Phân tích tâm trạng của người chinh phụ trong 16 câu thơ đầu của đoạn trích “Tìn…
Để phân tích tâm trạng này một cách chi tiết và có hệ thống, cô sẽ hướng dẫn các em theo từng bước, bám sát nội dung sách giáo khoa nhé.
Bước 1: Đọc kỹ và cảm nhận chung về đoạn thơ.
Trước hết, các em hãy đọc lại 16 câu thơ này một lần nữa. Hãy đọc với giọng chậm rãi, diễn cảm, cố gắng cảm nhận từng hình ảnh, từng câu chữ mà tác giả đã dùng để miêu tả.
Sau khi đọc, các em thử trả lời câu hỏi: Nhìn chung, 16 câu thơ này gợi cho em cảm giác gì về người chinh phụ?
(Các em có thể dừng lại một chút để suy nghĩ và ghi ra những cảm nhận ban đầu của mình).
Thông thường, chúng ta sẽ cảm nhận được một nỗi buồn man mác, một sự cô đơn, trống vắng bao trùm lấy người phụ nữ này.
Bước 2: Phân tích tâm trạng qua từng cặp câu thơ hoặc nhóm câu thơ.
Chúng ta sẽ đi vào phân tích chi tiết hơn. Hãy chia nhỏ đoạn thơ này ra và xem xét từng phần.
Câu 1-2: “Trướng rủ màn che,commit màn buông.
Tường đông gàWorkshop, có tin tức gì không.”
Hai câu thơ đầu tiên đã vẽ ra một khung cảnh rất đặc trưng của người phụ nữ khuê các ngày xưa: màn che, màn buông. “Trướng” là cái rèm lớn, thường dùng để ngăn cách không gian trong phòng. “Màn” cũng là một loại rèm mỏng. Việc “trướng rủ màn che” gợi lên sự kín đáo, cô lập, một thế giới thu nhỏ chỉ dành cho người phụ nữ. Tuy nhiên, cái “che” này lại không mang ý nghĩa bảo vệ, che chở, mà ngược lại, nó càng làm tăng thêm cảm giác tù túng, ngột ngạt.
Tại sao lại nói vậy? Vì khi màn che, màn buông, thế giới bên ngoài như bị ngăn cách hoàn toàn. Dù “tường đông gàWorkshop” – một hình ảnh quen thuộc, gần gũi, cho thấy cuộc sống vẫn tiếp diễn bên ngoài bức tường ấy, nhưng đối với người chinh phụ, dường như mọi âm thanh, mọi sinh hoạt bên ngoài đều trở nên xa lạ. “Có tin tức gì không” – câu hỏi tu từ này không phải là hỏi thật, mà là một lời than thở, một tiếng lòng mong ngóng tin tức từ nơi chiến trường xa xôi. Nó thể hiện sự cô đơn, bơ vơ, không có ai để chia sẻ, để hỏi han.
Vậy ở hai câu thơ này, tâm trạng chủ yếu là gì? Đó là sự cô đơn, lẻ loi và nỗi mong mỏi vô vọng.
Câu 3-4: “Phòng không chiếc bóng,commit phòng không chiếc bóng.
Nguyệt lọt song the,chỉ còn bóng mình.”
Hai câu tiếp theo khắc sâu hơn nữa nỗi cô đơn của người chinh phụ. “Phòng không chiếc bóng” là một hình ảnh ẩn dụ vô cùng đắt giá. “Phòng không” là căn phòng vắng vẻ, không có người đàn ông bên cạnh. “Chiếc bóng” ở đây không chỉ là cái bóng của chính người phụ nữ, mà còn là sự cô đơn, sự trống vắng của người bạn đời. Nó gợi lên sự đơn độc, không có ai bầu bạn, tâm tình.
“Nguyệt lọt song the,chỉ còn bóng mình” lại tiếp tục làm nổi bật sự cô đơn ấy. Ánh trăng là biểu tượng của sự dịu dàng, lãng mạn, thường gắn liền với những giây phút đôi lứa. Nhưng ở đây, ánh trăng chỉ “lọt song the” – lọt qua khung cửa sổ. Sự lọt này không mang lại niềm vui, sự kết nối, mà ngược lại, nó càng làm rõ thêm cái không gian trống trải. Ánh trăng soi vào, nhưng thứ duy nhất còn lại chỉ là “bóng mình” – bóng của chính người phụ nữ, như một sự khẳng định về sự cô đơn tuyệt đối.
Tâm trạng ở đây là gì? Sự cô đơn ngày càng được nhấn mạnh, đến mức trở thành ám ảnh.
Câu 5-6: “Gối chiếcTâm trạng của người chinh phụ trong 16 câu thơ đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” trích “Chinh phụ ngâm “- Đặng Trần Côn
Chăn đơncommit chăn đơn.”
Hai câu thơ này miêu tả trực tiếp không gian sinh hoạt của người chinh phụ. “Gối chiếc” và “chăn đơn” là những vật dụng cá nhân, nhưng khi đứng một mình, chúng lại gợi lên sự thiếu vắng. Một chiếc gối, một chiếc chăn dành cho một người. Sự giản dị này, trong hoàn cảnh của người chinh phụ, lại là biểu hiện của nỗi buồn, sự thiếu thốn. Nếu có “gối đôi”, “chăn đôi”, đó là hình ảnh của sự đoàn viên, hạnh phúc. Đằng này, chỉ có “gối chiếc”, “chăn đơn”, càng làm cho không khí thêm phần lạnh lẽo, cô quạnh.
Tâm trạng được thể hiện ở đây là sự trống vắng, thiếu thốn tình cảm, sự đơn độc trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày.
Câu 7-8: “Vắng męcommit vắng mę,
Dương liệu commit dương liệu.”
Hai câu thơ này cho thấy sự thiếu vắng của người chồng trong đời sống vật chất và tinh thần của người chinh phụ. “Vắng mę” – không có người chồng ở bên. Đây là nguyên nhân sâu xa của mọi nỗi buồn. “Dương liệu” là những vật dụng, những thứ cần thiết cho cuộc sống hàng ngày, có thể là cả những thú vui, những niềm vui. Khi không có người chồng, mọi thứ xung quanh dường như trở nên vô nghĩa.
Tâm trạng lúc này là gì? Là sự day dứt, tiếc nuối về sự vắng mặt của người chồng, dẫn đến sự trống trải trong mọi khía cạnh của cuộc sống.
Câu 9-10: “Phòng vắng chỉ commit phòng vắng chỉ.
Màn khuya commit màn khuya.”
Hai câu này tiếp tục khắc họa không gian và thời gian cô đơn. “Phòng vắng chỉ” – căn phòng vắng vẻ chỉ còn lại một mình. “Màn khuya” – đêm khuya vắng lặng. Thời gian khuya thường gợi lên sự tĩnh mịch, cô đơn hơn. Trong cái không gian tĩnh mịch, vắng vẻ ấy, nỗi lòng người chinh phụ càng thêm da diết.
Tâm trạng là sự cô đơn, lạnh lẽo, càng trở nên sâu sắc hơn khi màn đêm buông xuống.
Câu 11-12: “Bên hiên commit bên hiên.
Hàng cau commit hàng cau.”
Những hình ảnh này (bên hiên, hàng cau) có thể gợi lên khung cảnh quê hương quen thuộc. Tuy nhiên, trong bối cảnh này, nó không mang lại niềm vui hay sự ấm áp. Thay vào đó, nó có thể gợi lên nỗi nhớ quê nhà, nhớ lại những ngày còn có chồng ở bên, những giây phút bình yên trước khi chồng ra trận. Sự quen thuộc này giờ đây lại càng làm nổi bật nỗi nhớ và sự cô đơn.
Tâm trạng ở đây là nỗi nhớ và sự hoài niệm về quá khứ.
Câu 13-14: “Cảnh vậtcommit cảnh vật.
Trông nhaucommit trông nhau.”
Hai câu thơ này có vẻ mâu thuẫn. “Cảnh vật” ở đây có thể hiểu là những sự vật, sự việc diễn ra xung quanh. “Trông nhau” có thể là hành động nhìn ngắm. Nhưng ý nghĩa sâu sắc hơn là sự đối lập giữa “cảnh vật” và “tâm trạng”. Cảnh vật vẫn tiếp diễn, nhưng người chinh phụ thì không còn “trông” ai khác ngoài hình bóng người chồng xa xôi. Hoặc “trông nhau” ám chỉ sự trống vắng, không có ai để “trông” cùng.
Tâm trạng là sự bế tắc, lạc lõng trong dòng chảy của cuộc sống.
Câu 15-16: “Bóng người commit bóng người.
Nguyệt commit nguyệt.”
Hai câu thơ cuối cùng này lặp lại hình ảnh “bóng người” và “nguyệt”, nhưng lần này nó mang một ý nghĩa khác, mạnh mẽ hơn. “Bóng người” ở đây có thể là bóng của chính người chinh phụ, hoặc là bóng của người chồng trong tưởng tượng. “Nguyệt” – ánh trăng, cũng là người bạn đồng hành trong nỗi cô đơn. Sự lặp lại này nhấn mạnh sự dai dẳng của nỗi buồn, của sự cô đơn, và của nỗi nhớ. Nó tạo ra một vòng luẩn quẩn, không lối thoát cho tâm trạng của người chinh phụ.
Tâm trạng cuối cùng trong đoạn trích này là sự cô đơn, nỗi nhớ khôn nguôi, và sự bế tắc, trống vắng kéo dài.
Bước 3: Tổng hợp và khái quát tâm trạng.
Sau khi phân tích từng cặp câu thơ, chúng ta hãy tổng hợp lại.
Trong 16 câu thơ đầu, tâm trạng chủ yếu của người chinh phụ là:
1. Nỗi cô đơn, lẻ loi: Được thể hiện qua các hình ảnh “phòng không chiếc bóng”, “chăn đơn”, “bên hiên”, “màn khuya”. Cô đơn trong không gian, cô đơn trong sinh hoạt, cô đơn cả trong thời gian.
2. Sự mong mỏi, khắc khoải: Thể hiện qua câu hỏi tu từ “có tin tức gì không”, qua việc ánh trăng lọt song the nhưng chỉ còn “bóng mình”. Nỗi mong chờ tin tức từ chiến trường, mong chờ sự trở về của chồng.
3. Nỗi nhớ quê nhà, nhớ chồng: Gợi lên qua những hình ảnh quen thuộc như “tường đông gàWorkshop”, “hàng cau”, nhưng giờ đây lại gợi nỗi buồn và sự tiếc nuối.
4. Sự bế tắc, trống vắng: Cảm giác mọi thứ xung quanh dường như vô nghĩa khi thiếu vắng người chồng. “Phòng vắng chỉ”, “cảnh vật… trông nhau”.
Nhìn chung, 16 câu thơ đầu là bức tranh khắc họa nỗi lòng người chinh phụ trong tình cảnh chiến tranh loạn lạc, khi người chồng đi xa. Đó là nỗi cô đơn, trống vắng, mong chờ, nhớ nhung, và cả sự bế tắc, day dứt. Tác giả Đặng Trần Côn đã sử dụng những hình ảnh giản dị, gần gũi nhưng mang sức gợi tả lớn, kết hợp với ngôn ngữ giàu cảm xúc để làm nổi bật tâm trạng bi thương của người phụ nữ nơi hậu phương.
Như vậy, cô trò chúng ta đã cùng nhau phân tích chi tiết 16 câu thơ đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Hy vọng qua bài học này, các em hiểu sâu sắc hơn về tâm trạng của nhân vật và biết cách cảm thụ vẻ đẹp của tác phẩm.
Các em có câu hỏi nào không? Nếu có, cứ mạnh dạn đặt câu hỏi nhé.
Có thể nói, ở mỗi thời đại, văn học đều là tấm gương phản chiếu lên được mặt tốt và mặt xấu của xã hội. Khai thác và đào sâu vào những vấn đề thuộc về nội tâm của con người. Tác phẩm “Chinh phụ ngâm là một điển hình tiêu biểu như thế, đặc biệt là mười sáu câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đoạn trích phản ánh lên tội ác của những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã làm cho người chinh phụ phải rơi vào tình cảnh cô đơn lẻ loi, tâm trạng đau khổ khắc khoải khôn nguôi. Hãy cùng thả lòng mình đến với 16 câu đầu đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” để cảm nhận rõ nét hơn nỗi cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến.
Đoạn trích ra đời vào thế kỉ XVIII. Đầu đời vua Lê Hiển Tông, triều đình sai quân đánh dẹp, nhiều trai tráng trong làng phải từ giả người thân ra trận. Khi ấy, cảm nhận được nỗi khổ của những người nông dân, đặc biệt là người vợ lính. Đặng Trần Côn đã viết nên tác phẩm, bằng chữ Hán là một khúc ngâm đầy cảm xúc. Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” nằm từ câu 193 -216 và từ câu 228 – 252 trong nguyên tác. Khi vừa ra đời tác phẩm đã nhận được rất nhiều sự chú ý từ những nhà yêu thơ, đã có nhiều bản dịch ra chữ Nôm, nhưng bản dịch hiện tại là thành công nhất được viết theo thể song thất lục bát là thể thơ thuần túy của người Việt Nam. Nhưng sau khi bản dịch ra đời lại có tranh cãi rằng bản dịch đấy là của Phan Huy Ích hay Đoàn Thị Điểm. Phần lớn cho rằng là của Đoàn Thị Điểm bởi bà cũng có hoàn cảnh giống như người chinh phụ (bà có chồng đi sứ ở Trung Quốc). Mười sáu câu đầu đoạn trích là khung cảnh người chinh phụ chờ đợi chồng trong hoàn cảnh u buồn, đơn độc. Những hành động được tiếp diễn đưa cảm xúc lên cao trào.
Mở đầu cho cảm xúc cô đơn, đau buồn kéo dài theo không gian và thời gian vô tận là hành động chậm rãi:
“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”
Hành động được hiện ra với dáng vóc đầy suy tư của người chinh phụ. Nhịp thơ nhẹ nhàng, như để đi vào cảm xúc. Những động từ “dạo, gieo từng bước”, cho thấy những bước chân nặng nề mang đầy tâm trạng bâng khuâng, lo lắng, không gian im lặng đến mức nghe từng tiếng bước chân. Người chinh phụ dường như đang suy nghĩ trăn trở nên nàng “ngồi” mà lòng thì chẳng để tâm. Tác giả đã sử dụng hình ảnh ” rủ thác đòi phen”- kéo màng lên rồi lại buông màn xuống. Để cho thấy hành động lặp đi lặp lại vô nghĩ. Và rồi dường như có tiếng thầm thì trách móc:
“Ngoài rèm thước chẳng mách tin,
Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đèn có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.”
Người chinh phụ bắt đầu giãi bày nỗi niềm tâm sự của mình. Thực sự nàng đang rất nhớ người chinh phu điều đó được thể hiện rõ nét qua hình ảnh “chim thước”- chim khách, là loài chim thường mang tin tốt lành. Nàng trách chim thước chẳng báo một chút tin tức nào của người chồng, để nàng phải đợi mong, cô đơn khắc khoải. Nghệ thuật đối lập “ngoài rèm” và “trong rèm” để cho thấy nỗi cô đơn ấy bao trùm tất cả không gian bên trong và bên ngoài phòng khuê. Và nàng cũng cần lắm một người tâm sự cùng mình. “Đèn” được nhà thơ nhân hóa lên như một người bạn. Nếu với “Ca dao yêu thương tình nghĩa”: ” Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt” chiếc đèn nguyện cùng cô gái thao thức suốt đêm mộng mơ nhớ thương, thì với Chinh phụ ngâm chiếc đèn lại phũ phàng với người phụ nữ lẻ loi ấy. “Đèn” đã tắt khi người chinh phụ đang cần lắm một sự sẻ chia, “đèn” đã làm cho người chinh phụ nhận ra rằng “dù thế nào thì đèn cũng chỉ là vật vô tri vô giác” chẳng thể chia sẻ cùng nàng được. Tác giả đã sử dụng câu hỏi tu từ “Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” Như muốn cho người đọc cảm nhận người chinh phụ đã đi qua từng cảm xúc. Và đến khi tuyệt vọng nàng đã nói một câu mà nghe như xé lòng: Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi” nàng xin nhận hết và chịu đựng hết nỗi cô đơn cho riêng mình. Bởi vì chẳng có ai bên cạnh để nàng chia sẻ. Biết bao nỗi niềm chất chứa chẳng nói thành lời:
“Buồn rầu nói chẳng nên lời,
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.”
Nỗi buồn u ám dưới màng đêm, nỗi buồn mà ngay cả nàng cũng chẳng thể nói nên lời được. Có lẽ do nỗi buồn ấy quá lớn và nó lại hiện lên mỗi ngày. Nghệ thuật so sánh “Hoa đèn” với “bóng người”, người chinh phụ nhìn hoa đèn mà nghĩ đến cuộc đời của mình có mau lụi tàn như chiếc hoa đèn kia hay không? Hay còn hẩm hiu hơn thế nữa? Càng nghĩ nàng càng thấy buồn, dường như lúc này cảnh vật cũng rũ xuống một màu đen tối:
“Gà eo óc gáy sương năm trống,
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
Khác giời đằng đẵng như niên,
Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa.”
