PHẦN I: ĐỌC HIỂU (4,0 điểm): Đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi:
Cả nhà đi…
Cả nhà đi học
Đưa con đến lớp mỗi ngày
Như con mẹ cũng “thưa thầy”, “chào cô”
Chiều qua bố đón tình cờ
Con nghe bố cũng “chào cô”, “thưa thầy”…
Cả nhà đi học, vui thay!
Hèn chi điểm xấu, buồn lây cả nhà
Hèn chi mười điểm hôm qua
Nhà mình như thể được… ba điểm mười.
(Cao Xuân Sơn)
Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? (1,0 điểm)
Câu 2: Tìm và ghi lại câu cảm thán có trong bài thơ? (1,0 điểm)
Câu 3: Trong bốn câu thơ cuối, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ nào? Hãy nêu tác dụng của việc sử dụng biện pháp tu từ đó?
Cô là giáo viên Ngữ Văn của các em đây. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đi giải một bài tập đọc hiểu rất thú vị về một bài thơ về gia đình.
Chúng ta cùng bắt đầu nhé!
PHẦN I: ĐỌC HIỂU (4,0 điểm):
Câu 1: Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào? (1,0 điểm)
Bước 1: Quan sát số chữ trong mỗi dòng thơ.
Cô sẽ đếm số chữ trong từng dòng thơ:
– Dòng 1: “Cả nhà đi học” – 3 chữ
– Dòng 2: “Đưa con đến lớp mỗi ngày” – 6 chữ
– Dòng 3: “Như con mẹ cũng “thưa thầy”, “chào cô”” – 9 chữ
– Dòng 4: “Chiều qua bố đón tình cờ” – 6 chữ
– Dòng 5: “Con nghe bố cũng “chào cô”, “thưa thầy”…” – 9 chữ
– Dòng 6: “Cả nhà đi học, vui thay!” – 6 chữ
– Dòng 7: “Hèn chi điểm xấu, buồn lây cả nhà” – 9 chữ
– Dòng 8: “Hèn chi mười điểm hôm qua” – 6 chữ
– Dòng 9: “Nhà mình như thể được… ba điểm mười.” – 9 chữ
Chúng ta thấy số chữ trong các dòng thơ không cố định, có dòng 3 chữ, có dòng 6 chữ, có dòng 9 chữ.
Bước 2: Quan sát cách gieo vần và ngắt nhịp.
– Gieo vần: Các tiếng cuối các dòng thơ có xu hướng hiệp vần với nhau, ví dụ “ngày” (dòng 2) hiệp với “thầy”, “cô” (dòng 3) không hiệp hẳn nhưng có sự tương đồng về âm cuối, “cờ” (dòng 4) hiệp với “thầy”, “cô” (dòng 5) và “thay” (dòng 6). Vần được gieo linh hoạt, không theo một quy luật chặt chẽ như thơ Đường luật.
– Ngắt nhịp: Bài thơ có các cách ngắt nhịp đa dạng, không cố định. Ví dụ: “Đưa con đến lớp / mỗi ngày”, “Như con mẹ cũng / “thưa thầy”, “chào cô””.
Bước 3: Xác định thể thơ dựa trên các dấu hiệu đã quan sát.
Với đặc điểm số chữ không cố định, cách gieo vần và ngắt nhịp linh hoạt, bài thơ trên thuộc thể thơ lục bát biến thể hoặc thơ tự do có yếu tố lục bát. Tuy nhiên, với số lượng chữ và cách gieo vần tương đối gần với lục bát (6 chữ, 8 chữ xen kẽ) nhưng có biến tấu ở một số dòng, ta có thể gọi đây là thể thơ lục bát biến thể hoặc có thể xem xét đây là một dạng thơ tự do.
Trả lời: Bài thơ trên được viết theo thể thơ lục bát biến thể (hoặc có thể xem là thơ tự do có yếu tố lục bát).
Câu 2: Tìm và ghi lại câu cảm thán có trong bài thơ? (1,0 điểm)
Bước 1: Nhận diện đặc điểm của câu cảm thán.
Câu cảm thán là câu dùng để bộc lộ tâm xúc, tình cảm của con người (vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên,…) và thường có các dấu câu như dấu chấm than (!) hoặc các từ ngữ cảm thán (Ôi, Than ôi, Chao ôi, Hỡi ơi,…).
Bước 2: Đọc kỹ từng câu thơ và tìm các dấu hiệu nhận biết.
– “Cả nhà đi học, vui thay!”
Chúng ta thấy câu thơ này kết thúc bằng dấu chấm than (!).
Từ “vui thay” thể hiện rõ sự vui vẻ, phấn khởi của người nói.
Trả lời: Câu cảm thán có trong bài thơ là: Cả nhà đi học, vui thay!
Câu 3: Trong bốn câu thơ cuối, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ nào? Hãy nêu tác dụng của việc sử dụng biện pháp tu từ đó?
Bước 1: Xác định bốn câu thơ cuối.
Bốn câu thơ cuối là:
“Hèn chi điểm xấu, buồn lây cả nhà
Hèn chi mười điểm hôm qua
Nhà mình như thể được… ba điểm mười.”
Bước 2: Phân tích nội dung và cách diễn đạt của bốn câu thơ.
– “Hèn chi điểm xấu, buồn lây cả nhà”: Câu này diễn tả khi có điểm xấu, cả nhà đều cảm thấy buồn.
– “Hèn chi mười điểm hôm qua”: Câu này diễn tả khi có điểm mười, cả nhà vui vẻ.
– “Nhà mình như thể được… ba điểm mười.”: Câu này so sánh niềm vui khi cả nhà đi học với việc đạt “ba điểm mười”.
Bước 3: Nhận diện biện pháp tu từ.
Chúng ta thấy có sự lặp lại của cụm từ “Hèn chi” ở đầu hai câu.
Ngoài ra, câu “Nhà mình như thể được… ba điểm mười.” sử dụng từ “như thể” để so sánh. Đây là phép so sánh.
Tuy nhiên, điều nổi bật nhất trong bốn câu thơ này là cách diễn đạt về điểm số. Khi có điểm xấu thì buồn, khi có điểm tốt thì vui. Và việc cả nhà cùng tham gia vào việc học, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với con đã khiến cho không khí trong nhà trở nên đặc biệt. Khi con đạt điểm mười, niềm vui ấy được ví von một cách dí dỏm, sinh động là “như thể được… ba điểm mười”.
Đây là một cách nói cường điệu về mức độ vui sướng, tự hào của cả gia đình khi con đạt kết quả tốt.
Bước 4: Nêu tác dụng của biện pháp tu từ.
– Biện pháp tu từ được sử dụng ở đây chủ yếu là cách nói ví von, so sánh độc đáo và có phần cường điệu hóa để thể hiện cảm xúc.
– Tác dụng:
+ Làm nổi bật niềm vui, sự hân hoan, tự hào của cả gia đình khi con đạt thành tích tốt trong học tập. Niềm vui ấy không chỉ là của riêng đứa trẻ mà là niềm vui chung của cả nhà.
+ Tạo hiệu quả hài hước, dí dỏm, sinh động cho bài thơ, giúp bài thơ trở nên gần gũi và đáng yêu hơn.
+ Khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc học tập đối với cả gia đình, cho thấy sự quan tâm, đồng hành của cha mẹ với con cái.
Trả lời:
Trong bốn câu thơ cuối, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh kết hợp với cách diễn đạt cường điệu hóa (qua phép ví von dí dỏm) để nói về niềm vui.
Tác dụng:
+ Làm nổi bật niềm vui sướng, tự hào tột độ của cả gia đình khi con đạt điểm cao.
+ Tạo hiệu quả gây cười, sự dí dỏm, sinh động và gần gũi cho bài thơ.
+ Khẳng định tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học tập đối với toàn thể gia đình.
