Phân tích bài phân tích thương vợ của trần tế xương do hs làm (Ngữ văn 8 sách kế…
Để phân tích một bài văn của bạn, chúng ta cần xem xét bài làm đó đã đạt được những yêu cầu gì của đề bài, những điểm mạnh và những điểm nào còn có thể cải thiện.
Dưới đây là các bước cô sẽ hướng dẫn các em phân tích bài làm của bạn:
Bước 1: Đọc kỹ đề bài và bài làm của bạn.
Trước tiên, chúng ta cần đọc lại đề bài yêu cầu phân tích bài thơ “Thương vợ” của Trần Tế Xương. Sau đó, đọc thật kỹ bài làm của bạn để nắm bắt nội dung chính mà bạn đã trình bày.
Bước 2: Xác định cấu trúc bài làm của bạn.
Một bài văn phân tích tốt thường có bố cục rõ ràng: mở bài, thân bài, kết bài.
– Mở bài: Bạn giới thiệu gì về tác giả, tác phẩm và bài thơ?
– Thân bài: Bạn đã phân tích những khía cạnh nào của bài thơ? (Ví dụ: hoàn cảnh ra đời, nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa, cảm xúc của nhân vật trữ tình…). Bạn triển khai ý như thế nào? Các luận điểm có mạch lạc không?
– Kết bài: Bạn đã khái quát lại ý nghĩa của bài thơ hay chưa?
Bước 3: Đánh giá về nội dung phân tích.
– Nội dung chính: Bài làm của bạn có đi đúng vào trọng tâm phân tích bài thơ “Thương vợ” không? Bạn có hiểu đúng và sâu sắc về nội dung của bài thơ không?
– Các ý chính: Những ý chính bạn nêu ra có thuyết phục không? Có đủ luận cứ và dẫn chứng từ bài thơ để minh họa cho các luận điểm không?
– Cách diễn đạt: Ngôn ngữ của bạn có trong sáng, mạch lạc, phù hợp với văn phong nghị luận không? Có mắc lỗi diễn đạt, dùng từ, đặt câu không?
Bước 4: Đánh giá về nghệ thuật phân tích.
– Dẫn chứng: Bạn đã trích dẫn thơ như thế nào? Việc trích dẫn có hợp lý, có làm rõ ý bạn muốn nói không?
– Phân tích ngôn ngữ, hình ảnh: Bạn có phân tích được những yếu tố ngôn ngữ đặc sắc, những hình ảnh ẩn dụ, so sánh… trong bài thơ không?
– Cảm xúc: Bạn có thể hiện được sự đồng cảm, rung động của mình trước hình ảnh người vợ và nỗi lòng của nhà thơ không?
Bước 5: Đưa ra nhận xét chung và góp ý.
Sau khi xem xét các bước trên, chúng ta sẽ đưa ra nhận xét tổng quát về bài làm của bạn.
– Ưu điểm: Bài làm của bạn có những điểm nào nổi bật, làm tốt? (Ví dụ: Lập luận chặt chẽ, diễn đạt tốt, có cảm xúc, hiểu đúng ý thơ…).
– Hạn chế: Bài làm còn những điểm nào cần cải thiện? (Ví dụ: Thiếu ý, diễn đạt chưa rõ, dẫn chứng chưa phong phú, bố cục chưa chặt chẽ…).
– Gợi ý cụ thể: Đưa ra những góp ý mang tính xây dựng để bạn có thể học hỏi và hoàn thiện bài viết của mình hơn. Ví dụ: “Bạn có thể bổ sung thêm phân tích về giọng điệu của bài thơ” hoặc “Khi trích dẫn thơ, bạn nên phân tích sâu hơn ý nghĩa của từng câu thơ”.
Bây giờ, chúng ta hãy cùng áp dụng các bước này để phân tích bài làm của bạn theo yêu cầu của đề bài nhé.
(Lưu ý: Vì cô không có bài làm cụ thể của học sinh để đọc, nên cô sẽ đưa ra một khung phân tích chung. Khi các em thực hành, các em cần dựa vào bài làm thực tế của bạn mình để điền vào các mục này).
