Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Phân tích đoạn thơ từ “chiếc vành với bức tờ mây……. cho người thác oan” tríc…

Phân tích đoạn thơ từ “chiếc vành với bức tờ mây……. cho người thác oan” tríc…

Phân tích đoạn thơ từ “chiếc vành với bức tờ mây……. cho người thác oan” trích truyện kiều của Nguyễn Du
Hỏi bởi: Nguyễn Thủy
2 câu trả lời
▲ 7✔
Chào các em, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào phân tích một đoạn trích vô cùng xúc động và giàu ý nghĩa trong “Truyện Kiều” của Đại thi hào Nguyễn Du. Đó là đoạn thơ từ câu “chiếc vành với bức tờ mây……. cho người thác oan”.

Các em mở sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 10 trang ____ ra nào.

Trước hết, chúng ta cần xác định vị trí và hoàn cảnh xuất hiện của đoạn trích này. Đoạn này nằm trong phần Thề Nguyện, khi Thúy Kiều trên đường đi đày, ghé lại từ đường nhà họ Đạm để viếng mộ Đạm Tiên. Đây là một bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự chuyển mình trong tâm trạng và số phận của nhân vật, đồng thời thể hiện tài năng bậc thầy của Nguyễn Du trong việc miêu tả tâm lý và khắc họa số phận bi kịch.

Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào phân tích chi tiết từng câu, từng chữ:

Bước 1: Phân tích hai câu thơ đầu: “chiếc vành với bức tờ mây…”

* “Chiếc vành với bức tờ mây”: Đây là những vật dụng quen thuộc, bình dị gắn liền với cuộc sống của người phụ nữ xưa. “Chiếc vành” có thể là vành tai, biểu tượng cho vẻ đẹp, sự dịu dàng. “Bức tờ mây” là cái mấn đội đầu, cũng gợi lên hình ảnh thanh thoát, mong manh. Tuy nhiên, ở đây, những vật dụng này không chỉ đơn thuần là đồ vật mà còn mang ý nghĩa tượng trưng cho những gì đẹp đẽ, trong sáng đã vĩnh viễn rời xa Kiều.
* Nguyễn Du đã dùng một thủ pháp nghệ thuật rất tinh tế: liệt kê và ẩn dụ. Hai vật dụng này không chỉ gợi tả hình ảnh mà còn gói ghém cả một thế giới đã mất, một quá khứ tươi đẹp đã bị cuộc đời vùi dập.
* Sự xuất hiện của “chiếc vành” và “bức tờ mây” khi Kiều ghé lại từ đường nhà họ Đạm, một nơi vốn là chốn cũ thân quen, càng làm tăng thêm nỗi nhớ nhung, tiếc nuối.

Bước 2: Phân tích hai câu thơ tiếp theo: “…phận bạc dã người đài trang.”

* “Phận bạc”: Đây là cụm từ thể hiện rõ nhất bi kịch của Kiều. “Bạc” ở đây mang nghĩa là rẻ rúng, thấp kém, không có giá trị. Nó đối lập hoàn toàn với “đài trang”.
* “Dã người đài trang”: “Đài trang” là từ Hán Việt, có nghĩa là trang đài, kiêu sa, lộng lẫy, quý phái. Nó gợi lên vẻ đẹp lộng lẫy, kiêu sa, sang quý của người con gái.
* Hai câu thơ này tạo nên một sự đối lập gay gắt: vẻ đẹp “đài trang” của Kiều lại gắn với một “phận bạc”. Phải chăng tạo hóa trớ trêu, ban cho người con gái tài sắc vẹn toàn lại gán cho một số phận bi thương, tủi nhục? Câu thơ thể hiện sự xót xa, thương cảm của Nguyễn Du đối với người tài hoa bạc mệnh. Nó cũng hé lộ phần nào tâm trạng phẫn uất, bất lực của Kiều trước số phận nghiệt ngã.

