Phân tích 12 câu đầu bài thơ Trao duyên – Nguyễn Du. Ko chép mạng
Phân tích 12 câu đầu bài thơ Trao duyên – Nguyễn Du.
Ko chép mạng
Hôm nay, cô trò chúng ta sẽ cùng nhau phân tích một trong những đoạn thơ đau đớn, giằng xé và cũng đặc sắc bậc nhất trong Truyện Kiều, đó là 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”. Đây là thời khắc Thúy Kiều phải hy sinh tình yêu riêng tư để làm tròn chữ Hiếu, một bi kịch lớn trong cuộc đời nàng.
Để phân tích hiệu quả, chúng ta sẽ đi theo từng bước, chia 12 câu thơ này thành các luận điểm nhỏ để làm rõ tâm trạng của Thúy Kiều và tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du nhé.
I. PHẦN MỞ ĐẦU: KHÁI QUÁT VỀ BỐI CẢNH VÀ TÂM TRẠNG NHÂN VẬT
Trước khi đi vào chi tiết, các em cần nhớ lại bối cảnh: gia đình Kiều gặp tai bay vạ gió, cha và em trai bị bắt bớ, đánh đập oan ức. Để có tiền cứu cha và em, Kiều đã quyết định bán mình. Trong đêm cuối cùng trước khi theo Mã Giám Sinh, Kiều đã nhờ cậy em gái là Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng. 12 câu thơ đầu chính là lời mở đầu cho cuộc trao duyên đầy éo le này.
II. PHÂN TÍCH CHI TIẾT 12 CÂU THƠ ĐẦU
Chúng ta có thể chia 12 câu thơ này thành 3 phần nhỏ:
– 2 câu đầu: Lời nhờ cậy và hành động khác thường của Thúy Kiều.
– 2 câu tiếp: Lý do của việc trao duyên.
– 8 câu cuối: Lời thuyết phục Thúy Vân bằng cả lý lẽ và tình cảm.
1. Hai câu đầu: Lời nhờ cậy và hành động khác thường, báo hiệu một bi kịch
Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Ngay từ câu thơ mở đầu, Nguyễn Du đã cho thấy một không khí vô cùng đặc biệt.
– Thứ nhất, các em hãy chú ý đến từ “cậy”. Kiều không dùng từ “nhờ”, “phiền” hay “xin”. “Cậy” là một từ mang nhiều sắc thái ý nghĩa: vừa là sự tin tưởng tuyệt đối, phó thác cả một việc hệ trọng, vừa ẩn chứa một nỗi niềm khó nói, một sự nài nỉ khẩn thiết. Kiều biết việc mình sắp nói ra là vô cùng khó khăn, tế nhị, nên phải dùng một từ nặng về tình cảm và sự tin tưởng như vậy.
– Cụm từ “em có chịu lời” là một câu hỏi tu từ, cho thấy Kiều đã dự cảm được sự khó xử, ngần ngại của Thúy Vân. Nàng nói trong tâm thế của một người đang đặt gánh nặng lên vai người khác.
– Đỉnh điểm của sự khác thường nằm ở hành động “ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Trong xã hội phong kiến, trật tự trên dưới rất nghiêm ngặt, chỉ có em lạy chị chứ không bao giờ có chuyện chị lạy em. Hành động của Kiều đã đảo lộn trật tự thông thường. Cái lạy này mang nhiều ý nghĩa:
+ Nó biến cuộc trò chuyện riêng tư giữa hai chị em thành một nghi thức trang trọng, thiêng liêng.
+ Nó cho thấy sự hàm ơn, biết ơn sâu sắc của Kiều đối với sự hy sinh mà nàng sắp nhờ cậy ở em.
+ Nó thể hiện sự tuyệt vọng, bất lực của Kiều. Nàng coi mình như một tội nhân của tình yêu, đang cầu xin sự giúp đỡ.
=> Tiểu kết: Chỉ với hai câu thơ, Nguyễn Du đã tạo ra một không khí trang trọng, khác thường và báo hiệu một sự việc vô cùng hệ trọng sắp diễn ra. Tâm trạng của Kiều là sự khẩn khoản, khó xử và đầy đau đớn.