Trời đã khuya, không gian yên tĩnh, nghe từng tiếng gà gáy. Âm thanh vang lên “eo óc” thưa thớt, hình ảnh hoa hòe “rũ bóng bốn bên”, thời khắc cảnh vật mỏi mòn chìm vào đêm tối. Đã qua hết năm canh mà người chinh phụ vẫn còn thao thức với nỗi sầu khó vơi đi được. Sự so sánh “khắc giờ” như “niên”, một giờ dài bằng một năm, điều đó càng tô đậm hơn nỗi cô đơn. Thời gian cũng kéo dài cùng với nỗi sầu muộn của nàng. Cùng với từ láy “đằng đẵng”, “dằng dặc” cho thấy sự kéo dài triền miên đau đớn cứ mãi day dứt trong lòng. Nghệ thuật lấy động tả tỉnh làm nổi bật lên không gian, thời gian, lấy cái xa của biển cả để nói về cái buồn của lòng người là một cách miêu tả đầy tinh tế. Tiếp đến nàng muốn tìm những thú vui tao nhã, tập cách quên đi nỗi buồn trước mắt:
“Hương gượng đốt hồn đà mê mải,
Gương gượng soi lệ lại châu chan.
Sắt cầm gượng gảy ngón đàn,
Dây uyên kinh đứt phím loan ngại chùng.”
Nhưng nàng chẳng biết rằng những thú vui tao nhã này lại khi nàng chìm đắm vào nỗi sầu mênh mang. Khi đốt hương, hồn nàng lại rơi vào trạng thái mơ màng, nỗi sầu lại theo đó mà dâng lên. Rồi khi soi gương để tô son điểm phấn, nàng lại càng xót xa cho thân phận của mình, nhan sắc của một người phụ nữ đang dần phai mòn đi theo những tháng ngày lẻ loi, không có chồng bên cạnh để làm điểm tựa. Khi đánh đàn nàng lại sợ “dây uyên đứt”, “phím loan chùng” nàng sợ những điều không may xảy đến cuộc tình của nàng. Biết bao nỗi đau đau, nỗi sợ bủa vây lấy nàng. Điệp từ “gượng” được lặp lại ba lần cho thấy sự miễn cưỡng trong hành động. Cũng chỉ vì quá cô đơn, muốn quên đi mà nàng mới làm. Nhưng dù có thú vui tao nhã đến đâu, dù tô son điểm phấn hay đánh đàn thì cũng chẳng bao giờ nàng cảm thấy vui, bởi vì ngay lúc này với nàng là nỗi cô đơn mong mỏi chồng từ nơi chinh chiến sẽ trở về, mong được nghe một lời động viên an ủi từ người chồng của mình. Nhưng tất cả đều không!
Bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình, sử dụng những điệp từ, so sánh nhiều hình ảnh để vẽ ra khung cảnh của người chinh phụ mang nhiều tâm trạng. Sự cô đơn, lẻ loi của người phụ nữ trong đêm tối. Và khi hình ảnh buồn khổ ấy hiện lên chân thực đến đâu thì càng vạch trần cái tội ác xấu xa của chiến tranh phi nghĩa đẩy biết bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Mà niềm cảm thông lớn nhất là dành cho người chinh phụ, là phụ nữ nhưng họ phải hy sinh tuổi xuân để chờ chồng mà chẳng có chút tin tức, không có ai chia sẻ những nỗi buồn. Từ đấy cho ta thấy được cách chọn đề tài của Đặng Trần Côn rất mới mẻ, phù hợp với thời đại lúc bấy giờ. Cách miêu tả nội tâm đầy sâu sắc của ông, cho thấy ông là một người có vốn sống rất rộng. Đồng thời là sự sắc sảo trong cách dùng từ của hai dịch giả Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đã tạo nên đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” rất thành công.
Thông qua mười sáu câu đầu của đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” càng giúp ta hiểu rõ nét hơn những nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội cũ khi có chồng đi chinh chiến. Nó là nỗi cô đơn da diết kéo dài theo không gian thời gian. Từ đó cho thấy hậu quả của chiến tranh phong kiến phi nghĩa. Và là lời ca ngợi cho tác giả Đặng Trần Côn, ông quả là một nhà thơ tài năng và tác phẩm của ông đã chạm đến trái tim của đọc giả và vượt qua hàng trăm năm, nhưng mỗi lần nhắc về những tác phẩm chữ hán, người ta sẽ nghĩ ngay đến “Chinh phụ ngâm”. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một áng văn hay.