Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong 6 câu thơ cuối của cảnh ngày xuân

Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong 6 câu thơ cuối của cảnh ngày xuân

Phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong 6 câu thơ cuối của cảnh ngày xuân
Hỏi bởi: Ngọc Chloe
3 câu trả lời
▲ 2
Chào các em, cô là giáo viên Ngữ Văn của các em đây.

Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào một trong những kĩ thuật nghệ thuật đặc sắc nhất của đại thi hào Nguyễn Du, đó là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Chúng ta sẽ phân tích kĩ thuật này qua sáu câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”. Các em hãy chuẩn bị sách vở để ghi chép lại những ý chính nhé.

Trước hết, chúng ta hãy cùng đọc lại sáu câu thơ đó:

Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.
Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Để phân tích một cách chi tiết và dễ hiểu, chúng ta sẽ đi theo từng bước như sau:

Bước 1: Phân tích hai câu thơ đầu – Khung cảnh và bước chân con người

Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thơ thẩn dan tay ra về.

Ở hai câu thơ này, Nguyễn Du đã vẽ ra khung cảnh chiều tà và tâm trạng của con người.

– Về cảnh vật:
Tác giả dùng từ láy “tà tà” để miêu tả hình ảnh “bóng ngả về tây”. “Tà tà” gợi tả sự chuyển động chậm rãi, từ từ của mặt trời khi lặn. Nó không chỉ cho thấy thời gian đang trôi về cuối ngày mà còn nhuốm lên cảnh vật một nét buồn man mác, một sự lưu luyến. Cảnh không còn rực rỡ, náo nhiệt như buổi sáng mà đã trở nên tĩnh lặng hơn.

– Về con người:
Tâm trạng con người được thể hiện qua từ láy “thơ thẩn”. “Thơ thẩn” gợi tả dáng vẻ ngẩn ngơ, nuối tiếc, bước chân như muốn đi mà lòng còn chần chừ, lưu luyến. Cuộc du xuân đã tàn, chị em Thúy Kiều ra về trong một tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối.

=> Ngụ tình: Ngay từ hai câu đầu, cảnh và tình đã có sự hòa quyện. Cái “tà tà” của cảnh vật tương ứng với cái “thơ thẩn” của lòng người. Cảnh buồn nhuốm màu tâm trạng, và tâm trạng con người cũng thấm đượm cái tĩnh lặng, man mác của cảnh vật lúc chiều buông.

Bước 2: Phân tích hai câu thơ tiếp theo – Cảnh vật qua con mắt của người đang mang tâm sự

Bước dần theo ngọn tiểu khê,
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh.

– Về con người:
Hành động “bước dần”“lần xem” tiếp tục nhấn mạnh sự chậm rãi, không vội vã. Họ vừa đi vừa ngắm, như để níu kéo thêm chút không khí của ngày hội xuân.

– Về cảnh vật:
Cảnh vật hiện ra qua cái nhìn của chị em Kiều. Đó là “ngọn tiểu khê” (con suối nhỏ) và phong cảnh “có bề thanh thanh”. Từ láy “thanh thanh” rất đặc sắc. Nó vừa gợi tả cảnh vật trong trẻo, nhẹ nhàng, êm đềm, vừa gợi một nét gì đó tĩnh lặng, hơi đượm buồn. Cảnh vẫn đẹp nhưng không còn cái tươi vui, rộn ràng của buổi sáng. Nó đã chuyển sang một vẻ đẹp tĩnh lặng, u buồn hơn.

=> Ngụ tình: Cảnh vật “thanh thanh” chính là sự phản chiếu của tâm hồn con người. Tâm trạng con người lúc này cũng không còn náo nức mà đã lắng lại, có chút man mác, bâng khuâng. Cảnh vật được nhìn qua lăng kính tâm trạng nên nó cũng mang màu sắc của tâm trạng đó.

Bước 3: Phân tích hai câu thơ cuối – Đỉnh cao của nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.

Đây là hai câu thơ thể hiện rõ nhất bút pháp tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du.

– Nghệ thuật đảo ngữ và từ láy:
Tác giả đã sử dụng phép đảo ngữ, đưa từ láy “Nao nao” lên đầu câu thơ. “Nao nao” vốn là một từ để chỉ tâm trạng con người: một nỗi buồn không rõ nguyên nhân, một sự xao động, bồn chồn trong lòng. Theo lẽ thường, người ta sẽ viết “Dòng nước uốn quanh nao nao”. Nhưng Nguyễn Du đã đảo “nao nao” lên trước.

– Tác dụng của phép đảo ngữ:
Việc này có hai tác dụng lớn:
1. Nhấn mạnh tâm trạng: Nó nhấn mạnh trực tiếp vào cảm giác “nao nao”, bất an đang dâng lên trong lòng người. Đây không còn là sự bâng khuâng, nuối tiếc nhẹ nhàng nữa, mà là một dự cảm về điều gì đó sắp xảy ra.
2. Tô đậm nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: Tâm trạng “nao nao” của con người được gán trực tiếp cho cảnh vật (“dòng nước”). Cảnh vật lúc này không còn là phông nền nữa, mà đã trở thành tấm gương phản chiếu trực tiếp và rõ nét nhất tâm trạng con người. Dòng nước không tự nó “nao nao”, mà chính lòng người đang “nao nao” nên nhìn dòng nước cũng thấy nó như đang xao động, bồn chồn. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!

– Hình ảnh “dịp cầu nho nhỏ”:
Hình ảnh “dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang” vừa là một nét chấm phá cuối cùng cho bức tranh phong cảnh, vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Chiếc cầu nhỏ là một nhịp nối, một sự chuyển tiếp, báo hiệu một sự thay đổi, một cuộc gặp gỡ định mệnh sắp diễn ra.

Bước 4: Tổng kết

Qua sáu câu thơ cuối, Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng bậc thầy trong việc sử dụng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình. Chúng ta có thể tổng kết lại như sau:

– Bút pháp tả cảnh ngụ tình: Cảnh vật từ chỗ là đối tượng miêu tả đã chuyển thành phương tiện để bộc lộ tâm trạng. Cảnh và người hòa quyện làm một, trong đó tình là yếu tố chính, chi phối cảnh.

– Sử dụng từ ngữ đặc sắc: Hàng loạt các từ láy giàu sức gợi hình, gợi cảm như “tà tà”, “thơ thẩn”, “thanh thanh”, “nao nao”, “nho nhỏ” đã góp phần diễn tả tinh tế sự vận động của cảnh vật và những biến chuyển trong tâm trạng con người.

– Sử dụng phép đảo ngữ: Đỉnh cao là việc đảo từ “nao nao” lên đầu câu thơ, làm cho tình cảm của nhân vật trở nên nổi bật và thấm đẫm vào cảnh vật xung quanh.

Tóm lại, sáu câu thơ cuối không chỉ là bức tranh thiên nhiên lúc chiều tà mà còn là bức tranh tâm cảnh đầy tinh tế. Nó khép lại cảnh ngày hội xuân rộn rã và mở ra một không gian tâm trạng, một sự linh cảm, báo trước cho cuộc gặp gỡ định mệnh với Kim Trọng và nấm mồ Đạm Tiên sắp tới.

Cô hy vọng qua bài giảng chi tiết này, các em đã hiểu rõ hơn về nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc của Nguyễn Du. Các em hãy đọc lại và suy ngẫm thêm nhé

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

“Cảnh ngày xuân” là một trong những trích đoạn đặc sắc thể hiện rõ tài năng nghệ thuật của tác giả Nguyễn Du trong việc miêu tả thiên nhiên. Nếu như ở những câu thơ đầu tiên, tác giả làm nổi bật bức tranh mùa xuân tươi sáng, tràn đầy sức sống vào buổi ban mai thì ở sáu câu thơ cuối, cùng với sự chuyển biến và trôi chảy của thời gian, nhà thơ tập trung miêu tả khung cảnh chiều tà khi lễ hội Thanh minh kết thúc và hai chị em Thúy Kiều ra về. Cảnh vật vì thế cũng nhuốm màu tâm trạng nhờ biện pháp “tả cảnh ngụ tình” đặc sắc.

“Tà tà bóng ngả về tây
Chị em thơ thẩn dang tay ra về
Bước dần theo ngọn tiểu khê
Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Sáu câu thơ đã miêu tả thành công cảnh chị em Thúy Kiều ra về trên phông nền phảng phất nét đượm buồn của cảnh vật. Khác với bước đi cùng sự trôi chảy nhanh, vội như “con én đưa thoi” ở phần mở đầu đoạn trích, lúc này thời gian trôi đi chậm rãi và nhẹ nhàng: “Tà tà bóng ngả về tây”. Hình ảnh mặt trời đang từ từ lặn xuống trong ánh dương xế chiều đã được tác giả tái hiện thành công qua từ láy tượng hình “tà tà”, đồng thời gợi lên tâm trạng tiếc nuối, lưu luyến, bâng khuâng qua bước chân có chút tâm tình “thơ thẩn dang tay ra về” của hai chị em Thúy Kiều. Và dường như tâm trạng lặng buồn của con người đã thấm sâu vào cảnh vật. Khung cảnh thiên nhiên không còn hiện lên với sự cao rộng, bao la, bát ngát, khoáng đạt tràn trề sức sống như ở bốn câu thơ đầu tiên mà được miêu tả qua những hình ảnh bé nhỏ, thân thuộc hơn như “ngọn tiểu khê”, “dịp cầu nho nhỏ” bắc ngang cuối ghềnh để phù hợp với dòng tâm trạng của con người. Đặc biệt, tác giả đã vận dụng thành công hệ thống từ láy được trải đều trong các câu thơ như “tà tà”, “thơ thẩn”, “nho nhỏ”, “thanh thanh”, “nao nao” giàu giá trị biểu cảm.

“Nao nao dòng nước uốn quanh
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Dòng nước hiện lên qua dòng chảy “nao nao”, lững lờ lưu luyến trôi chậm bên chân cầu “nho nhỏ” vừa gợi lên sắc thái của cảnh vật, vừa diễn tả thành công tâm trạng của con người và hoàn toàn thống nhất với bước chân “thơ thẩn” bâng khuâng của nhân vật trữ tình. “Nao nao” cũng chính là tính từ mang tính chất dự báo, linh cảm cho cuộc gặp gỡ sắp tới của Thúy Kiều và chàng Kim. Tác giả đã vận dụng thành công bút pháp trong thơ ca trung đại như tả cảnh ngụ tình để tạo nên mối tương giao, thống nhất giữa cảnh và tình:

“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ
Người buồn cảnh cũng thẫn thờ
Cảnh buồn người cũng ngẩn ngơ ưu sầu”

Như vậy, ở sáu câu thơ cuối, mối quan hệ hai chiều giữa cảnh và tình thể hiện qua việc khi hội tan, con người bâng khuâng, xao xuyến đầy lưu luyến và cảnh vật cũng vì thế không tránh khỏi màu sắc u buồn và ảm đạm. Để miêu tả thành công điều này, tác giả Nguyễn Du đã sử dụng tinh tế bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc, đồng thời lựa chọn những hình ảnh, ngôn từ giàu chất tạo hình, thể hiện khả năng bậc thầy trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên.

Trả lời bởi:
▲ 2

Sáu câu thơ là cảnh chị em Thúy Kiều du xuân trở về –  một bức tranh chiều xuân nên thơ và đượm buồn. Bức tranh ấy được tác giả miêu tả với những nét dịu dàng, chậm rãi, nhuốm màu tâm trạng bâng khuâng, lưu luyến của con người. Với bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đầy độc đáo, Nguyễn Du đã gợi lên tâm trạng lưu luyến, tiếc nuối của chị em Thúy Kiều khi phải chia tay hội xuân để ra về:

                                       “ Tà tà bóng ngả về tây

                                   Chị em thơ thẩn dang tay ra về”

Câu thơ ẩn chứa một nỗi buồn sâu xa. Từ láy “ tà tà” với nhịp điệu chậm rãi vừa gợi lên hình ảnh mặt trời đang ngả bóng dần vừa gợi lên sự tiếc nuối rằng chị em Thúy Kiều chưa muốn ra về, muốn níu kéo thêm chút khoảnh khắc tươi đẹp của ngày xuân. Từ “ thơ thẩn” được sử dụng rất đắt giá, thể hiện sự luyến tiếc khôn nguôi.

                             “ Bước dần theo ngọn tiểu khê

                        Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh”

Cảnh vật không còn rộn rang, trần đầy sức sống giống như ở bốn câu thơ đầu tiên của bài thơ nữa mà đã nhuốm tâm trạng của con người. Khi con người đắm chìm trong cảnh xuân đẹp đẽ thì cũng là lúc thời gian lặng lẽ trôi đi. Cảnh xuân dù có đẹp đến mấy rồi cũng sẽ tàn phai. Trời đã xế chiều và cuộc du xuân cũng đã kết thúc, tâm hồn của con người dường như cũng đồng điệu với cảnh vật. Cảnh vật vẫn mang một nét đẹp dịu dàng nhưng chuyển động chậm dần, mang dáng dấp nhỏ bé, phảng phất một nỗi buồn. Những từ láy được sử dụng rất hiệu quả : “ tà tà”, “ nao nao”, “ thanh thanh” không chỉ gợi cảnh mà còn bộc lộ tâm trạng tiếc nuối của con người.  Cảnh và người dường như có sự đồng điệu. Khi mà con người lưu luyến khôn nguôi thì khung cảnh cũng theo đó mà nhỏ đi như để phù hợp với tâm trạng con người : “ngọn tiểu khê”- dòng suối nhỏ hay như chiếc cầu be bé ở “ cuối ghềnh” phía xa xa. Dường như có một linh cảm điều gì đó sắp xảy ra:

                           “ Nao nao dòng nước uốn quanh

                       Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

Bốn bề trở nên yên ắng, tĩnh lặng. “ Nao nao” là trạng thái của dòng nước dường như để đồng cảm với tâm trạng con người với một nỗi buồn khó tả. Dịp cầu nhỏ bé xinh xinh bắc ngang qua dòng suối tạo nên vẻ đẹp bình yên và thơ mộng. Nguyễn Du dùng từ “ nao nao” đầy tinh tế. Tả cảnh nhưng cũng để nói lên tâm trạng con người với một nỗi buồn vô cớ chẳng lí giải được. Cũng giống như những câu thơ mà Nguyễn Du từng viết:

                               “ Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

                            Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

    Với sáu câu thơ cuối trong đoạn trích “ Cảnh ngày xuân”, Nguyễn Du đã cho người đọc thấy được bút pháp tả cảnh ngụ tình độc đáo. Miêu tả cảnh hay cũng chính là gợi lên tâm trạng của con người. Cảnh không còn náo nhiệt, sôi động nữa mà trở nên dịu dàng, yên ả cũng giống như tâm trạng luyến tiếc, bâng khuâng của chị em Thúy Kiều khi phải chia tay với hội xuân.

Trả lời bởi: Thươngg Phạmm

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo