sos
cuutuii lam on
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) HOA CỎ MAY (Xuân Quỳnh) Cát vắng,…
cuutuii lam on
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) HOA CỎ MAY (Xuân Quỳnh) Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ, Không gian xao xuyến chuyển sang Tên mình ai gọi sau vòm lá, Lối cũ em về nay đã thu. Mây trắng bay đi cùng với gió, Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ. Đắng cay gửi lại bao mùa cũ, Thơ viết đôi dòng theo gió xa. Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ Áo em sơ ý cỏ găm đầy may Lời yêu mỏng mảnh như màu khói, Ai biết lòng anh có đổi thay? (Thơ Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 2020, Hà Nội) Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. Thất người 7 chủ mùa. Câu 2. Liệt kê ít nhất 3 từ ngữ, hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên trong khổ thơ thứ nhất. cẩt rấu, sông đầy cây ngày ngư / Câu 3. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong khổ thơ thứ ba. Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của cách ngắt nhịp, gieo vần trong bài thơ. Câu 5. Nhận xét cách cảm nhận thiên nhiên mùa thu của Xuân Quỳnh qua bài thơ Hoa cỏ may. sau: II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích chủ đề của bài thơ HƯƠNG THẦM
Chúng ta bắt đầu với phần Đọc hiểu nhé!
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
HOA CỎ MAY (Xuân Quỳnh)
Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ,
Không gian xao xuyến chuyển sang
Tên mình ai gọi sau vòm lá,
Lối cũ em về nay đã thu.
Mây trắng bay đi cùng với gió,
Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ.
Đắng cay gửi lại bao mùa cũ,
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.
Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ
Áo em sơ ý cỏ găm đầy may
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,
Ai biết lòng anh có đổi thay?
(Thơ Xuân Quỳnh, NXB Kim Đồng, 2020, Hà Nội)
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Để xác định thể thơ, chúng ta cần quan sát cách gieo vần, ngắt nhịp và số tiếng trong mỗi câu thơ.
Bài thơ này có 8 câu thơ, mỗi câu có 7 tiếng. Vần được gieo chủ yếu ở cuối các câu thơ: ngơ – sang (lá) – thu – sơ – cũ – xa – cỏ – may. Tuy nhiên, chúng ta cần xem xét kỹ hơn cấu trúc vần trong từng khổ thơ.
Khổ 1: ngơ (vần chân) – lá (vần chân) – thu (vần chân) – sơ (vần chân).
Khổ 2: cũ (vần chân) – xa (vần chân) – cỏ (vần chân) – may (vần chân).
Tuy nhiên, cách gieo vần không hoàn toàn tuân thủ các quy tắc chặt chẽ của thơ Đường luật hay lục bát.
Xét về số tiếng trong mỗi câu thơ, ta thấy mỗi câu đều có 7 tiếng.
Dựa vào đặc điểm này, bài thơ có thể được xác định thuộc thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật nếu xét theo cấu trúc chung của thơ Đường, hoặc gần với thể thơ thất ngôn xen lục ngôn hoặc thể thơ tự do có biến thể. Tuy nhiên, với 8 câu, mỗi câu 7 chữ, ta có thể xem đây là một biến thể của thất ngôn bát cú hoặc một dạng thơ mới. Trong chương trình Ngữ Văn 12, khi phân tích các bài thơ thất ngôn, chúng ta thường liên hệ với cấu trúc thất ngôn bát cú.
Tuy nhiên, cô nhận thấy có một số em đã ghi “Thất người 7 chủ mùa”. Cô đoán là các em đang cố gắng diễn đạt thể thơ thất ngôn.
Đáp án: Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn. (Nếu xét theo cấu trúc 8 câu, mỗi câu 7 tiếng, có thể xem là một biến thể của thất ngôn bát cú Đường luật).
Câu 2. Liệt kê ít nhất 3 từ ngữ, hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên trong khổ thơ thứ nhất.
Khổ thơ thứ nhất là:
“Cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ,
Không gian xao xuyến chuyển sang
Tên mình ai gọi sau vòm lá,
Lối cũ em về nay đã thu.”
Chúng ta cùng nhau tìm những từ ngữ, hình ảnh nói về thiên nhiên nhé.
Thứ nhất, ta có “Cát vắng, sông đầy”. Đây là những hình ảnh quen thuộc của cảnh sông nước.
Thứ hai, ta thấy hình ảnh “cây ngẩn ngơ”. Từ “ngẩn ngơ” gợi lên sự bâng khuâng, một trạng thái tâm trạng của con người được gán cho sự vật.
