trong lớp 11A có 16 học sinh giỏi môn toán, 15 học sinh giỏi môn lý và …
a) giỏi cả 3 môn toán lý hóa
b) giỏi đúng 1 môn toán lý hoặc hóa
Chúng ta sẽ sử dụng sơ đồ Venn để minh họa và giải bài toán này. Sơ đồ Venn là một công cụ trực quan giúp biểu diễn các mối quan hệ giữa các tập hợp, đặc biệt là các tập hợp có phần tử chung.
Đầu tiên, chúng ta sẽ gọi các tập hợp như sau:
– Gọi T là tập hợp các học sinh giỏi môn Toán.
– Gọi L là tập hợp các học sinh giỏi môn Lý.
– Gọi H là tập hợp các học sinh giỏi môn Hóa.
Theo đề bài, chúng ta có các thông tin sau:
– n(T) = 16
– n(L) = 15
– n(H) = 11
– Số học sinh vừa giỏi Toán và Lý là 9, tức là n(T ∩ L) = 9. Lưu ý, đây là những học sinh giỏi cả hai môn Toán và Lý, họ CÓ THỂ giỏi thêm môn Hóa.
– Số học sinh vừa giỏi Lý và Hóa là 6, tức là n(L ∩ H) = 6. Tương tự, họ CÓ THỂ giỏi thêm môn Toán.
– Số học sinh vừa giỏi Hóa và Toán là 8, tức là n(H ∩ T) = 8. Họ CÓ THỂ giỏi thêm môn Lý.
– Đề bài cho biết “trong đó có 11 học sinh giỏi hai môn”. Thông tin này cần được làm rõ vì nó có vẻ mâu thuẫn hoặc thiếu chính xác với các thông tin về giao của hai tập hợp đã cho ở trên (9, 6, 8). Tuy nhiên, nếu hiểu rằng “11 học sinh giỏi hai môn” là tổng số học sinh thuộc ít nhất hai trong ba nhóm giao nhau (T ∩ L, L ∩ H, H ∩ T) nhưng chưa trừ đi phần giao ba môn, thì cách giải thông thường và phù hợp nhất với dạng bài này là sử dụng công thức bao hàm-loại trừ và suy luận từ các giao điểm hai môn đã cho. Cô sẽ giả định rằng các số 9, 6, 8 là số phần tử của các giao hai môn, và chúng ta sẽ tìm số học sinh giỏi cả ba môn trước.
a) Số học sinh giỏi cả 3 môn Toán, Lý, Hóa
Để tìm số học sinh giỏi cả ba môn, chúng ta cần tìm n(T ∩ L ∩ H).
Chúng ta sẽ sử dụng công thức nguyên lý bao hàm-loại trừ cho ba tập hợp:
\[ n(T \cup L \cup H) = n(T) + n(L) + n(H) – n(T \cap L) – n(L \cap H) – n(H \cap T) + n(T \cap L \cap H) \]
Tuy nhiên, đề bài không cho chúng ta biết tổng số học sinh của lớp, tức là n(T ∪ L ∪ H).
Có một cách tiếp cận khác, đó là phân tích các vùng trong sơ đồ Venn.
Gọi x là số học sinh giỏi cả ba môn Toán, Lý, Hóa.
Tức là x = n(T ∩ L ∩ H).
– Số học sinh giỏi Toán và Lý nhưng không giỏi Hóa là: n(T ∩ L) – n(T ∩ L ∩ H) = 9 – x.
– Số học sinh giỏi Lý và Hóa nhưng không giỏi Toán là: n(L ∩ H) – n(T ∩ L ∩ H) = 6 – x.
– Số học sinh giỏi Hóa và Toán nhưng không giỏi Lý là: n(H ∩ T) – n(T ∩ L ∩ H) = 8 – x.
Thông tin “có 11 học sinh giỏi hai môn” có thể được hiểu theo nhiều cách. Nếu hiểu là tổng số học sinh thuộc phần giao của đúng hai môn, tức là:
(Số học sinh giỏi Toán, Lý nhưng không Hóa) + (Số học sinh giỏi Lý, Hóa nhưng không Toán) + (Số học sinh giỏi Hóa, Toán nhưng không Lý) = 11.
Điều này sẽ dẫn đến:
(9 – x) + (6 – x) + (8 – x) = 11
23 – 3x = 11
3x = 23 – 11
3x = 12
x = 4
Hoặc, nếu “11 học sinh giỏi hai môn” có nghĩa là tổng của các giao điểm hai môn, nhưng chưa trừ phần giao ba môn, thì cách diễn giải như trên vẫn là hợp lý nhất.
Tuy nhiên, nếu đề bài có ý rằng “có tổng cộng 11 học sinh thuộc các nhóm giỏi hai môn trở lên”, nghĩa là:
n(T ∩ L) + n(L ∩ H) + n(H ∩ T) – 2*n(T ∩ L ∩ H) = 11
9 + 6 + 8 – 2*x = 11
23 – 2x = 11
2x = 12
x = 6
Thông tin “trong đó có 11 học sinh giỏi hai môn” thực sự gây khó hiểu. Cô sẽ giả định rằng đây là thông tin ám chỉ số học sinh thuộc phần giao của hai môn (không bao gồm phần giao ba môn). Nếu vậy, thì cách giải đầu tiên sẽ đúng.
Giả sử rằng:
Số học sinh giỏi đúng hai môn là 11.
Điều này có nghĩa là:
(Số học sinh giỏi Toán và Lý chỉ Toán và Lý) + (Số học sinh giỏi Lý và Hóa chỉ Lý và Hóa) + (Số học sinh giỏi Hóa và Toán chỉ Hóa và Toán) = 11.
Ta có:
(9 – x) + (6 – x) + (8 – x) = 11
23 – 3x = 11
3x = 12
x = 4
Vậy, số học sinh giỏi cả 3 môn Toán, Lý, Hóa là 4 em.
Để kiểm tra lại, ta có:
– Giỏi Toán và Lý (chỉ 2 môn): 9 – 4 = 5
– Giỏi Lý và Hóa (chỉ 2 môn): 6 – 4 = 2
– Giỏi Hóa và Toán (chỉ 2 môn): 8 – 4 = 4
– Tổng số học sinh giỏi đúng 2 môn: 5 + 2 + 4 = 11 (Khớp với giả định).
b) Số học sinh giỏi đúng 1 môn Toán, Lý hoặc Hóa
Để tính số học sinh giỏi đúng 1 môn, chúng ta sẽ lấy tổng số học sinh giỏi mỗi môn trừ đi số học sinh giỏi hai môn hoặc ba môn.
– Số học sinh giỏi đúng môn Toán:
Đây là những học sinh chỉ giỏi Toán, không giỏi Lý và không giỏi Hóa.
Ta tính bằng cách lấy tổng số học sinh giỏi Toán trừ đi số học sinh giỏi Toán và Lý, trừ đi số học sinh giỏi Toán và Hóa, rồi cộng lại số học sinh giỏi cả ba môn (vì đã bị trừ 2 lần).
Cách khác, ta có thể tính trực tiếp từ các vùng trên sơ đồ Venn:
Số học sinh giỏi Toán = (Số học sinh giỏi Toán) – (Số học sinh giỏi Toán và Lý chỉ 2 môn) – (Số học sinh giỏi Toán và Hóa chỉ 2 môn) – (Số học sinh giỏi cả 3 môn)
Số học sinh giỏi đúng Toán = n(T) – (n(T ∩ L) – x) – (n(H ∩ T) – x) – x
Số học sinh giỏi đúng Toán = n(T) – n(T ∩ L) + x – n(H ∩ T) + x – x
Số học sinh giỏi đúng Toán = n(T) – n(T ∩ L) – n(H ∩ T) + x
Thay số vào: 16 – 9 – 8 + 4 = 3
– Số học sinh giỏi đúng môn Lý:
Số học sinh giỏi đúng Lý = n(L) – n(T ∩ L) – n(L ∩ H) + x
Thay số vào: 15 – 9 – 6 + 4 = 4
– Số học sinh giỏi đúng môn Hóa:
Số học sinh giỏi đúng Hóa = n(H) – n(L ∩ H) – n(H ∩ T) + x
Thay số vào: 11 – 6 – 8 + 4 = 1
Vậy, số học sinh giỏi đúng 1 môn Toán, Lý hoặc Hóa là tổng của ba trường hợp trên:
Số học sinh giỏi đúng 1 môn = (Số học sinh giỏi đúng Toán) + (Số học sinh giỏi đúng Lý) + (Số học sinh giỏi đúng Hóa)
Số học sinh giỏi đúng 1 môn = 3 + 4 + 1 = 8.
Kết luận:
a) Số học sinh giỏi cả 3 môn Toán, Lý, Hóa là 4 em.
b) Số học sinh giỏi đúng 1 môn Toán, Lý hoặc Hóa là 8 em.
Các em thấy đó, với việc phân tích cẩn thận và áp dụng đúng công thức, chúng ta có thể giải quyết được bài toán này một cách dễ dàng. Cô mong các em về nhà luyện tập thêm các dạng bài tương tự để nắm vững kiến thức hơn nhé. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, đừng ngần ngại hỏi cô hoặc các bạn trong giờ học.
a) Gọi \(T, L, H\) lần lượt là tập hợp các hs giỏi môn Toán, Lý, Hóa.
Vẽ biểu đồ Venn ta có 3 lần số học sinh giỏi cả \(3\) môn là
\(9 + 6 + 8 – 11 = 12\)
Vậy số hs giỏi cả 3 môn là
\(12 :3 = 4\)
b) Từ biểu đồ Venn ta tính đc số hs chỉ giỏi môn Toán, Lý và Hóa lần lượt là \(3\), \(4\), \(1\).
Vậy số hs chỉ giỏi đúng 1 môn Toán, Lý hoặc Hóa là \(3 + 4 + 1 = 8\) (hs)