Phân tích 4 câu thơ đầu trong đoạn trích Thương Vợ của Trần Tế Xương
Trước hết, các em hãy mở sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 11 tập 1 trang 52 để theo dõi bài thơ.
Chúng ta sẽ lần lượt đi qua các bước phân tích như sau:
Bước 1: Giới thiệu chung về bài thơ và 4 câu thơ đầu.
Bài thơ “Thương Vợ” là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà thơ Trần Tế Xương, một gương mặt thơ ca nổi bật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Bài thơ thể hiện sâu sắc tình cảm yêu thương, trân trọng và xót xa của nhà thơ dành cho người vợ tần tảo, gánh vác mọi lo toan trong cuộc sống gia đình.
4 câu thơ đầu của bài thơ là bức tranh mở đầu, khắc họa hoàn cảnh và nỗi vất vả của người vợ:
“Quanh năm buôn bán ở nơi sương gió,
Một tiếng chày đôi lúc thấy mỏi mệt.
Thân em như hạt mưa sa,
Hạt rơi xuống giếng, hạt sa xuống vườn.”
Bước 2: Phân tích từng câu thơ và các yếu tố nghệ thuật.
Chúng ta sẽ đi vào phân tích chi tiết từng câu:
* Câu 1: “Quanh năm buôn bán ở nơi sương gió,”
– Về từ ngữ: “Quanh năm” cho thấy sự tần tảo, không ngừng nghỉ, suốt cả một năm dài. “Buôn bán” là hoạt động mưu sinh vất vả, có lúc được lúc không. “Nơi sương gió” là hình ảnh ẩn dụ cho môi trường sống đầy khó khăn, gian khổ, không thuận lợi, có thể là nơi chợ búa ồn ào, vất vả hoặc cả những chuyến đi xa.
– Về ý nghĩa: Câu thơ khắc họa cuộc sống lao động vất vả, lam lũ, nay đây mai đó của người phụ nữ để lo cho gia đình. Nỗi vất vả đó kéo dài triền miên, không có lúc nào ngơi nghỉ.
* Câu 2: “Một tiếng chày đôi lúc thấy mỏi mệt.”
– Về từ ngữ: “Tiếng chày” gợi lên hình ảnh người phụ nữ đang làm công việc nội trợ, có thể là xay lúa, giã gạo hoặc những công việc bếp núc khác đòi hỏi sức lực. “Đôi lúc thấy mỏi mệt” thể hiện sự phản ánh về sức chịu đựng của cơ thể. Dù đã quen với sự vất vả, nhưng đôi lúc, sự mệt mỏi vẫn ập đến, cho thấy gánh nặng cuộc sống quá lớn.
– Về ý nghĩa: Câu thơ tiếp tục làm rõ sự nhọc nhằn, vất vả của người vợ. Sự mệt mỏi đó không phải là sự than vãn ủy mị mà là một sự thật hiển nhiên, một biểu hiện cho thấy sức lực con người có giới hạn, dù là người phụ nữ kiên cường.
* Câu 3: “Thân em như hạt mưa sa,”
– Về biện pháp nghệ thuật: Đây là một phép so sánh, ví von quen thuộc trong văn học dân gian và trung đại. Tác giả mượn hình ảnh “hạt mưa sa” để nói về thân phận người phụ nữ.
– Về ý nghĩa: Hình ảnh “hạt mưa sa” gợi lên sự mong manh, yếu đuối, dễ bị tổn thương. Hạt mưa rơi xuống dù ở đâu cũng không tự quyết định được số phận của mình, nó phụ thuộc vào hoàn cảnh, vào những tác động bên ngoài.
* Câu 4: “Hạt rơi xuống giếng, hạt sa xuống vườn.”
– Về từ ngữ: “Giếng” và “vườn” là hai hình ảnh mang tính tượng trưng. Giếng là nơi tù đọng, tối tăm, ẩm ướt, có thể ám chỉ những hoàn cảnh éo le, bế tắc, không có tương lai tốt đẹp. Vườn là nơi có thể có sự sinh sôi, nảy nở, nhưng “sa xuống vườn” cũng có nghĩa là rơi vào một hoàn cảnh cụ thể, không còn tự do lựa chọn.