Bước 3: Phân tích hai câu thơ tiếp theo: “Bểchôn dấy nghĩa bao nhiêu…”

* “Bểchôn dấy nghĩa”: Đây là một cách diễn đạt độc đáo, gợi hình ảnh. “Bểchôn” là cái vũng nước nhỏ, nông. “Dấy nghĩa” là sự khởi đầu của tình nghĩa. Câu thơ muốn nói lên sự khởi đầu của tình nghĩa giữa hai người, dù chỉ là một chút ít ỏi, nhỏ bé.
* “…bao nhiêu”: Từ “bao nhiêu” ở đây không mang tính định lượng mà thể hiện sự khát khao, mong mỏi mãnh liệt. Kiều đang nhớ về cái tình nghĩa ban đầu, cái tình yêu trong sáng, thuần khiết với Kim Trọng.
* Khi đặt trong hoàn cảnh hiện tại, khi Kiều phải bán mình chuộc cha, sống một cuộc đời đầy tủi nhục, những hồi ức về tình nghĩa ban đầu càng trở nên quý giá, càng khiến Kiều thêm đau đớn.

Bước 4: Phân tích hai câu thơ tiếp theo: “…tình xưa ràng buộc bao nhiêu.”

* “Tình xưa”: Chỉ mối tình sâu đậm, thắm thiết giữa Kiều và Kim Trọng.
* “Ràng buộc”: Từ ngữ này mang hai sắc thái ý nghĩa. Thứ nhất, nó thể hiện sự gắn bó, quyến luyến không rời. Thứ hai, nó còn hàm ý sự ràng buộc, đè nặng lên tâm hồn Kiều trong hoàn cảnh hiện tại. Tình xưa vừa là điểm tựa tinh thần, vừa là gánh nặng tâm lý, khiến Kiều càng thêm dằn vặt, đau khổ.
* Hai câu thơ “Bểchôn dấy nghĩa bao nhiêu, tình xưa ràng buộc bao nhiêu” cho thấy tình cảm giữa Kiều và Kim Trọng đã được vun đắp từ những điều bé nhỏ, giản dị nhưng lại vô cùng sâu đậm, bền chặt. Chính điều này càng làm tăng thêm bi kịch khi Kiều không thể giữ vẹn lời thề.

Bước 5: Phân tích hai câu thơ tiếp theo: “Túi tiền xưa với một lời vàng…”

* “Túi tiền xưa”: Gợi lại kỷ niệm khi Kim Trọng trao cho Kiều một túi tiền, đó là sự khởi đầu cho những gắn bó, lời hứa hẹn.
* “Một lời vàng”: Đây là biểu tượng cho lời thề nguyền, lời hứa. Lời thề này vô cùng quý giá, thiêng liêng. Nó thể hiện sự trân trọng, chung thủy và sâu sắc trong tình yêu của hai người.
* Hai câu thơ này gợi nhớ đến những kỷ vật, những lời thề ước đẹp đẽ trong quá khứ. Những kỷ niệm này càng trở nên đau xót khi Kiều đang đứng trước một tương lai mờ mịt, đầy thử thách.

Bước 6: Phân tích hai câu thơ tiếp theo: “…dặn lời trước gió mây đưa.”

* “Dặn lời”: Chỉ những lời dặn dò, nhắn nhủ.
* “Trước gió mây đưa”: Cách diễn đạt đầy hình ảnh, gợi không gian bao la, vô định. “Gió mây” ở đây có thể là biểu tượng cho sự thay đổi của cuộc đời, cho sự chia ly, xa cách. Lời dặn dò được gửi vào không trung, mong manh, yếu ớt.
* Câu thơ thể hiện sự bất lực của Kiều trước hoàn cảnh. Nàng không thể giữ trọn lời thề, lời dặn dò giờ đây chỉ như gửi vào hư vô, lạc lõng giữa cuộc đời nghiệt ngã.

Bước 7: Phân tích hai câu thơ tiếp theo: “Vì tôi chút nghĩa tương tư…”

* “Vì tôi”: Câu nói trực tiếp, thể hiện sự tự nhận trách nhiệm của Kiều.
* “Chút nghĩa tương tư”: “Tương tư” là nỗi nhớ nhung da diết. “Chút nghĩa” là một phần tình cảm, một chút gắn bó. Kiều tự nhận rằng vì chút tình cảm còn vương vấn, vì nỗi nhớ nhung dành cho Kim Trọng mà nàng lâm vào cảnh này.
* Đây là lời tự trách, tự hối của Kiều. Tuy nhiên, cách diễn đạt “chút nghĩa tương tư” lại rất tinh tế, thể hiện Kiều hiểu rằng việc nàng hy sinh thân mình để cứu cha là một hành động cao cả, nhưng nó lại đi ngược lại với lời thề ước với Kim Trọng, và chính sự vướng bận tình cảm đó đã làm cho bi kịch thêm chồng chất.