2. Hai câu tiếp: Lý do trao duyên – Bi kịch tình yêu tan vỡ
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Sau hành động gây bất ngờ, Kiều bắt đầu giải bày lý do.
– Thành ngữ dân gian “đứt gánh tương tư” được Nguyễn Du vận dụng hết sức tài tình. Hình ảnh một gánh nặng tình yêu (gánh tương tư) đang đi giữa đường thì bị đứt gãy gợi lên sự dang dở, đột ngột và đau đớn. Nó diễn tả một cách hình ảnh và thấm thía bi kịch tình yêu của Kiều và Kim Trọng.
– Câu thơ “Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em” tiếp tục sử dụng những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc.
+ “Keo loan” là một loại keo quý ngày xưa dùng để gắn kết những vật trân quý.
+ “Mối tơ thừa”: Kiều tự coi tình yêu của mình với chàng Kim giờ chỉ còn là một “mối tơ thừa”, một phần còn sót lại của một tình yêu đã tan vỡ. Đây là một cách nói khiêm tốn nhưng cũng đầy xót xa. Nàng trao cho em không phải một mối duyên trọn vẹn mà là một gánh nặng tình cảm của người khác.
+ Cụm từ “mặc em” vừa có ý nghĩa phó thác, trao toàn bộ quyền quyết định cho Vân, vừa thể hiện sự bất lực, cam chịu của Kiều.
=> Tiểu kết: Bằng những hình ảnh ẩn dụ, thành ngữ gần gũi mà sâu sắc, Kiều đã nói lên được bi kịch của mình: tình yêu tan vỡ và mong muốn nhờ em gái chắp nối lại mối duyên dang dở ấy.
3. Tám câu cuối: Lời lẽ thuyết phục đầy lý trí và tình cảm
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sóng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
Đây là đoạn Kiều dùng mọi lý lẽ và tình cảm để thuyết phục Thúy Vân.
– Trước hết, Kiều gợi lại mối tình đẹp đẽ với Kim Trọng (“Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề”). Điệp ngữ “khi” cùng với những hình ảnh ước lệ “quạt ước”, “chén thề” khẳng định đây là một tình yêu sâu sắc, gắn bó, có lời hẹn ước thiêng liêng. Nàng làm vậy để Vân hiểu rằng việc trả nghĩa cho Kim Trọng là vô cùng quan trọng.
– Tiếp đó, Kiều giải thích hoàn cảnh éo le của mình: “Sự đâu sóng gió bất kỳ”. Tai họa ập đến bất ngờ khiến nàng rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: “Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”. Kiều buộc phải chọn chữ Hiếu và hy sinh chữ Tình. Lời lẽ của nàng rất rành mạch, rõ ràng, cho thấy nàng là một người thông minh, sắc sảo ngay cả trong lúc đau khổ nhất.
– Sau khi dùng lý lẽ, Kiều quay sang dùng tình cảm để tác động đến Vân:
+ Nàng so sánh tương lai của hai chị em: “Ngày xuân em hãy còn dài”. Vân còn trẻ, tương lai còn ở phía trước, có thể xây dựng một hạnh phúc mới. Còn với Kiều, “ngày xuân” đã hết.
+ Nàng apelia vào tình cảm ruột thịt: “Xót tình máu mủ thay lời nước non”. Nàng cầu xin Vân vì tình chị em mà chấp nhận giúp mình thực hiện lời thề với người yêu.
– Cuối cùng, Kiều nói về cái chết và sự thanh thản của mình: “Chị dù thịt nát xương mòn / Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”. Nàng xem như mình đã chết, đã không còn trên cõi đời này nữa. Nếu Vân giúp, nàng sẽ được an ủi, được “thơm lây” danh tiếng là người giữ trọn lời thề. Đây là lời nói của một người đã hoàn toàn tuyệt vọng về tương lai của mình, chỉ còn một niềm an ủi duy nhất là chữ Tín, chữ Tình được trọn vẹn.
=> Tiểu kết: Bằng một hệ thống lập luận chặt chẽ, kết hợp giữa lý trí và tình cảm, Kiều đã làm cho lời nhờ cậy của mình trở nên vô cùng thống thiết, khiến Thúy Vân không thể từ chối.
III. TỔNG KẾT
Qua 12 câu thơ đầu của đoạn “Trao duyên”, chúng ta thấy được:
– Về nội dung: Đoạn thơ đã thể hiện một cách sâu sắc bi kịch tình yêu tan vỡ của Thúy Kiều và sự giằng xé đau đớn của nàng khi phải lựa chọn giữa tình và hiếu. Qua đó, ta cũng thấy được vẻ đẹp nhân cách của Kiều: một người con gái thông minh, hiếu thảo, vị tha và vô cùng trọng tình nghĩa.
– Về nghệ thuật: Nguyễn Du đã thể hiện tài năng bậc thầy trong việc miêu tả nội tâm nhân vật. Ông đã sử dụng thành công thể thơ lục bát, ngôn ngữ vừa trang trọng, tinh tế, vừa gần gũi, bình dị với việc vận dụng sáng tạo thành ngữ, hình ảnh ẩn dụ. Tất cả tạo nên một đoạn thơ có sức lay động lòng người sâu sắc.
Hy vọng với phần hướng dẫn chi tiết này, các em đã có thể tự mình hoàn thành bài phân tích một cách tốt nhất. Nếu có câu hỏi gì, đừng ngần ngại hỏi cô nhé
Bài làm
Nguyễn Du là nhà thơ nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu của nền văn học trung đại Việt Nam.Thúy Kiều là kiệt tác số một của văn học dân tộc, di sản văn học của nhân loại và tiêu biểu cho cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du. Trao Duyên là một trong những đoạn trích hay và bi thiết nhất của Truyện Kiều. Trong đoạn trích, ta có thể thấy rõ tâm trạng của Kiều khi trao duyên cho em cũng như tài năng sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Nguyễn Du đặc biệt qua 12 câu thơ đầu:
“Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
Kể từ khi gặp chàng Kim,
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
Sự đâu sòng gió bất kỳ,
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?
Ngày xuân em hãy còn dài,
Xót tình máu mủ, thay lời nước non.
Chị dù thịt nát xương mòn,
Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.
“Từ cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) với tài năng nghệ thuật bậc thầy , nhất là với tấm lòng nhân đạo bao la, Nguyễn Du đã sáng tạo ra 1 kiệt tác văn chương bất hủ. truyện Kiều đc vt bằng chữ nôm theo thể thơ lục bát gồm 3254 câu. Trong truyện Kiều, đoạn Trao duyên có vai trò như một bản lề khép mở hai phần đời đối lập của Kiều; hạnh phúc và đau khổ. Sau đó bắt đầu cuộc đời mười lăm năm năm lưu lạc đầy sống gió.
Với hai câu đầu tiên, trước chuyện hệ trọng nhờ Vân thay mình trả nghĩa cho kim Trọng thì Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ một cách hết sức tài tình:
Cậy em em có chịu lời
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa
Từ cậy có nghĩa nhờ vả, gửi gắm, mong đợi, tin tưởng về sự giúp đỡ của em. Còn chịu lời đồng nghĩa với nhận lời nhưng nhận lời nó còn bao hàm sắc thái tự nguyện có thể đồng ý hoặc không đồng ý, còn chịu lời thì bắt buộc phải chấp nhận không thể từ chối bởi nó mang sắc thái nài nỉ, nài ép của người nhờ cậy. Ngôn ngữ vừa nhờ vả, vừa nài nỉ, vừa là sự ép buộc. Hành động Lạy, thưa là sự trang nghiêm, trịnh trọng, hạ mình của người bề dưới với người bề trên. Cách nói tạo sự ràng buộc tế nhị. Kiều là chị lại lạy, thưa em mình. Đây là hành động bất thường nhưng lại hoàn toàn bình thường trong hoàn cảnh này bởi hành động của Kiều là lạy đức hi sinh cao cả của Thúy Vân. Bởi vậy, việc Thúy Kiều nhún nhường, hạ mình van nài Thúy Vâm là hoàn toàn hợp lí. Hành động bất thường đặt trong mối quan hệ với các từ ngữ đặc biệt đã nhấn mạnh tình thế éo le của Thúy Kiều.
Lạy xong, Kiều mở lời giãi bày hoàn cảnh của mình với em nói, ra ý định muốn em kết duyên với Kim Trọng:
Giữa đường đứt gánh tương tư
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em
Thành ngữ Đứt gánh tương tư có ý chỉ tình duyên dang dở của Kiều và Kim Trọng ở vào tình cảnh không thể khác, đó là lý do để nhớ em. Đứng giữa bên hiếu và bên tình, nàng đã đặt chữ hiếu lên trên nên chuyện tình duyên của mình là đã phó mặc, ủy thác cho Vân. Như vậy, có thể nói lời thuyết phục của Kiều đầy khôn khéo bởi vì Kiều đã cho Vân thấy rằng nàng đã không làm tròn chữ hiếu và chữ tình, chỉ được phép chọn một thôi. Nàng đã hi sinh tình yêu để giữ trọn chữ hiếu nên Vân không thể lấy lí do để từ chối được.
Mặc dù đã trao duyên cho em, nhưng dường như mối tơ duyên vẫn đè nặng trong lòng Kiều. Những kỷ niệm ngọt ngào như ùa về trong lòng, nàng đành bày tỏ tâm sự cùng em:
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
Sự đầu sóng gió bất kỳ
Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai
Hình ảnh Quạt ước, chén thề gợi về những kỉ niệm đẹp, ấm êm, hạnh phúc của Kim và kiều với những lời thề nguyền đính ước gắn bó, thủy chung. Nhưng ngờ đâu Sóng gió bất kì, tai họa bất ngờ ập đến, Kiều bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, phải chọn giữa hiếu và tình. Kiều đã chọn hi sinh chữ tìn. Nguyễn Du đã sử dụng điệp từ khi và biện pháp liệt kê để kể về mối tình đẹp đẽ, ngọt ngào đầy xót xa đối với Thúy Kiều lúc này. Mối tình Kim- Kiều là mối tình đẹp nhưng mong manh dễ vỡ. Qua đó, vừa bộc lộ tâm trạng đau đớn, xót xa của Kiều vừa khiến em xúc động và nhận lời.
Kiều thuyết phục Vân bằng cách nhắc đến tình máu mủ ruột già và cả bằmg tính mạng của mình:
Ngày xuân em hãy còn dài
Xót tình máu mủ thay lời nước non
Chị dù thịt nát xương mòn
Nụ cười chín suối hãy còn thơm lây
Bằng sự thông minh, suy nghĩ thấu đáo của mình, Kiều đã khéo léo đưa ra ba lý lẽ để thuyết phục Vân. Trước hết là Vân còn trẻ, còn cả tg lai phía trc. Hơn nữa, Kiều và Vân lại là chị em ruột thịt, Vân nào có thể đành lòng nhìn chị khổ đau, dằn vặt trong mặc cảm tội lỗi phụ bạc tình yêu. Cuối cùng, nàng nói về cái chết của bản thân, một niềm vui tìm thấy trong nỗi đau của cái chết Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây, nếu được Vân chấp thuận thì dù có phải chết, Kiều cũng an lòng mà nhắm mắt. Từng lời lẽ của Thuý Kiều thốt ra vừa thấu tình đạt lí, vừa khiến Vâm ko thể ko nhận lời. Qua đó thấy Kiều là 1 ng con gái thông minh, sắc sảo và đầy cảm xúc.
Với thể thơ lục bát được sử dụng một cách nhuần nhuyễn đầy sáng tạo kết hợp với các biện pháp tu từ, sử dụng sáng tạo thành ngữ dân gian kết hợp thành ngôn ngữ bác học với ngôn ngữ bình dân thì Nguyễn Du đã khắc họa rõ nét tâm trạng dằn vặt, đau đớn khi phải hi sinh trữ tình làm tròn chữ hiếu của Kiều, khiến hình tượng này trở nên đẹp đẽ hơn. Qua đoạn trích có thể thấy được tình thương và cảm động của Nguyễn Du dành cho nhân vật của mình.
Qua đoạn trích Trao Duyên đặc biệt qua 12 câu thơ đầu, ND đã thể hiện lòng thương cảm, xót thương với bi kịch tình yêu, vs thân phận bất hạnh của TK, điển hình của 1 kiếp hồng nhan bạc mệnh trong xhpk đúng như nhà thơ đã từng khẳng định:
Thương thay cũng một kiếp người
Hại thay mang lấy sắc tài làm chi
Những là oan khổ lưu li
Chờ cho hết tiếp còn gì là thân