– Về ý nghĩa: Câu thơ này làm rõ hơn sự bấp bênh, vô định của thân phận người phụ nữ. Số phận của họ không tự định đoạt mà phụ thuộc vào hoàn cảnh, vào sự sắp đặt của xã hội, của số phận. Có thể là những hoàn cảnh tốt đẹp hơn, nhưng cũng có thể là những hoàn cảnh bất hạnh.
Bước 3: Đánh giá chung về 4 câu thơ đầu.
Qua 4 câu thơ đầu, chúng ta thấy nhà thơ Trần Tế Xương đã thành công trong việc khắc họa một cách chân thực và cảm động cuộc sống lam lũ, vất vả của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Bằng những hình ảnh gần gũi, những phép so sánh độc đáo, tác giả đã gợi lên sự xót xa, cảm thông sâu sắc cho thân phận người vợ.
Nỗi vất vả được miêu tả qua những công việc “buôn bán ở nơi sương gió”, “tiếng chày”, những hình ảnh “hạt mưa sa” gợi lên sự mong manh, vô định. Tất cả những điều đó đã phác thảo nên một bức tranh đầy thương cảm về người phụ nữ.
Đó là toàn bộ phần phân tích 4 câu thơ đầu của đoạn trích “Thương Vợ”. Các em về nhà xem lại bài và chuẩn bị cho tiết học tiếp theo nhé. Có câu hỏi nào không?
I. Mở bài
– Đôi nét về tác giả Trần Tế Xương: một tác giả mang tư tưởng li tâm Nho giáo, tuy cuộc đời nhiều ngắn ngủi
– Thương vợ là một trong số những bài thơ hay và cảm động nhất của Tú Xương viết về bà Tú
-Giới thiệu bốn câu thơ đầu
II. Thân bài
1. Hai câu đề
– Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”
+ Thời gian “quanh năm”: làm việc liên tục, không trừ ngày nào, hết năm này qua năm khác
+ Địa điểm “mom sông”:phần đất nhô ra phía lòng sông không ổn định.
⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định
– Lí do:
+ “nuôi”: chăm sóc hoàn toàn
+ “đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu cũng không dư.
⇒ Bản thân việc nuôi con là người bình thường, nhưng ngoài ra người phụ nữ còn nuôi chồng ⇒ hoàn cảnh éo le trái ngang
+ Cách dùng số đếm độc đáo “một chồng” bằng cả “năm con”, ông Tú nhận mình cũng là đứa con đặc biệt. Kết hợp với cách ngắt nhịp 4/3 thể hiện nỗi cực nhọc của vợ.
⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.
2. Hai câu thực
– Lặn lội thân cò khi quãng vắng: có ý từ ca dao “Con cò lặn lội bờ sông” nhưng sáng tạo hơn nhiều (cách đảo từ lặn lội lên đầu hay thay thế con cò bằng thân cò):
+ “Lặn lội”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng
+ Hình ảnh “thân cò”: gợi nỗi vất vả, đơn chiếc khi làm ăn ⇒ gợi tả nỗi đau thân phận và mang tình khái quát
+ “khi quãng vắng”: thời gian, không gian heo hút rợn ngợp, chứa đầy những nguy hiểm lo âu
⇒ Sự vất vả gian truân của bà Tú càng được nhấn mạnh thông qua nghệ thuật ẩn dụ
– “Eo sèo… buổi đò đông”: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc
+ Buổi đò đông: Sự chen lấn, xô đẩy trong hoàn cranh đông đúc cũng chứa đầy những sự nguy hiểm, lo âu
– Nghệ thuật đảo ngữ, phép đối, hoán dụ, ẩn dụ, sáng tạo từ hình ảnh dân gian nhấn mạnh sự lao động khổ cực của bà Tú.
⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú : Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.
III. Kết bài
– Khẳng định lại những nét đặc sắc tiêu biểu về nghệ thuật làm nên thành công nội dung của bốn câu thơ
– Liên hệ, bày tỏ quan điểm, suy nghĩ của bản thân về người phụ nữ trong xẫ hội hôm nay
Tú Xương là nhà thơ trào phúng bậc thầy trong nền văn học Việt Nam. Ngoài những bài thơ trào phúng sắc nhọn, lấy tiếng cười làm vũ khí chế giễu và đả kích sâu cay bộ mặt xấu xa, đồi bại của cái xã hội thực dân nửa phong kiến, ông còn có một số bài thơ trữ tình, chứa chất bao nỗi niềm của một nhà nho nghèo về tình người và tình đời sâu nặng.
“Thương vợ” là bài thơ cảm động nhất trong những bài thơ trữ tình của Tú Xương. Nó là một bài thơ tâm sự, đồng thời cũng là một bài thơ thế sự. Bài thơ chứa chan tình thương yêu nồng hậu của nhà thơ đối với người vợ hiền thảo.
Sáu câu thơ đầu nói lên hình ảnh bà Tú trong gia đình là một người vợ rất đảm đang, chịu thương chịu khó. Nếu bà vợ của Nguyễn Khuyến là một phụ nữ “hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn vấy quai cồng, tất tảchân nam đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc” (câu đối của Nguyễn Khuyến) thì bà Tú lại là một người đàn bà:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng”
“Quanh năm buôn bán” là cảnh làm ăn đầu tắt mặt tối, từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, không được một ngày nghỉ ngơi. Bà Tú “buôn bán ở mom sông”, nơi mỏm đất nhô ra, ba bề bao bọc sông nước, nơi làm ăn là cái thế đất chênh vênh. Hai chữ “mom sông” gợi tả một cuộc đời nhiều mưa nắng, một cảnh đời lắm cay cực, phải vật lộn kiếm sống, mới “nuôi đủ năm con với một chồng”.
Một gánh gia đình đè nặng lên đôi vai người mẹ, người vợ. Thông thường người ta chỉ đếm mớ rau, con cá, đếm tiền bạc, … chứ ai “đếm” con, “đếm” chồng. Câu thơ tự trào ẩn chứa nỗi niềm chua chát về một gia cảnh gặp nhiều khó khăn: đông con, người chồng đang phải “ăn lương vợ”.
Có thể nói, hai câu thơ trong phần đề, Tú Xương ghi lại một cách chân thực hình ảnh người vợ tần tảo, đảm đang của mình.
Phần thực, tô đậm thêm chân dung bà Tú, mỗi sáng mỗi tối đi đi về về “lặn lội” làm ăn như “thân cò” nơi “quãng vắng”. Ngôn ngữ thơ tăng cấp, tô đậm thêm nỗi cực nhọc của người vợ. Câu chữ như những nét vẽ, gam màu nối tiếp nhau, bổ trợ và gia tăng; đã “lặn lội” Lại “thân cò”, rồi còn “khi quãng vắng”. Nỗi cực nhọc kiếm sông ở “mom sông” tưởng như không thể nào nói hết được! Hình ảnh “con cò” cái cò trong ca dao cổ: “Con cò lặn lội bờ sông…”, “Con cò đi đón cơn mưa…”, “Cái cò, cái vạc, cái nông,..” được tái hiện trong thơ Tú Xương qua hình ảnh “thân cò” lầm lũi, đã đem đến cho người đọc bao liên tưởng cảm động về bà Tú, cũng như thân phận vất vả, cực khổ, của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ:
“Lặn lội thân cò nơi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
“Eo sèo” là từ láy tượng thanh chi sự làm rầy rà bằng lời đòi, gọi liên tiếp dai đẳng: gợi tả cảnh tranh mua tranh bán, cảnh cãi vã nơi “mặt nước” lúc “đò đông”. Một cuộc đời “lặn lội”, một cảnh sống làm ăn “eo sèo”. Nghệ thuật đối đặc sắc đã làm nổi bật cảnh kiếm ăn nhiều cơ cực. Bát cơm, manh áo mà bà Tú kiếm được “nuôi đủ năm con với một chồng’” phải. “lặn lội” trong mưa nắng, phải giành giật “eo sèo”, phải trả giá bao mồ hồi, nước mắt giữa thời buổi khổ khăn! Tiếp theo là hai câu luận, Tú Xương vận dụng rất sáng tạo hai thành ngữ: “một duyên hai nợ” và “năm nắng mười mưa”, đối xứng nhau hài hòa, màu sắc dân gian đậm đà trong cảm nhận và ngôn ngữ biểu đạt:
“Một duyên hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa dám quản công.”
“Duyên” là duyên số, duyên phận, là cái “nợ” đời mà bà Tú phải cam phận, chịu đựng. “Nắng”, “mưa” tượng trưng cho mọi vất vả, khổ cực. Các số từ trong câu thơ tăng dần lên: “một… hai… năm… mười… làm nổi rõ đức hi sinh thầm lặng của bà Tú, một người phụ nữ chịu thương, chịu khó vì sự ấm no, hạnh phúc của chồng con và gia đình. “Âu đành phận”, … “dám quản công” … giọng thơ nhiều xót xa, thương cảm, thương mình, thương gia cảnh nhiều éo le.
Tóm lại, sáu câu thơ đầu bằng tấm lòng biết ơn và cảm phục, Tú Xương đã phác họa một vài nét rất chân thực và cảm động về hình ảnh bà Tú, người vợ hiền thảo của mình với bao đức tính đáng quý: đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó, thầm lăng hi sinh cho hạnh phúc gia đình. Tú Xương thể hiện một tài năng điêu luyện trong sử dụng ngôn ngữ và sáng tạo hình ảnh. Các từ láy, các số từ, phép đôi, thành ngữ và hình ảnh “thân Cò” … đã tạo nên ấn tượng và sức hấp dẫn văn chương.
Hai câu kết, Tú Xương sử dụng từ ngữ thông tục, lấy tiếng chửi nơi “mom sông” lúc “buổi đò đông” đưa vào thơ rất tự nhiên, bình dị. Ông tự trách mình:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Trách mình “ăn lương vợ”, mà “ăn ở bạc”. Vai trò nggười chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con. Lời tự trách sao mà chua xót thế! Ta đã biết, Tú Xương có văn tài, nhưng công danh dở dang, thi cử lận đận. Sống giữa một xã hội “dở Tây, dở ta”, chữ nho mạt vận, lúc mà “Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”, cho nên nhà thơ tự trách mình đồng thời cũng là trách đời đen bạc. Ông không xu thời để vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò”.
Hai câu kết là cả một nỗi niềm tâm sự và thế sự đầy buồn thương, là tiếng nói của một trí thức giàu nhân cách, nặng tình đời, thương vợ con, thương gia cảnh nghèo. Tú Xương thương vợ cũng chính là thương mình vậy: nỗi đau thất thế của nhà thơ khi cảnh đời thay đổi!
Bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Ngôn ngữ thơ bình dị như là tiếng nói đời thường nơi “mom sông” của những người buôn bán nhỏ, cách đây một thế kỉ. Các chi tiết nghệ thuật chọn lọc vừa cá thể (bà Tú với “năm con, một chồng”) vừa khái quát sâu sắc (người phụ nữ ngày xưa). Hình tượng thơ hàm súc, gợi cảm: thương vợ, thương mình, buồn về gia cảnh thêm nỗi đau đời. “Thương vợ’” là bài thơ trữ tình đặc sắc của Tú Xương nói về người vợ, người phụ nữ ngày xưa với bao đức tính tốt đẹp, hình ảnh bà Tú được nói đến trong bài thơ rất gần gũi với người mẹ, người chị trong mỗi gia đình Việt Nam.
Tú Xương chiếm một địa vị vẻ vang trong nền văn học Việt Nam. Tên tuổi ông sống mãi với non Côi, sông Vị.