Các em thấy đó, bài thơ tuy ngắn nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc về tình cảm gia đình và tầm quan trọng của việc học tập. Cô hy vọng qua bài tập này, các em sẽ yêu thích môn Văn hơn và có thêm những kiến thức bổ ích. Hẹn gặp lại các em trong các bài học tiếp theo!
Câu 1 :
– Thể thơ : Lục bát
Câu 2 :
– Câu cảm thán trong bài thơ :
+ Cả nhà đi học vui thay !
*) Câu cảm thán hay Câu cảm là Câu được đùng để bộc lộ cảm xúc của con người về một sự vật , sự việc , hiện tượng đời sống nào đó .
+ Đầu câu hay có : Ôi , Chao , Chà , ….
+ Cuối câu hay có : quá , lắm , thật , ……………. Đặc biệt có dấu chấm than ” ! ”
Câu 3 :
⇒ BPTT : Điệp ngữ
+ Hèn chi .. ( 2 lần )
→ T/d :
+ Tăng sức gợi hình , gợi cảm cho sự diễn đạt .
+ Làm cho chất thơ thêm phần dí dỏm , đáng yêu . Khi con đi học , bố mẹ cũng như được đi học . Con bị điểm kém , con buồn , bố mẹ cũng buồn lây . Con được điểm mười , con vui , cả nhà như là được tận ba điểm mười . Tác giả đã khéo léo sử dụng biện pháp điệp ngữu nhằm nhấn mạnh ý nghĩa của bài thơ . Việc sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ đặc sắc ấy đã khiến cho bài thơ thêm chút dễ thương , mềm mại nhưng vẫn cuốn hút người đọc qua từng con chữ . Tuy bài thơ không quá hay nhưng lại mang tính nhịp điệu , hài hòa và dễ thu hút người đọc .
_________________\(\color{orange}{\text{Meoow~}}\)________________________________
\(#khoanguyen045\)
Câu \(1:\)
\(-\) Bài thơ trên được viết theo thể thơ: Lục bát
Câu \(2:\)
\(-\) Câu cảm thán có trong bài thơ là:
\(+\) Cả nhà đi học, vui thay!
\(@\) Dấu hiệu nhận biết:
\(->\) Cuối câu có dấu chấm than \((!)\)
\(->\) Nội dung câu văn nhằm bộc lộ cảm xúc vui vẻ của cả nhà khi đi học
\(->\) Có từ ngữ bộc lộ cảm xúc: thay
\(***\) Câu cảm hay còn gọi là câu cảm thán, là câu dùng để bộc lộ cảm xúc của người viết, người nói về một vấn đề nào đó.
Câu \(3:\)
\(@\) Trích \(4\) câu thơ cuối:
Cả nhà đi học, vui thay!
Hèn chi điểm xấu, buồn lây cả nhà
Hèn chi mười điểm hôm qua
Nhà mình như thể được… ba điểm mười.
\(->\) Trong bốn câu thơ cuối, nhà thơ đã sử dụng biện pháp tu từ: Điệp cấu trúc ( Điệp cấu trúc câu: hèn chi)
\(***\) \(\textit{ Tác dụng:}\)
\(+\) Tăng sức gợi hình, gợi cảm, tạo sự diễn đạt cho câu thơ
\(+\) Tạo nhịp điệu cho câu thơ
\(+\) Góp phần làm nên sự nhịp nhàng, cân đối cho văn bản, từ đó tạo sự lôi cuốn, cuốn hút người đọc hơn
\(+\) Làm nổi bật cảm xúc của người con khi nhận ra cả nhà ai cũng đi học giống như bản thân: khi con có một con điểm kém, cả nhà cũng như nhận các con điểm kém giống con, còn khi con nhận được điểm mười thì cả nhà cũng như thể nhận được ba con điểm mười.
\(+\) Góp phần thể hiện rõ sự phấn khích, vui vẻ và hân hoan của người con khi biết cả nhà đều đi học