Bước 8: Phân tích hai câu thơ cuối: “…thuyền quyên thác oan cho người thác oan.”

* “Thuyền quyên”: Là một cách gọi ẩn dụ, thân mật dành cho người con gái đẹp, tài hoa. Nó gợi lên vẻ đẹp mong manh, yếu đuối.
* “Thác oan”: Nghĩa là chết một cách oan uổng, đau đớn, tủi nhục.
* “Cho người thác oan”: Đây là một cấu trúc câu đặc biệt, mang tính đối xứng và lặp lại. “Thuyền quyên thác oan” là Kiều chịu oan. “Cho người thác oan” là việc Kiều chết oan lại là sự minh oan, là sự giải thoát cho chính mình khỏi cuộc đời bể dâu, và cũng là cách để nàng giữ vẹn một phần danh dự, một phần tình nghĩa với người mình yêu.
* Lời cuối cùng này là lời than thở, xót xa. Nó kết thúc đoạn trích bằng một hình ảnh bi thảm, khắc sâu vào lòng người đọc nỗi thương cảm sâu sắc cho số phận của Thúy Kiều. Nguyễn Du đã sử dụng điệp từ “thác oan” để nhấn mạnh bi kịch, sự oan khuất, đồng thời thể hiện sự đồng cảm mãnh liệt với nhân vật.

Tổng kết:

Đoạn trích “chiếc vành với bức tờ mây……. cho người thác oan” là một bức tranh tâm trạng đầy bi thương của Thúy Kiều. Bằng những câu chữ đắt giá, giàu hình ảnh và cảm xúc, Nguyễn Du đã khắc họa thành công bi kịch của người phụ nữ tài hoa bạc mệnh, bị vùi dập bởi số phận. Đoạn thơ thể hiện:

* Nỗi nhớ tiếc quá khứ tươi đẹp: Những vật kỷ niệm, lời thề ước đẹp đẽ giờ đây trở nên xa vời.
* Sự dằn vặt, đau khổ trước bi kịch hiện tại: Phận bạc đối lập với vẻ đẹp đài trang.
* Sự bất lực và lời than thở cuối cùng: Bi kịch của một “thuyền quyên” chết oan.

Đoạn trích này không chỉ là lời ca ngợi vẻ đẹp và tài năng của Kiều mà còn là tiếng than trách cho số phận con người trong xã hội phong kiến đầy bất công.

Các em về nhà xem lại bài và chuẩn bị cho tiết học tiếp theo nhé. Có em nào còn thắc mắc gì không?

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 0

I, MB: Nguyễn Du là nhà thơ kiệt xuất của văn học Việt Nam. Đọc văn chương của Nguyễn Du, dù chữ Hán hay chữ Nôm ta đều tháy ông “có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”. ‘Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và cũng là kiệt tác số một của văn học nước nhà. Thúy Kiều- nhân vật trung tam của truyện được sáng tạo từ cảm hứng nhân đạo sâu sắc của tác giả. Nhưng Kiều cũng là nạn nhân, là hiện thân  nỗi đau của những con người tài hoa, đức hạnh, có phẩm giá nhưng bị xã hội phong kiến chà đạp. ‘Trao duyên” là một tỏng những nỗi đau đó của Kiều.  Đặc biệt 14 câu thơ giữa của đoạn trích đã làm nổi bật tấn bi kịch ấy. 

II, TB:

 1, Khái quát chung 

– Vị trí: Là đoạn thơ mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thuý Kiều. Tình huống của Kiều là tình huống trao duyên. Trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều là lời Thuý Kiều nói với Thuý Vân

– Nội dung đoạn trích: Thúy Kiều trao kỉ vật và dặn dò em

2, Phân tích 

– Thuý Kiều nói với Thuý Vân: “Duyên này thì giữ / vật này của chung” ->Tình duyên thuộc về Thuý Vân/ Kỉ vật là của hai người

– Nhịp thơ 4/4 đứt đoạn như tiếng khóc. Đó là ngôn ngữ của tình cảm! → Thuý Kiều trao duyên nhưng không trao tình.

– Kỉ vật được nhắc đến: + Chiếc vành + Tờ mây + Phím đàn + Mảnh hương → Minh chứng cho tình yêu say đắm của Kim – Kiều trước đây.

– “Của chung”: của chàng, của chị, nay còn là của em.

– “Của tin” niềm tin, hồn chị để cả ở trong ấy. Đó là Tâm trạng nuối tiếc, đau đớn vì phải chia li với mối tình đẹp đẽ, lãng mạn.

– Trong lời dặn dò em, Kiều cho mình là người “mệnh bạc”; Nhiều lần Kiều nhắc đến cái chết cho thấy tâm trạng bi kịch, nỗi đau đớn tột cùng và sự tuyệt vọng của Kiều lúc trao duyên. Kiều tự coi mình là người mệnh bạc, người có số phận bạc bẽo, không may, dầy bất hạnh, không thoát ra đượcnó giống như 1 định mệnh. Vì vậy mà lòng Kiều thổn thức, tiếc nuối, não nề, xót xa

+ Kiều hình dung về tương lai mù mịt của mình

+ Kiều tưởng tượng ra cảnh mình chết oan, chết hận: hồn tả tơi , vật vờ trong gió, không siêu thoát được nhưng vẫn mang nặng lời thề

+ Kiều dằn vặt, lâm li, ai oán, nửa tỉnh nửa mê, lời nói phảng phất như từ cõi âm vọng về

=> Nỗi đau, điều suy nghĩ của Thuý Kiều rất đời thường, rất nhân bản.Nhà thơ đã nhập thân vào nhân vật để hiểu và thể hiện thành công nội tâm nhân vật. 

3. Đánh giá chung

– Đoạn thơ là một bi kịch vì mâu thuẫn nội tâm nhân vật càng lúc càng căng thẳng, cuối cùng dẫn đến bế tắc, bi đát. Cái thần của đoạn trích: Trao duyên mà chẳng trao được tình! Đau khổ vô tận! Cao đẹp vô ngần! (Lòng vị tha, đức hi sinh)

III, KB: 

– Ý nghĩa văn bản: thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận đau khổ và nhân cách cao quý của Kiều

– Nghệ thuật: Miêu tả nội tâm độc đáo, ngôn ngữ giàu hình ảnh sinh động.

*Bài làm

Nguyễn Du là nhà thơ kiệt xuất của văn học Việt Nam. Đọc văn chương của Nguyễn Du, dù chữ Hán hay chữ Nôm ta đều tháy ông “có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”. ‘Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và cũng là kiệt tác số một của văn học nước nhà. Thúy Kiều- nhân vật trung tam của truyện được sáng tạo từ cảm hứng nhân đạo sâu sắc của tác giả. Nhưng Kiều cũng là nạn nhân, là hiện thân  nỗi đau của những con người tài hoa, đức hạnh, có phẩm giá nhưng bị xã hội phong kiến chà đạp. ‘Trao duyên” là một tỏng những nỗi đau đó của Kiều.  Đặc biệt 14 câu thơ giữa của đoạn trích đã làm nổi bật tấn bi kịch ấy.

Từ trước đến nay “trao duyên” thường mang sắc thái tình cảm; là dấu hiệu của niềm vui mừng; hạnh phúc của đôi lứa dành cho nhau ấy thế nhưng trong văn học xưa lại có cái “trao duyên” đầy đớn đau, bẽ bàng. Đó là cảnh trao duyên của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Bằng ngòi bút đặc tả, Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh thấm đẫm nước mắt.

Đoạn trích “Trao duyên” trải dài từ câu 723-756 của bài thơ kể về cuộc đời gian truân; kiếm đoạn trường; gia biến và lưu lạc của cô gái tài sắc Thúy Kiều. 18 câu thơ đầu của đoạn trích như tiếng nấc lòng nghẹn ngào đầy u sầu của Thúy Kiều khi gửi lại tấm chân tình của mình nhờ em là Thúy Vân nối tiếp cùng Kim Trọng.

Sau khi nhờ cậy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng, Thúy Kiều trao kỉ vật tình yêu lại cho Vân:

“Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung”

     “Chiếc vành”, “tờ mây” là những kỉ vật minh chứng cho tình yêu cũng là lời thề ước của Kim Trọng và Thúy Kiều. Kỉ vật của một mối tình đẹp mà Kiều không nỡ rời xa nay đành gửi gắm tất cả lại cho Vân. Đồ vật thì có thể trao lại cho người khác, nhưng còn tình cảm thì làm sao gửi gắm được, tình yêu giữa hai người đâu phải muốn cho ai là cho. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng giữa Kiều và chàng Kim, không thể có người thứ ba xen vào. “Duyên này thì giữ” là trao kỉ vật nhưng không thể quên được kỉ niệm điều đó chứng tỏ tình yêu sâu đậm, nồng nàn của  Kim – Kiều. “Của chung” là vật từng là của riêng Kim và Kiều, nay là của chung Kim, Kiều, Vân, nó gợi được sự đau đớn và tiếc nuối. Nguyễn Du có lẽ đang oán cái chế độ xã hội tàn bạo, cổ hủ khiến cho một tình yêu thiêng liêng, mặn nồng như thế phải tan vỡ. 

     Kỉ vật đã trao lại cho em, Kiều nhắc nhở Vân những lúc hạnh phúc ở bên người yêu thì đừng quên chị:

Dù em nên vợ nên chồng

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên

Mất người còn chút của tin

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”

     Trao kỉ vật lại cho em cũng nhằm để cho em nhớ đến mình, nàng tự coi mình là “mệnh bạc” để người khác xót xa thay cho thân phận mình. Sợi tơ duyên đẹp đẽ ngày nào đã mất đi thì sống trên đời cũng chẳng còn nghĩa lý gì. Kiều chỉ mong rằng Thúy Vân còn giữ kỉ vật cũng như nhớ về người chị “mệnh bạc” này. Chút níu giữ đó là vật làm tin nay cũng trao đi rồi, còn “phím đàn” ở lại như để mỗi khi ai đó đánh lên sẽ nhớ tới nàng. Bốn câu thơ tiếp theo chính là những dự cảm về cái chết mà Kiều đã sẵn sàng đón nhận:

“Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy so tơ phím này

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”

     Tác giả sử dụng từ ngữ mang tính giả định “mai này”, “dù có” để thấy được tưởng tượng của Kiều về cảnh ngộ của mình trong tương lai, Thúy Kiều đã mất niềm tin vào tương lai phía trước. Một người đương tuổi xuân phơi phới nhưng luôn nghĩ về cái chết. Nàng chỉ mong ước duy nhất đó là mai sau Thúy Vân hãy nhớ tới linh hồn của mình để nàng đỡ lẻ loi, hiu quạnh. Khi đàn, khi đốt hương hay khi trông ra ngọn cỏ thì hãy nhớ đến người chị này. Kiều mất niềm tin vào cuộc sống, cho dù chết cũng chỉ biết nương nhờ cỏ cây, vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ chứ chẳng biết bám víu vào đâu.

     ​​​​​​​Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

Dạ đài cách mặt khuất lời

Rưới xin giọt nước cho người thác oan”

     Hình ảnh “hồn”, “thân bồ liễu”, “ghì trúc mai”,  “dạ đài”, “giọt nước”, “thác oan” gợi ra cuộc sống cõi âm, đầy tâm linh, ma mị. Lời thề, lời hẹn ước mặc dù đã được trao cho em thay mình trả nhưng không có nghĩa là cô đã hoàn toàn trút bỏ, lãng quên. Thậm chí kể cả khi đã chết thì vẫn “mang nặng lời thề”. Nàng tự ví mình như “bồ liễu”, “trúc mai” tuy mảnh mai, yếu đuối nhưng lại thanh cao. Mong muốn được rửa oan khuất khi bị tước mất quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc.

      Bằng nghệ thuật khắc họa, miêu tả nội tâm nhân vật, ngôn ngữ độc thoại sinh động, sử dụng ngôn từ điêu luyện tác giả đã cho người đọc thấy được tâm trạng vật vã, đau đớn rồi ngất đi trong tiếng kêu thảng thốt, ai oán của Thúy Kiều. Đó là tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Kiều khi phải nhường lại tình yêu của mình và Kim Trọng. Qua đó thấy được bi kịch mà người phụ nữ xưa phải chịu rất nghiệt ngã. Thời gian trôi qua đã hàng trăm năm nhưng đoạnn trích Trao duyên nói riêng và kiệt tác Truyện Kiều nói chung vẫn còn nguyên giá trị bởi tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao.

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo