi hồi cùng những ngọt ngào dưng dưng dồn chứa trong mấy chữ “đắng cay, ngọt bùi” cùng dấu chấm lửng cuối dòng thơ. Người đi muốn nhắn gửi với người ở lại rằng người về xuôi sẽ không quên bất cứ một kỉ niệm, một kí ức nào.

Đặc biệt, trong bài thơ, Tố Hữu đã viết nên một khúc ca hùng tráng về con người kháng chiến và cuộc kháng chiến. Điều đó thể hiện rõ trong đoạn thơ sau:

Những đường Việt Bắc của ta

Đêm đêm rầm rập như lá đất rung

 Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.

Thứ nhất, đoạn thơ đã tái hiện nên những hình ảnh hào hùng của quân và dân ta trong kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta là một cuộc kháng chiến toàn dân. Các tầng lớp nhân dân bất phân già trẻ, gái trai, lớn bé đều tham gia kháng chiến. Trong đó, nổi bật nhất là hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ. Người lính thời chống Pháp đã trải qua biết bao nhiêu hi sinh gian khổ nhưng rất hùng tráng và đầy lạc quan.

     Hình ảnh hào hùng của đoàn quân ấy được thể hiện trong hai câu đầu của đoạn thơ:

Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

     Hai từ láy “điệp điệp” và “trùng trùng” đi liền nhau ở câu thơ có sức gợi tả đó, nó vừa gợi lên hình ảnh của một đoàn quân đông đúc, vừa gợi lên sức mạnh, khí thế hào hùng của một đoàn quân. Đoàn quân ra mặt trận hùng tráng, mang cả sức mạnh của lòng yêu nước, của lí tưởng cách mạng, khát khao chiến đấu và chiến thắng quân thù.

     Câu thơ thứ hai đưực ngắt theo nhịp 4/4: “Ánh sao đầu súng / bạn cùng mũ nan” càng làm tăng thêm vẻ đẹp của người lính – một vẻ đẹp vừa mang tính lãng mạn vừa mang tính hiện thực sâu sắc. Hình ảnh “Ánh sao đầu súng” có thể là hình ảnh ánh sao trời treo trên đầu súng của những người lính trong mỗi đêm hành quân như “Đầu súng trăng treo” trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu; “ánh sao đầu súng” ấy cũng có thể là ánh sáng của ngôi sao gắn trên chiếc mũ nan của người lính, ánh sáng của lí tưởng cách mạng soi cho người lính bước đi, như nhà thơ Vũ Cao trong bài Núi đôi đã viết:

Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

     Góp phần vào sự hào hùng của cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta có cả một tập thể quần chúng nhân dân tham gia kháng chiến. Họ là những “dân công đỏ đuốc từng đoàn” tải lương thực, súng đạn để phục vụ cho chiến trường. Hình ảnh của họ cũng thật đẹp, thật hào hùng và đầy lạc quan không kém những người lính:

Dân công đỏ đuốc từng đoàn

Dấu chân nát đá, muôn tàn lửa bay

     Bằng một cách nói cường điệu “dấu chân nát đá ”, nhà thơ đã làm nổi bật sức mạnh yêu nước, yêu lí tưởng cách mạng, ý chí quyết tâm đánh thắng quân thù của người nông dân lao động. Người nông dân lao động (lực lượng nòng cốt của cách mạng) là lực lượng góp phần rất lớn để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn sau này – Họ là những người nông dân đôn hậu, chất phác, lớn lên từ bờ tre, gốc lúa nhưng họ đi vào cuộc kháng chiến với tất cả những tình cảm và hành động cao đẹp, họ bất chấp những hi sinh, gian khổ, chấp mưa bom bão đạn của quân thù, đạp bằng mọi trở lực để đi theo tiếng gọi của lòng yêu nước và lí tưởng cách mạng

Với lối thơ lục bát ngọt ngào như ca dao, với chất thơ trữ tình cách mạng, thật sôi nổi, hào hùng, thiết tha, nhà thơ Tố Hữu trong đoạn thơ này đã thể hiện nổi bật  tấm lòng chân tình của cán bộ kháng chiến với Việt Bắc cũng như khí thế hào hùng của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc.

 

Trả lời bởi:
▲ 0

Tố Hữu, một cái tên không hề xa lạ với bạn đọc yêu thơ . Qủa thật là vậy, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định Tố Hữu đã và sẽ luôn là ngọn cờ tiên phong tiêu biểu cho nền thơ ca Cách mạng Việt Nam. Ở Tố Hữu, con người chính trị và con người nhà thơ gắn bó chặt chẽ với nhau, sự hòa hợp giữa chất trữ tình và chính trị được ẩn hiện qua từng tác phẩm mà nổi bật nhất là bài Việt Bắc.Đây là bài thơ ghi lại những tình cảm sâu nặng, những nỗi nhớ da diết của một người cán bộ vế xuôi với con người thiên nhiên Tây Bắc. Đoạn thơ sau đã thể hiện sự nhớ nhung của tác giả với cảnh, người cùng cuộc kháng chiến:

“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bàn khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cây ngọt bùi”

Việt Bắc là căn cứ cách Mạng, là đầu não của cuộc kháng chiến chống pháp. Thiên nhiên và đồng bào Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho Đảng và Chính phủ suốt 15 năm trời. Bài thơ VIệT BắC được sáng tác vào khoảng thời gian tháng 10/1954, là lúc các cơ quan Trung ương của Đảng và chính phủ rời khỏi Tây Bắc để trởi về Hà Nội. Đây là một bài thơ dài ghi lại tình cảm lưu luyến của cán bộ và nhân dân và cũng là lời khẳng định tình cảm thủy chug của người cán bộ về xuôi với Việt Bắc, với cuộc kháng chiến, với cách mạng. Đoạn trích trên nằm ở khổ ba của phần I bài thơ nói về những kỷ niệm cùng nỗi nhớ với thiên nhiên con người Việt Bắc.

Một nỗi nhớ da diết, không nguôi được tác gỉa hình dung thật lạ

“Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”

Một chữ “gì” hàm chứa biết bao điều, phải chăng đó chính là nỗi nhớ thiên nhiên, với nhân dân cùng quãng thời gian kháng chiến đầy ấp kỷ niệm. Nhớ “như nhớ người yêu”, hình ảnh so sánh thật đầy ý nghĩa, nỗi nhớ sao thật dai dẳng triền miên, luôn thường trực trong tâm trí. Một khung cảnh hiện ra đã hoàn toàn khẳng định đối tượng được nhớ đến – Việt Bắc:”Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương” rồi sau đó là những hình ảnh miêu tả không gian thơ mộng đậm chất núi rừng Việt Bắc

“Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”

Hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc được liệt kê đến từng chi tiết. Rõ ràng tác giả vẫn nhớ rất rõ những kỷ niệm cùng khung cảnh Việt Bắc. “Người thương”, hai chữ thôi nhưng chứa đựng biết bao ân tình. Đây chính là những con người VIệT BắC đã cưu mang, che chở cho cán bộ trong suốt một quãng thời gian dài gian khó. “Bếp lửa” – hình ảnh của một gia đình ấm cúng thường thấy, Phải chăng tác giả đã xem nơi đây như là gia đình thứ hai của mình.Vần chân “sương” và “người thương” làm cho giọng điệu câu văn trở nên da diết, diễn tả một nỗi nhớ bịnh rịnh, lưu luyến, không muốn rời xa. Vẫn tiếp tục là nỗi nhớ, nhưng dường như ngày càng sâu đậm hơn với những tên gọi địa danh gắn liền với quá khứ cách mạng mà tác giả từng trãi qua:

“Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”

Dù là một nơi nhỏ trong chốn núi rừng Việt Bắc bao la, nhưng dường như trong ký ức của tác giả nó cũng trở nên quan trọng, không bao giờ có thể quên.Một sự khẳng định chắc chắn…không bao giờ có thể quên:

“Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”

Dù bản thân có đi xa, dù có ở nơi chốn nào thì vẫn sẽ luôn nhớ về “mình”. Ngôn từ xưng hô thật giản dị mà thân thương. “Mình” cùng “ta” nào có thể quên được những “đắng cay ngọt bùi” đã trải qua. Hình ảnh ẩn dụ “đắng cay” chính là những khó nhọc, gian nan mà nhân dân cùng cán bộ đã phải trải qua trong suốt thời kỳ kháng chiến, còn niềm vui chiến thắng không gì khác chính là “ngọt bùi”. Từng nỗi nhớ như tràn ngập trong tâm hồn Tố Hữu biểu hiện cho một tình cảm sâu nặng tựa như nỗi tương tư đến “người thương”. Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại càng khắc sâu hơn sự nhớ nhung ngghìn trùng tha thiết của tác giả đối với Việt Bắc.

Cả đoạn thơ mang đậm màu sắc dân tộc, thể hiện rõ hồn thơ của Tố Hữu. Điệp từ “nhớ” cùng lối so sánh đặc biệt để bộc lộ một cảm xúc thương nhớ dạt dào.Cách gieo vần, sử dụng tài tình thể thơ lục bát đã làm cho đoạn thơ mang âm điệu ngọt ngào, êm ái. Việc liệt kê một loạt những hình ảh cùng địa danh của Việt Bắc đã khắc họa thật sâu nỗi niềm thương nhớ của một người chiến sĩ – thi sĩ đối với quê hương thứ hai của mình.

Đoạn thơ trên chính là bản tình ca về lòng chung thủy sắt son, chính là tiếng lòng của nhà thơ, hay cũng chính là của những người VNtrong kháng chiến. Với những câu thơ dạt dào cảm xúc, Tố Hữu đã thể hiện thành công tình cảm của người cán bộ dành cho thiên nhiên, nhân dân Việt Bắc không chỉ là tìh cảm công dân xã hội mà còn là sự sâu nặng như tình yêu lứa đôi. Nhờ vậy Việt Bắc đã trở thành thành phần tiêu biểu cho văn học Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp.

Bằng những vần thơ đậm chất dân tộc, nỗi nhớ cùng tình cảm chugn thủy sắt son giữa người cán bộ với nhân dân, thiên nhiên Việt Bắc cùng cuộc kháng chiến được khắc họa rõ nét. Thật hiển nhiên, Tố Hữu xứng đáng trở thành ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.

Chúc bạn học tốt!

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo