Phân tích hình ảnh của Chí Phèo sau khi ra tù và trước khi gặp Thị Nở
Để bài phân tích được rõ ràng, chúng ta sẽ đi theo dàn ý ba phần như một bài văn thông thường nhé.
I. MỞ BÀI: Dẫn dắt vấn đề
Nam Cao là một trong những nhà văn hiện thực phê phán xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Truyện ngắn “Chí Phèo” là kiệt tác của ông, đã khắc họa thành công bi kịch của người nông dân nghèo bị xã hội phi nhân tính hủy hoại cả nhân hình lẫn nhân tính. Đặc biệt, hình ảnh Chí Phèo sau khi ở tù về, trước khi gặp Thị Nở, là một bức chân dung chân thực và đau đớn nhất về quá trình tha hóa, biến một con người thành một con quỷ dữ.
II. THÂN BÀI: Phân tích chi tiết hình ảnh Chí Phèo
Sau bảy, tám năm ở nhà tù thực dân trở về, Chí Phèo đã hoàn toàn biến đổi. Sự biến đổi này được nhà văn Nam Cao khắc họa sâu sắc qua hai phương diện chính: sự thay đổi về nhân hình (diện mạo bên ngoài) và sự tha hóa về nhân tính (bản chất bên trong).
1. Sự tha hóa, biến đổi về nhân hình:
Nếu trước khi vào tù, Chí Phèo là một anh canh điền hiền lành, khỏe mạnh, có lòng tự trọng thì sau khi ra tù, anh đã biến thành một con người hoàn toàn khác. Nhà văn Nam Cao đã dùng những chi tiết ngoại hình rất đặc trưng để cho thấy sự thay đổi này:
– Về hình dáng: Chí Phèo xuất hiện với một bộ dạng không còn giống người bình thường. Hắn trở về làng trong một bộ dạng rất đặc biệt: “cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”.
– Về trang phục: Hắn mặc “cái quần nái đen với cái áo tây vàng”. Đây là thứ trang phục lai căng, xô bồ, không phải của một người nông dân chân chất. Nó gợi lên hình ảnh một tên lưu manh, côn đồ.
– Xăm trổ: Trên người hắn “xăm đầy những hình rồng phượng với một ông tướng cầm chùy”.
=> Tiểu kết: Tất cả những chi tiết về ngoại hình này không phải là ngẫu nhiên. Nó là dấu ấn của nhà tù thực dân, đã nhào nặn, hủy hoại vẻ ngoài lương thiện của Chí Phèo, biến anh thành một sinh vật dị dạng, đáng sợ, xa lạ với chính những người dân làng Vũ Đại. Ngoại hình “quỷ dữ” này chính là cái vỏ bọc bên ngoài, báo hiệu cho sự băng hoại, sói mòn ở sâu bên trong tâm hồn.
2. Sự tha hóa, biến đổi về nhân tính:
Đây mới là bi kịch lớn nhất của Chí Phèo. Sự thay đổi về ngoại hình chỉ là bề nổi, sự lột xác về nhân tính mới là điều đau đớn nhất.
– Hành động và ngôn ngữ:
Hành động đầu tiên của Chí Phèo khi về làng là uống rượu. Hắn uống từ trưa đến xế chiều, rồi xách một cái vỏ chai ra giữa đường làng và chửi. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha mẹ đứa nào không chửi nhau với hắn. Tiếng chửi của Chí Phèo là biểu hiện của sự cô độc, bế tắc, là khao khát được giao tiếp nhưng bất thành. Không ai đáp lại tiếng chửi của hắn, bởi vì trong mắt họ, hắn đã là một kẻ say rượu, một con quỷ. Ngôn ngữ của con người đã bị thay thế bằng tiếng chửi.
– Lối sống:
Chí Phèo không thể quay lại làm một người nông dân lương thiện được nữa. Xã hội đã đóng sập mọi cánh cửa trở về của hắn. Hắn triền miên trong những cơn say, và cuộc đời hắn là một chuỗi ngày “rạch mặt ăn vạ”. Hắn đến nhà Bá Kiến gây sự, rồi lại được Bá Kiến biến thành một công cụ, một “con chó săn” để đi đòi nợ, dằn mặt những người dân lương thiện khác.
– Đánh mất ý thức về bản thân:
Chí Phèo sống trong trạng thái say rượu liên miên. Cơn say giúp hắn quên đi thực tại đau khổ, nhưng cũng chính nó đã cướp đi ý thức về sự sống, về thời gian. Nam Cao viết: “Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy hãy còn say… Hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để thấy mình quả thực đã ném đi bao nhiêu là ngày tháng”. Hắn đã hoàn toàn mất đi quyền làm người, mất đi ý thức về phẩm giá. Hắn chỉ tồn tại chứ không còn được sống đúng nghĩa.
=> Tiểu kết: Từ một người nông dân hiền lành, có ước mơ giản dị, Chí Phèo đã bị xã hội phi nhân tính tước đoạt đi nhân tính, biến thành một “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Hắn trở thành một kẻ lưu manh, sống bằng nghề ăn vạ, triền miên trong men rượu và làm tay sai cho kẻ thù đã đẩy mình vào tù. Đây là đỉnh điểm của bi kịch bị tha hóa.
III. KẾT BÀI: Đánh giá chung
Tóm lại, giai đoạn từ sau khi ra tù đến trước khi gặp Thị Nở là giai đoạn Chí Phèo bị lột tả một cách trần trụi và đau đớn nhất quá trình bị tha hóa. Bằng ngòi bút hiện thực sắc sảo và tấm lòng nhân đạo sâu sắc, nhà văn Nam Cao đã cho thấy bộ mặt tàn bạo của xã hội đương thời đã hủy hoại con người như thế nào. Hình ảnh của Chí Phèo trong giai đoạn này là một lời tố cáo đanh thép, đồng thời thể hiện niềm thương cảm xót xa của tác giả đối với những số phận bất hạnh. Chính trên cái nền bi kịch tột cùng này, sự xuất hiện của Thị Nở với bát cháo hành sau đó mới thực sự có ý nghĩa sâu sắc, như một tia sáng le lói đánh thức phần người còn lại trong con quỷ dữ Chí Phèo.
Cô hy vọng qua phần phân tích này, các em đã hiểu rõ hơn về bi kịch của nhân vật Chí Phèo và giá trị nhân đạo trong tác phẩm của Nam Cao. Các em hãy đọc lại kĩ đoạn văn này trong sách giáo khoa để cảm nhận sâu sắc hơn nhé.
Bạn tham khảo nhé
Nam Cao là nhà văn của những người nông dân lao động. Bằng ngòi bút nhân đạo sâu sắc của mình ông sáng tạo nên truyện ngắn “Chí Phèo”. Chí Phèo là hiện thân cho sự đau khổ khốn cùng của người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Cuộc đời Chí là một chuỗi bi kịch bất hạnh, đặc biệt là thời gian sau khi ra tù đến khi gặp Thị Nở.
Chí Phèo là một đứa trẻ đáng thương với tuổi thơ đầy bất hạnh. Hắn không cha, không mẹ, không người thân thích, không tấc đất cắm dùi, bị bỏ rơi “trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp” ở cái lò gạch cũ bỏ không. Chí bơ vơ, hết đi ở cho nhà này đến nhà khác nhưng được lớn lên trong sự yêu thương của những người dân nghèo. Năm hai mươi tuổi, hắn làm canh điền cho nhà lí Kiến. Khi ấy, hắn là một anh canh điền khỏe mạnh, hiền lành như đất, làm việc chăm chỉ quần quật. Nhưng vì cơn ghen tuông vu vơ, vô lý, bá Kiến ( khi ấy là lý ) đẩy Chí vào tù.
Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho tên cường hào ác bá, tàn nhẫn nhào nặn, biến anh nông dân hiền lành, khỏe mạnh, lương thiện và tự trọng thành tên lưu manh hóa. Bảy tám năm sau, Chí rời khỏi nhà tù. Nhà tù thực dân đã làm méo mó đi nhân dạng của Chí, phá hủy cả nhân tính đẹp đẽ. Trở về làng Vũ Đại, người ta đã không nhận ra hình dạng con người của anh canh điền ngày ấy. Trước mắt họ chỉ là một tên lưu manh với một nhân hình gớm ghiếc “cái đầu thì trọc lóc, cái mặt thì đen mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết… cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế”.
Những người từng yêu thương nuôi nấng hắn lớn lên ngày xưa lại lựa chọn quay lưng với hắn hôm nay. Cả xã hội ruồng bỏ hắn. Tên tuổi hắn cũng không có trong sổ làng, người ta vẫn chỉ khai hắn vào hạng dân lưu tán, lâu năm không về làng. Tất cả mọi người đều sợ hắn, “tránh mặt hắn mỗi lần hắn qua”. Ngày nào hắn cũng chửi, nhưng ai cũng nghĩ “mặc thây cha nó” “chắc nó chừa mình ra”, ai cũng chẳng thèm nghe. Hắn khác nào “những người say rượu hát”. Sự xuất hiện của tiếng chửi cùng cái dáng “vừa đi vừa chửi” của Chí gây cho người đọc nỗi ám ảnh khôn nguôi về bi kịch của một người bị tha hóa đang gặm nhấm nỗi cô đơn tuyệt vọng. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi tất cả những ai không chửi nhau với hắn, chửi cả “ đứa nào đẻ ra chính hắn”. Chí Phèo cứ chửi, “chửi rồi lại nghe”. “Hắn thèm được người ta chửi, chửi hắn có nghĩa là còn công nhận hắn là người”. Thế nhưng hắn cứ chửi, đáp lại hắn chỉ là “sự im lặng đáng sợ”, “ chỉ có 3 con chó dữ với 1 thằng say rượu”. Ra tù, Chí hoàn toàn bị xã hội cự tuyệt quyền làm người một cách tuyệt đối.
Nhân hình méo mó biến dạng, nhân tính cũng tha hóa bởi nhà tù thực dân. Nhà tù thực dân bắt nhốt một anh canh điền hiền lành khỏe mạnh rồi trả về cho xã hội một kẻ lưu manh liều mạng. Chí xông thẳng đến nhà Bá Kiến, chửi “mồ mả tổ tiên đến lộn lên mất”, hắn đập vỡ vỏ chai, rạch mặt cho máu chảy rồi kêu trời ăn vạ. Chí Phèo hận Bá Kiến và hành động như một tên đầu bò ngang ngược trước cổng nhà lão ta. Nhưng Bá Kiến là người mưu mô xảo quyệt, chỉ bằng một bữa rượu, vài câu mơn trớn, vài đồng bạc đãi thêm Bá Kiến đã làm “Chí Phèo vô cùng hả hê”. Thậm chí, hắn còn mơ hồ về chuyện “có họ” với lí Cường. Sau đó, Chí lại dở trò lưu manh đốt quán mụ bán rượu, vác dao đến nhà cụ Bá xin đi ở tù “bẩm quả đi ở tù sướng quá!”.
Trong sáu ngày sau khi ra tù, hắn đến nhà Bá Kiến gây sự hai lần. Hắn không sợ hãi Bá Kiến mà dám nghiến răng hăm dọa: “con phải đâm chết vài ba thằng rồi cụ bắt con giải huyện”. Bá Kiến đâu phải kẻ địa chủ bình thường, thủ đoạn của hắn làm Chí nhanh chóng trở thành “đầy tớ chân tay mới” của Bá Kiến. Chí đã bán linh hồn mình cho quỷ dữ, để rồi sau đó, chính hắn lại trở thành con quỷ dữ ghê tởm của làng Vũ Đại. Hắn dần chìm vào vũng bùn tăm tối, đầy tội ác. Ý niệm về thời gian mất dần, hắn không biết “đã dài bao nhiêu năm rồi”, hắn “ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi?’’. Khuôn mặt Chí Phèo lúc bấy giờ giống như “cái mặt của con vật lạ” với bao nhiêu sẹo “vằn dọc vằn ngang”, vết mảnh chai rạch mặt ăn vạ! Cuộc đời hắn dần dần chồng chất tội lỗi lẫn tội ác “bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách đâm chém, người ta giao cho hắn làm”; “Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”. Hắn đâm thuê chém mướn để kiếm tiền mà uống rượu, để đắm mình trong những cơn say từ ngày này qua ngày khác. Và bán đi linh hồn mình, biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
Ngỡ rằng, Chí đã trượt dài trên con đường lưu manh hóa không cách nào quay lại. Nhưng, tấm lòng nhân đạo của Nam Cao vẫn phát hiện ra cái tiềm ẩn trong Chí, để cho Chí gặp Thị Nở và thức tỉnh lương tâm, linh hồn mình. Cuộc gặp gỡ vô tình với Thị Nở đã gây ra nhiều biến động trong tâm lý của Chí Phèo. Giữa ngã rẽ của sự thức tỉnh nhân tính, của khát khao được sống làm người bi kịch lại xuất hiện, cuộc đời Chí lại tiếp tục bước sang trang khác…
Có thể nói, quãng thời gian từ sau khi ra tù đến khi gặp Thị Nở là quãng thời gian đau khổ, đầy bi kịch của Chí Phèo. Với ngòi bút hiện thực xuất sắc, cách miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế và logic, Nam Cao đã khắc họa thành công nhân vật Chí Phèo – kẻ lưu manh tha hóa do tội ác của xã hội thực dân. Ngôn ngữ truyện đặc biệt tự nhiên, sinh động, sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách triệt để, nhưng mang đậm hơi thở đời sống, văn hoá đời sống. Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ của tác giả, đồng thời cũng là ngôn ngữ của nhân vật, giọng điệu đan xen, tạo nên một thứ ngôn ngữ đa thanh đặc sắc. Qua đó, Nam Cao đã tái hiện chân thực bản chất của xã hội đương thời, hủy hoại con người, đẩy người nông dân vào con đường lưu manh hóa để tồn tại. Nhà văn cũng thể hiện niềm cảm thương sâu sắc với những cuộc đời khốn khổ, gửi gắm giá trị nhân đạo sâu sắc. “Chí Phèo” nhờ vậy đã trở thành tác phẩm tiêu biểu cho tài năng và tấm lòng của Nam Cao, đặc biệt trở thành tác phẩm văn học xuất sắc của nền văn học Việt Nam.
Xây dựng hình tượng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình, Nam Cao đã đạt tới tầm cao của tư tưởng nhân đạo khi nhìn nhận và đánh giá người nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Trang truyện khép lại, song trong trái tim người đọc vẫn còn ám ảnh cái dáng đi lảo đảo khi say rượu của Chí Phèo. Và cho đến hôm nay, “Chí Phèo” vẫn là một tác phẩm có sức sống lâu bền trong các thế hệ độc giả.