Bắt đầu với bài làm của bạn A (tên bạn học sinh làm bài):
I. MỞ BÀI:
– Bài làm của bạn A đã giới thiệu được tác giả Trần Tế Xương và bài thơ “Thương vợ”.
– Cách giới thiệu này đã đủ sức hút và định hướng cho người đọc chưa?
– Có cần thêm thông tin gì về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ không?
II. THÂN BÀI:
– Luận điểm 1: Nêu lên hình ảnh người vợ tần tảo, hi sinh.
– Bạn đã sử dụng những câu thơ nào để minh họa?
– Cách phân tích của bạn về sự vất vả, gian truân của người vợ đã thuyết phục chưa?
– Có hình ảnh nào trong khổ thơ này mà bạn phân tích chưa sâu?
– Luận điểm 2: Nêu lên tình cảm, nỗi lòng của nhà thơ với người vợ.
– Bạn đã làm rõ được những biểu hiện nào trong tình cảm của nhà thơ? (Yêu thương, xót xa, cảm phục, tự hào…).
– Cách bạn phân tích những câu thơ thể hiện tâm trạng của nhà thơ đã sâu sắc chưa?
– Có những biện pháp nghệ thuật nào mà bạn cần phân tích kỹ hơn ở phần này?
– Luận điểm 3 (nếu có): Phân tích về nghệ thuật đặc sắc của bài thơ.
– Bạn đã chỉ ra những yếu tố nghệ thuật nào? (Ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh, biện pháp tu từ…).
– Cách bạn phân tích các yếu tố này đã làm nổi bật cái hay, cái độc đáo của bài thơ chưa?
III. KẾT BÀI:
– Bạn đã chốt lại ý nghĩa của bài thơ như thế nào?
– Cách kết bài có gợi mở hay tạo ấn tượng với người đọc không?
IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ GÓP Ý:
– Ưu điểm:
– Bài làm của bạn A có bố cục rõ ràng, các ý tương đối mạch lạc.
– Đã nắm bắt được những ý chính của bài thơ.
– Diễn đạt có những chỗ tốt.
– Hạn chế và cần cải thiện:
– Cần đào sâu hơn vào phân tích các hình ảnh, ngôn ngữ đặc sắc trong từng câu thơ. Ví dụ, khi phân tích câu “Thân em như thịt để trên dao”, cần làm rõ hơn sự ví von đó thể hiện hoàn cảnh trớ trêu, bấp bênh như thế nào.
– Nên thêm các phép tu từ như ẩn dụ, so sánh để làm rõ hơn ý nghĩa. Ví dụ, việc ví “Thân em như…” đã là một phép so sánh.
– Cần làm rõ hơn sự chuyển biến trong tâm trạng của nhà thơ từ nỗi xót xa sang niềm tự hào, trân trọng.
– Cần chú ý đến việc trình bày các ý sao cho logic và liên kết chặt chẽ với nhau hơn.
Ví dụ về một góp ý cụ thể:
“Trong phần phân tích câu ‘Lao xao chợ búa, xóm làng buôn bán’, bạn A nên phân tích sâu hơn về không khí nhộn nhịp, tấp nập của cuộc sống mưu sinh mà người vợ phải đối mặt, từ đó làm nổi bật sự đối lập với hình ảnh người vợ vất vả ở nhà.”
Qua việc phân tích bài làm của bạn, cô hy vọng các em đã hình dung rõ hơn về cách đánh giá một bài văn phân tích. Khi các em tự làm bài, hãy nhớ bám sát các yêu cầu này để bài viết của mình ngày càng hoàn thiện nhé.
Chúc các em học tốt!
Hình ảnh người phụ nữ luôn là đề tài muôn thuở trong nền thi ca Việt Nam. Tuy nhiên, thơ văn viết về người vợ bằng tình cảm của người chồng đã ít, nay lại viết “tế sống” người vợ còn hiếm hoi hơn. Và Trần Tế Xương là người đàn ông đã đưa hình ảnh người vợ của mình vào những dòng thơ trữ tình nhưng cũng không kém phần trào phúng. Trần Tế Xương hay còn gọi là Tú Xương, giống trong buổi giao thời đầy nghèo khổ nửa thực dân nửa phong kiến. Ông là người thông minh ham học có tài làm thơ nhưng lại lận đận trong thi cử. Ông nổi tiếng trong hai mảng thơ trữ tình và trào phúng có pha chút giọng cười châm biếm, sắc sảo bắt nguồn từ tâm huyết với dân với nước với đời. Tú Xương đã từng được mệnh danh là nhà thơ trào phúng xuất sắc nhất của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Những tác phẩm ông để lại chủ yếu là thơ Nôm và có nhiều bài rất đặc sắc, có thể nói là tuyệt mỹ cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Minh chứng rõ nhất là bài thơ Thương vợ. Tú Xương đã bộc lộ tình yêu thương, sự trân trọng và cả nỗi ăn năn trước sự hi sinh của vợ trong bài thơ này:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Thương vợ nằm trong những sáng tác của Tú Xương về bà Tú cũng là một trong những bài thơ hay, cảm động nhất của ông về vợ mình. Bài thơ được viết bằng chữ Nôm với những ngôn từ bình dị và hình ảnh đẹp đẽ. Nó không chỉ đề cập đến nhiều khía cạnh trong xã hội mà còn là tiếng lòng tha thiết đầy xót xa của Tú Xương – nạn nhân của xã hội bấy giờ, đã biến con người trở nên vô tích sự với chính bản thân và gia đình. Đồng thời bài thơ cũng giúp người đọc thấy được đức hi sinh to lớn của người phụ nữ xưa đối với gia đình.
Mở đầu tác phẩm Tú Xương giới thiệu về hoàn cảnh và công việc mưu sinh của bà Tú:
“Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.”
Mạch cảm xúc của thi phẩm dần được mở ra với bức tranh toàn cảnh về nỗi khó nhọc lo toan của bà Tú. Câu vào đề như để giới thiệu hoàn cảnh lam lũ vất vả qua cách nêu thời gian, địa điểm. Tác giả sử dụng từ “quanh năm” – cụm từ chỉ một khoảng thời gian rất dài, lặp đi lặp lại như một vòng tuần hoàn khép kín của tự nhiên, tác giả đã diễn tả được nỗi vất vả triền miên của bà Tú trải hết ngày này qua tháng khác, mặc kệ nắng mưa. Chỉ có thế cũng đã đủ để lại trong lòng độc giả một hình ảnh tần tảo, đầu tắt mặt tối của bà Tú. Thế nhưng chưa dừng lại ở đó, cách cân đo đong đếm thời gian như thế còn góp phần làm bật lên cái không gian buôn bán của bà thông qua hình ảnh “mom sông”. Địa thế “mom sông” đầy trắc trở hiểm nguy khôn lường lại là chỗ làm ăn buôn bán hàng ngày của người phụ nữ. Thời gian dài đằng đặng kết hợp với địa điểm trắc trở càng tôn lên hình ảnh bà Tú tần tần, hết lòng hết sức vì miếng cơm manh áo cho cả gia đình. Với giọng thơ hóm hỉnh cùng tài năng trong nghệ thuật thơ trào phúng, Tú Xương đã làm nên một câu thơ thứ hai như lời lên án gay gắt xã hội phong kiến đã biến những người đàn ông vốn là trụ cột trong gia đình thành kẻ vô tích sự, sống dựa dẫm và cả đời “ăn lương vợ”.
“Trống hầu vừa dứt, bố lên thang
Hỏi ra quan ấy ăn lương … vợ”
(Quan tại gia – Trần Tế Xương)
Đôi vai của bà Tú đã nặng nay lại càng nhân lên những nỗi gian truân khi phải “bất đắc dĩ” trở thành trụ cột trong gia đình. Từ “đủ” vừa biểu thị chất lượng vừa biểu thị số lượng. Bên cạnh đó cách đặt hai từ số đếm “năm” và “một” tưởng chừng khập khiễng nhưng lại hóa độc đáo và mới lạ. Tú Xương tự chế giễu mình khi so sánh bản thân với năm người con. Ông tự cho mình là “đứa con đặc biệt”, ngầm nâng cao vị thế của người vợ lên một thứ bậc thiêng liêng. Hơn thế nữa, cấu trúc năm-một cùng từ “với” chất chứa bao nỗi hổ thẹn của người chồng phải sống dựa vào vợ. Hai câu mở đầu đã thể hiện được tất cả những đức tính cao đẹp của bà Tú: chịu thương, chịu khó để nuôi đủ gia đình. Qua đó Tú Xương cũng khéo léo thể hiện sự biết ơn của mình, đồng thời còn là sự hổ thẹn khi phải đặt mình tương đồng với những đứa con thơ. Thật xót xa, ngậm ngùi biết bao!
Thấu hiểu được những nỗi lo toan, vất vả của người vợ, Tú Xương liên tưởng đến hình ảnh con cò trong ca dao:
“Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non”
Để cực tả nỗi khổ tâm của bà Tú trong hai câu thực:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.”
Tú Xương sử dụng từ “thân cò” vừa thể hiện cái tính riêng, sự sáng tạo mang tính thời đại trong phong cách thơ của mình, vừa đồng nhất thân phận của bà Tú nói riêng và hình ảnh của người phụ nói chung với hình ảnh mỏng manh của “cái cò”. Tiếp đó chữ “thân” tuy đơn giản nhưng nghe thật cay đắng, nó gợi cho người đọc về một thứ gì đó nhỏ bé tội nghiệp đến vô cùng. “khi quãng vắng” là một cụm từ rất đặc biệt, nó không chỉ gợi lên cái không gian rợn ngợp, cảm giác đầy nguy hiểm rình rập nơi mom sông heo hút mà còn diễn tả nỗi khắc khoải của thời gian. Cùng với nghệ thuật đảo ngữ, từ láy “lặn lội” đã nhấn mạnh hình ảnh vất vả mưu sinh đến xót xa, gầy guộc của người phụ nữ. Nếu câu thơ thứ ba gợi lên nỗi cực nhọc đơn chiếc thì câu thứ tư lại là sự vật lộn với cuộc sống bán mua đông đúc. Một lần nữa Tú Xương lại dùng biện pháp đảo ngữ với từ láy tượng thanh “eo sèo” gợi sự tấp nập ồn ã để nhấn mạnh cảnh tượng thường tình nơi chợ búa gắn liền với người phụ nữ có “năm con với một chồng”. Hình ảnh “buổi đò đông” cũng góp phần làm bật lên một bà Tú cần mẫn, tất bật. Buổi đò đông cùng với “khi quãng vắng” đã tạo nên sự nguy hiểm, gian lao gấp nhiều lần. Ông cha ta có câu “ sông sâu chớ lội, đò đầy chớ qua” nhưng vì cuộc sống, vì cơm áo gạo tiền cho chồng con mà bà Tú đã phải dấn thân vào chốn hiểm nguy đó. Hai câu thực dù đối nhau về từ ngữ “buổi đò đông”- “khi quãng vắng” nhưng lại tiếp nhau về ý làm nổi lên sự lam lũ gian truân của người phụ nữ nhỏ bé này.
Đến với hai câu thơ tiếp theo, Tú Xương như nhập vai vào chủ thể trữ tình nhằm mượn lời vợ để ngâm ca ngợi những hi sinh âm thầm mà bà dành cho chồng con:
“Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.”
Theo quan niệm phong kiến xưa, “duyên” và “nợ” là hai định nghĩa hết sức thiêng liêng về mối quan hệ vợ chồng do ông trời định sẵn, xuất phát từ sợi chỉ hồng của ông tơ bà nguyệt. Thế nhưng khi đưa vào lời thơ Tú Xương, hai thứ đó trở nên nặng nề như một lời than thở khi duyên chỉ có một mà nợ lại tới hai. Bên cạnh đó việc sử dụng hai thành ngữ song song với nhau “một duyên hai nợ” – “năm nắng mười mưa” vừa đối nhau về từ, vừa đối nhau về ý đã khiến cho câu thơ trầm lắng trước nỗi khổ tâm của bà Tú. Không những thế sự đối lập này còn thể hiện rất rõ tài năng văn chương điêu luyện của thi sĩ. Đức hi sinh cao cả của bà Tú còn được nhắc đến qua hai cụm từ “âu đành phận” và “dám quản công”. Nguyên nhân dẫn đến sự lam lũ hi sinh âm thầm đầy cam chịu của bà tuy giản đơn mà cao quý. Đó là vì mối nhân duyên với người chồng và đàn con thơ. Từ việc pha trộn lời thơ đan xen với những thành ngữ và biện pháp đảo ngữ cực kì tinh tế, nhà thơ Tú Xương đã khắc họa thành công tấm chân tình của người vợ với đầy đủ đức hi sinh, tần tảo như một người phụ nữ Việt Nam truyền thống.
Vì thương vợ, thương cho thân phận đời nữ nhi mà lại sắm vai trụ cột trong gia đình, Tú Xương đã tự trách bản thân mình. Hai câu thơ cuối cũng vì thế giống như tiếng chửi vừa cay đắng vừa phẫn nộ cho những định kiến khắt khe:
“Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!”
Mạch cảm xúc của thi phẩm dường như có sự chuyển biến đột ngột. Tú Xương không còn ẩn mình sau những dòng thơ để tán dương vợ mà đã xuất hiện để nói thay, để trách ông chồng, để trách phận mình của bà Tú. “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” là một cách nói rất phù hợp với phong cách thơ trào phúng đó là sự giận đời vì cái xã hội thối nát lúc bấy giờ. Thêm vào đó ít ai biết được rằng đằng sau tiếng chửi đời đầy dứt khoát ấy lại là một bi kịch của con người chất chứa bao nỗi đau xót. Tú Xương chửi cái “thói đời” nhưng cũng là sự chửi mình, tự chửi một đống nam nhi đang trên đường công danh mà không giúp được vợ lại thành kẻ ăn bám. Tú Xương coi mình là một người “hờ hững” trong trách nhiệm của một kẻ làm cha, làm chồng. Thế nhưng nếu nhìn nhận lại sự việc thì Tú Xương quả là đáng thương hơn đáng trách. Bởi, suy cho cùng chính xã hội kia đã đẩy ông vào đường cùng. Hai câu thơ khép lại tác phẩm là lời tự rủa mình, rủa đời của Tú Xương nhưng lại mang đậm ý nghĩa lên án xã hội sâu sắc, góp phần khẳng định tình cảm của ông với vợ mình. Người ấy tuy “ăn lương vợ” nhưng rất chu đáo luôn dõi theo bà, đặc biệt luôn tỏ lòng biết ơn của mình đối với người phụ nữ ông yêu thương. Thi phẩm kết thúc thật bất ngờ vừa thấm đượm được cái bi, cái bất hạnh trong nỗi niềm riêng của tác giả, vừa dí dỏm hài hước.
Tấm lòng thương vợ của Tú Xương đối với cả thời quá khứ và hiện tại vẫn là tấm gương sáng cho bao người. Bài thơ giữ nguyên giá trị cùng với ý nghĩa nhân văn sâu sắc về sự yêu thương, trân trọng và thấu hiểu những nỗi đau, sự hi sinh của người phụ nữ cho gia đình. Đồng thời đó cũng là tiếng nói phê phán sự bất công của xã hội phong kiến thối nát, mục ruỗng.
Như vậy, bài thơ Thương vợ là một thi phẩm mang đậm tính nhân văn sâu sắc. Với chất thơ bình dị mà trữ tình mang chút trào phúng, Tú Xương đã thành công trong việc khắc họa một bức chân dung về người phụ nữ Việt Nam lúc bấy giờ, vừa mộc mạc chất phác, vừa cứng rắn mạnh mẽ. Vì vậy quả thật Tú Xương chính là thi nhân viết thơ về vợ hay và cảm động nhất. Ông đã để lại cho đời những áng văn chân thành xúc động và đầy giá trị.