Thứ ba, “vòm lá” là một hình ảnh thiên nhiên, gợi lên sự rậm rạp, che chở.
Ngoài ra, ta còn thấy “không gian xao xuyến”, “gió”.
Cô thấy các em có ghi “cẩt rấu, sông đầy cây ngày ngư”. Cô đoán “cẩt rấu” là “cát vắng”, “cây ngày ngư” là “cây ngẩn ngơ”. Cách ghi của các em cũng khá gần với đáp án.
Đáp án: Ít nhất 3 từ ngữ, hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên trong khổ thơ thứ nhất là: cát vắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ, vòm lá, gió. (Học sinh chỉ cần liệt kê đủ 3 trong số các từ ngữ/hình ảnh này).
Câu 3. Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong khổ thơ thứ ba.
Chúng ta cùng xem khổ thơ thứ ba:
“Đắng cay gửi lại bao mùa cũ,
Thơ viết đôi dòng theo gió xa.
Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ
Áo em sơ ý cỏ găm đầy may”
À, cô xin lỗi các em, khổ thơ thứ ba mà cô đọc ở trên có vẻ bị sai so với đề bài của các em. Đề bài cho là:
“Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ
Áo em sơ ý cỏ găm đầy may
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,
Ai biết lòng anh có đổi thay?”
Vậy là khổ thơ thứ ba của chúng ta là:
“Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ
Áo em sơ ý cỏ găm đầy may
Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,
Ai biết lòng anh có đổi thay?”
Bây giờ chúng ta tìm biện pháp tu từ so sánh trong khổ này nhé.
Ta thấy câu thơ thứ ba: “Lời yêu mỏng mảnh như màu khói,”.
Ở đây, tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ so sánh.
– Vế so sánh: “Lời yêu mỏng mảnh” (cái được so sánh).
– Phương tiện so sánh: “như” (từ so sánh).
– Vế so sánh với: “màu khói” (cái được so sánh với).
Phân tích hiệu quả:
Biện pháp so sánh này có hiệu quả rất cao trong việc khắc họa đặc điểm của lời yêu.
Thứ nhất, “màu khói” gợi lên sự mong manh, dễ tan biến. Khói không có hình dạng cố định, dễ dàng bay đi trong không trung, hòa lẫn vào không gian.
Thứ hai, màu khói thường nhạt nhòa, khó nắm bắt.
Qua sự so sánh này, Xuân Quỳnh đã làm nổi bật sự mỏng manh, yếu ớt, và có phần khó nắm bắt, không chắc chắn của lời yêu. Lời yêu dù đẹp đẽ, nhưng cũng dễ bị phai nhạt, dễ tan biến như làn khói. Điều này thể hiện một tâm trạng đầy lo âu, bất an về mối quan hệ tình cảm, đặt ra câu hỏi về sự bền vững của tình yêu. Nó cũng thể hiện một sự tinh tế trong cảm nhận của nhà thơ về bản chất của tình yêu đôi lứa, vốn dĩ luôn tiềm ẩn những điều bất định.
Câu 4. Chỉ ra và nêu tác dụng của cách ngắt nhịp, gieo vần trong bài thơ.
Cách ngắt nhịp:
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn, tức là mỗi câu có 7 tiếng. Cách ngắt nhịp phổ biến trong thơ thất ngôn là 2/5, 4/3 hoặc 3/4. Tuy nhiên, Xuân Quỳnh trong bài thơ này có sử dụng nhiều cách ngắt nhịp khác nhau để tạo sự biến hóa cho dòng chảy cảm xúc.
Ví dụ:
“Cát vắng, / sông đầy, / cây ngẩn ngơ,” (ngắt nhịp 2/2/3) – tạo sự liệt kê, nhấn mạnh từng hình ảnh.
“Không gian / xao xuyến / chuyển sang” (ngắt nhịp 2/2/3) – gợi cảm giác lan tỏa, chuyển biến.
“Tên mình / ai gọi / sau vòm lá,” (ngắt nhịp 2/2/3)
“Lối cũ / em về / nay đã thu.” (ngắt nhịp 2/2/3)
“Mây trắng / bay đi / cùng với gió,” (ngắt nhịp 2/2/3)
“Lòng như / trời biếc / lúc nguyên sơ.” (ngắt nhịp 2/2/3)
“Đắng cay / gửi lại / bao mùa cũ,” (ngắt nhịp 2/2/3)
“Thơ viết / đôi dòng / theo gió xa.” (ngắt nhịp 2/2/3)
“Khắp nẻo / dâng đầy / hoa cỏ” (ngắt nhịp 2/2/2)
“Áo em / sơ ý / cỏ găm đầy may” (ngắt nhịp 2/2/4) – nhấn mạnh sự vô tình, bất cẩn.
“Lời yêu / mỏng mảnh / như màu khói,” (ngắt nhịp 2/2/3)
“Ai biết / lòng anh / có đổi thay?” (ngắt nhịp 2/2/3)
Tác dụng của cách ngắt nhịp:
– Tạo ra nhịp điệu linh hoạt, uyển chuyển, phản ánh sự biến đổi của cảm xúc, suy tư.
– Góp phần nhấn mạnh ý, hình ảnh tại các phần được ngắt ra, làm cho lời thơ thêm sinh động, giàu sức gợi.
– Giúp thể hiện sự rung động, thổn thức, bâng khuâng trong tâm hồn nhân vật trữ tình.
Cách gieo vần:
Bài thơ sử dụng chủ yếu là vần chân (vần ở cuối câu). Ta có thể thấy các tiếng cuối câu trong một khổ hoặc giữa các khổ có sự tương ứng về âm.
Ví dụ:
– Khổ 1: ngơ – lá – thu – sơ (vần “ơ” và “a” không hoàn toàn tương đồng nhưng tạo sự liên kết). Tuy nhiên, nếu xét kĩ hơn, “ngẩn ngơ” và “nguyên sơ” có vần “ơ”. “Lá” và “thu” không cùng vần.
– Khổ 2: cũ – xa – cỏ – may. Ở đây, ta thấy “cỏ” và “ngơ” (trong câu 1) có vần “o”, “a”.
Các tiếng cuối câu như: ngơ, lá, thu, sơ, cũ, xa, cỏ, may.
Xuân Quỳnh đã sử dụng cách gieo vần thông thoáng, không quá chặt chẽ theo quy tắc của thơ cổ điển, đôi khi có những tiếng “vần thông” hoặc vần “bổ” (gần âm).
Tác dụng của cách gieo vần:
– Tạo ra sự liên kết giữa các câu thơ, làm cho bài thơ có tính nhạc, dễ đi vào lòng người.
– Cách gieo vần không quá khắt khe giúp tăng tính tự nhiên, gần gũi cho lời thơ, không tạo cảm giác gò bó, nặng nề.
– Góp phần thể hiện tâm trạng buồn man mác, bâng khuâng, hoài niệm của nhân vật trữ tình. Sự mềm mại của vần thơ cũng hòa quyện với vẻ đẹp mong manh của thiên nhiên và tâm trạng con người.
Câu 5. Nhận xét cách cảm nhận thiên nhiên mùa thu của Xuân Quỳnh qua bài thơ Hoa cỏ may.
Qua bài thơ “Hoa cỏ may”, cách cảm nhận thiên nhiên mùa thu của Xuân Quỳnh rất đặc biệt. Mùa thu không chỉ được miêu tả bằng những hình ảnh quen thuộc mà còn được đồng nhất, hòa quyện với tâm trạng, cảm xúc của con người.
1. Sự giao thoa giữa thiên nhiên và tâm trạng:
Thiên nhiên mùa thu trong bài thơ không đứng yên mà có sự chuyển động, biến đổi: “Không gian xao xuyến chuyển sang”, “Mây trắng bay đi cùng với gió”. Những khung cảnh này không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn phản chiếu trạng thái nội tâm của nhân vật trữ tình: “Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ”, “Đắng cay gửi lại bao mùa cũ”. Mùa thu, với cái se lạnh, sự tĩnh lặng và đôi chút heo may, trở thành một phông nền hoàn hảo để thể hiện những suy tư về tình yêu, về sự đổi thay.
2. Thiên nhiên mang nỗi buồn man mác:
Cảnh vật mùa thu trong bài thơ gợi lên một nỗi buồn man mác, tiếc nuối. “Cây ngẩn ngơ”, “lối cũ em về nay đã thu” cho thấy sự vắng lặng, có chút gì đó đã qua đi. “Đắng cay gửi lại bao mùa cũ” cho thấy mùa thu như là thời điểm để nhìn lại những gì đã từng và chấp nhận những nỗi buồn. Hoa cỏ may mọc khắp nơi, nó thật đẹp, nhưng cái vẻ đẹp ấy lại gắn liền với hình ảnh “áo em sơ ý cỏ găm đầy may”, gợi lên sự vô tình, hay một nỗi đau nho nhỏ.
3. Sự mong manh, bất định của tình yêu được gửi gắm vào thiên nhiên:
Không chỉ là cảnh thu, mà cả những yếu tố thiên nhiên nhỏ bé cũng được Xuân Quỳnh sử dụng để nói về tình yêu. “Lời yêu mỏng mảnh như màu khói” là một hình ảnh so sánh vô cùng đắt giá. Khói vốn là sản phẩm của sự cháy, nhưng nó mong manh, dễ tan biến. Mùa thu, với những cơn gió, làn mây, cảnh vật có thể gợi lên sự phiêu lãng, xa cách, làm cho tình yêu trở nên bất định.
Tóm lại, Xuân Quỳnh cảm nhận thiên nhiên mùa thu không chỉ bằng thị giác, thính giác mà còn bằng cả trái tim. Thiên nhiên mùa thu trong bài thơ là sự hòa quyện giữa cảnh vật bên ngoài và tâm trạng bên trong, mang một vẻ đẹp buồn dịu, tinh tế và đầy ám ảnh về sự mong manh, bất định của tình yêu.
Bây giờ, chúng ta sẽ chuyển sang phần VIẾT.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích chủ đề của bài thơ HƯƠNG THẦM.
À, các em ơi, có lẽ đề bài có một chút nhầm lẫn ở đây. “Hoa cỏ may” là bài thơ chúng ta vừa đọc và phân tích ở phần trên. Còn “Hương thầm” là một bài thơ khác của nhà thơ Anh Thơ. Tuy nhiên, nếu đề yêu cầu phân tích chủ đề của bài “Hương thầm”, cô sẽ hướng dẫn các em cách làm.
Để phân tích chủ đề của một bài thơ, chúng ta cần xác định xem bài thơ muốn nói lên điều gì, thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm là gì.
Các bước để phân tích chủ đề bài thơ “Hương thầm”:
Bước 1: Đọc kỹ bài thơ, xác định nội dung chính.
Bài thơ “Hương thầm” của Anh Thơ thường gợi về cảnh đồng quê, vẻ đẹp của những cánh đồng lúa chín, hương thơm dịu nhẹ, và thường gắn với những kỷ niệm, nỗi nhớ quê hương hoặc một mối tình thầm kín.
Bước 2: Tìm các yếu tố hình ảnh, ngôn ngữ, cảm xúc thể hiện chủ đề.
– Hình ảnh: Cánh đồng lúa chín vàng, hương lúa, con đường làng, con trâu, khói lam chiều…
– Ngôn ngữ: Giản dị, mộc mạc, giàu hình ảnh, gợi cảm.
– Cảm xúc: Nhẹ nhàng, bâng khuâng, nhớ nhung, tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa thầm kín.
Bước 3: Rút ra chủ đề của bài thơ.
Chủ đề của bài thơ “Hương thầm” có thể là:
– Vẻ đẹp bình dị, nên thơ của làng quê Việt Nam và tình yêu tha thiết của con người với quê hương mình.
– Tình yêu đôi lứa thầm kín, e ấp được gửi gắm qua những hình ảnh quen thuộc của làng quê, đặc biệt là hương lúa.
Bước 4: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ).
Cô sẽ đưa ra một ví dụ đoạn văn phân tích chủ đề của bài “Hương thầm” để các em tham khảo:
“Bài thơ “Hương thầm” của Anh Thơ là khúc ca ngợi vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của làng quê Việt Nam, đồng thời khắc họa một tình yêu đôi lứa thầm kín, e ấp. Tác giả đã khéo léo sử dụng những hình ảnh thân thuộc như cánh đồng lúa chín vàng óng, làn khói lam chiều bảng lảng để vẽ nên một bức tranh quê hương đầy sức sống và quyến rũ. Đặc biệt, hương lúa chín không chỉ là hương thơm của đồng nội mà còn mang theo nỗi nhớ, sự gắn bó sâu sắc với quê nhà. Hơn thế, hương lúa còn trở thành ẩn dụ tinh tế cho tình yêu thầm kín, chưa dám thổ lộ giữa đôi lứa tuổi học trò. Qua đó, bài thơ để lại ấn tượng sâu sắc về một miền quê yên bình và những rung động đầu đời trong sáng, đáng trân trọng.”
Các em lưu ý, nếu đề bài thực sự yêu cầu phân tích chủ đề bài “Hoa cỏ may” thì cách làm sẽ tương tự, chúng ta sẽ tập trung vào chủ đề về tình yêu đôi lứa với những nỗi niềm lo âu, bất an, sự mong manh của tình yêu.
Như vậy là chúng ta đã cùng nhau hoàn thành các bài tập của ngày hôm nay. Cô hy vọng rằng qua những giờ học như thế này, các em sẽ ngày càng yêu thích và học tốt môn Ngữ Văn. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, đừng ngần ngại hỏi cô nhé! Chúc các em học tốt!
Câu 1:
Thể thơ: Tự do
Câu 2:
Ba từ ngữ, hình ảnh miêu tả bức trang thiên nhiên trong khổ thơ thứ nhất: “Cát vắng”; “Sông đầy”; “Cây ngẩn ngơ”
Các hình ảnh này gợi lên một không gian thiên nhiên rộng lớn, trống vắng và đầy vẻ tĩnh lặng, đồng thời cũng thể hiện sự thay đổi của thiên nhiên, phản ánh cảm xúc và tâm trạng của con người.
Câu 3:
Biện pháp tu từ so sánh: Lời yêu mỏng mảnh như màu khói
Tác dụng:
– Làm cho câu thơ trở nên sinh động, giàu hình ảnh, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
– Nhấn mạnh sự sự mong manh, dễ vỡ của lời yêu, gợi lên cảm giác nhẹ nhàng, thoảng qua, khó nắm bắt, giống như làn khói mờ ảo, không dễ dàng giữ lại.
– Qua đó, tác giả muốn thể hiện sự dễ tổn thương trong tình yêu, đồng thời cũng phản ánh sự mong manh của cảm xúc trong cuộc sống.
Câu 4:
Cát vắng / sông đầy / cây ngẩn ngơ,
Không gian xao xuyến / chuyển sang
Tên mình ai gọi / sau vòm lá,
Lối cũ em về / nay đã thu.
Mây trắng bay đi / cùng với gió,
Lòng như trời biếc / lúc nguyên sơ.
Đắng cay gửi lại / bao mùa cũ,
Thơ viết đôi dòng / theo gió xa.
Khắp nẻo / dâng đầy hoa cỏ
Áo em sơ ý / cỏ găm đầy may
Lời yêu mỏng manh / như màu khói,
Ai biết lòng anh / có đổi thay?
Bài thơ Hoa cỏ may sử dụng cách ngắt nhịp và gieo vần linh hoạt, không tuân thủ một quy tắc cố định. Điều này làm cho bài thơ trở nên tự do, phóng khoáng, phản ánh sự tự do trong cảm xúc và suy tư của tác giả. Cách ngắt nhịp cũng tạo ra sự nhấn mạnh ở những câu, giúp tăng thêm sức nặng cho các hình ảnh, lời thơ. Vần điệu trong bài thơ tuy không chặt chẽ nhưng vẫn mang lại sự hài hòa, kết nối giữa các hình ảnh và cảm xúc.
Câu 5:
Xuân Quỳnh cảm nhận thiên nhiên mùa thu qua những hình ảnh nhẹ nhàng, thơ mộng nhưng cũng có chút man mác, buồn bã. Bức tranh thiên nhiên được vẽ qua những hình ảnh “cát vắng”, “sông đầy”, “cây ngẩn ngơ”, tạo nên không gian vắng lặng, tĩnh mịch. Mùa thu trong bài thơ không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là mùa của tâm trạng con người, khi quá khứ dần phai nhạt, tình yêu trở nên mỏng manh, dễ vỡ như khói. Cảm nhận về thiên nhiên mùa thu trong bài thơ không chỉ là sự thay đổi của cảnh vật mà còn là sự gợi nhắc về những cảm xúc, những kỷ niệm, những đau đớn và nuối tiếc trong tình yêu.
Phần II.
Câu 1:
Bài thơ Hương Thầm của Xuân Quỳnh thể hiện một chủ đề sâu sắc về tình yêu, sự thủy chung và khát vọng yêu thương trong cuộc sống. Tình yêu trong bài thơ mang cảm xúc tinh tế, êm đềm nhưng cũng tràn đầy nhiệt huyết mãnh liệt, cháy bỏng. Hương thơm trong bài thơ không chỉ là biểu tượng của tình yêu nồng nàn mà còn là sự lưu giữ những cảm xúc, ký ức khó quên trong lòng người. Chính hương thơm ấy đã phả vào lòng người những cảm xúc day dứt khó phai. Cảm giác yêu thương được Xuân Quỳnh khắc họa qua hình ảnh mùi hương thoảng qua, dễ dàng chạm vào nhưng cũng rất khó nắm bắt, như chính bản chất của tình yêu – đôi khi thoáng qua, nhưng đọng lại lâu dài trong tâm hồn con người. Từ đó, tác giả muốn khẳng định rằng tình yêu không chỉ là cảm xúc mơ hồ, mà còn là một phần của cuộc sống, lưu lại trong ký ức và tâm hồn mỗi người.
Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản trên. Bài thơ “Hoa cỏ may” của Xuân Quỳnh được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú. Đây là thể thơ có tám câu, mỗi câu có bảy chữ. Câu 2: Liệt kê ít nhất 3 từ ngữ, hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên trong khổ thơ thứ nhất. Trong khổ thơ thứ nhất, những hình ảnh miêu tả bức tranh thiên nhiên bao gồm: Cát vắng Sông đầy Cây ngẩn ngơ Các hình ảnh này gợi lên một không gian rộng lớn, hoang vắng, có sự chuyển động của thiên nhiên trong thời gian thu. Câu 3: Chỉ ra và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong khổ thơ thứ ba. Biện pháp tu từ so sánh xuất hiện trong câu thơ: “Lời yêu mỏng mảnh như màu khói.” Tác giả so sánh lời yêu với màu khói, từ đó diễn tả sự mong manh, dễ tan biến của tình yêu, đồng thời cũng khắc họa được sự mơ hồ, thiếu thực tế trong mối quan hệ này. So sánh này làm tăng tính chất lãng mạn và buồn bã, thể hiện sự mỏng manh của tình cảm, dễ bị gió cuốn đi như khói. Câu 4: Chỉ ra và nêu tác dụng của cách ngắt nhịp, gieo vần trong bài thơ. Cách ngắt nhịp trong bài thơ thường xuyên ngắt nhịp 4/3 hoặc 3/4, tạo ra sự nhấn mạnh ở những từ ngữ quan trọng, khiến bài thơ trở nên nhịp nhàng và có sự thay đổi cảm xúc rõ rệt. Việc gieo vần trong bài thơ (vần “a” và “ay” được lặp lại nhiều lần) giúp tạo âm điệu du dương, nhẹ nhàng, làm nổi bật cảm giác bâng khuâng, vương vấn của người viết về những ký ức, tình cảm đã qua. Gieo vần cũng làm cho bài thơ trở nên hài hòa, dễ nhớ, dễ cảm nhận. Câu 5: Nhận xét cách cảm nhận thiên nhiên mùa thu của Xuân Quỳnh qua bài thơ “Hoa cỏ may”. Qua bài thơ “Hoa cỏ may”, Xuân Quỳnh thể hiện một cách cảm nhận thiên nhiên mùa thu rất tinh tế, đầy lãng mạn nhưng cũng có chút man mác buồn. Thiên nhiên mùa thu trong bài thơ không chỉ là những hình ảnh cụ thể như “cát vắng”, “sông đầy”, “cây ngẩn ngơ” mà còn gắn liền với những cảm xúc con người, những sự chuyển động tâm trạng. Mùa thu không chỉ là mùa của hoa cỏ mà còn là mùa của sự chia ly, sự tiễn biệt, như cách mà tình yêu đôi khi cũng trở nên mong manh và xa vời. II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 150 chữ) phân tích chủ đề của bài thơ “Hương Thầm”. Trong bài thơ “Hương Thầm”, Xuân Quỳnh đã khéo léo khai thác chủ đề tình yêu bằng một góc nhìn mới mẻ, đầy tinh tế. Chủ đề chính của bài thơ là tình yêu trong sáng, đằm thắm, khát khao được sẻ chia, được hòa quyện vào nhau. Bài thơ miêu tả tình yêu như một hương thầm bay bổng, nhẹ nhàng, không cần nói ra, chỉ cần sự cảm nhận sâu sắc từ trái tim. Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không phải là sự bộc lộ mãnh liệt, mà là một sự đợi chờ, một sự hiện diện thầm lặng trong tâm hồn người yêu. Chính vì vậy, “hương thầm” ở đây không chỉ là mùi hương của hoa, mà còn là những cảm xúc ẩn chứa trong tình yêu, sự chung thủy và chờ đợi. Chủ đề tình yêu trong bài thơ phản ánh những giá trị nhân văn cao đẹp, khẳng định tình yêu là sự kết nối tinh thần, là sự thấu hiểu lẫn nhau giữa hai con người.