Trong thí nghiệm phát hiện ra hạt electron của Thomson và hạt nhân nguyên tử của…
Chúng ta sẽ đi từng bước một, bám sát theo sách giáo khoa để hiểu rõ bản chất vấn đề.
1. Thí nghiệm phát hiện ra hạt electron của J.J. Thomson
Các em còn nhớ về thí nghiệm này chứ? Thomson đã sử dụng ống tia âm cực để chứng minh sự tồn tại của electron.
a. Sơ lược về thí nghiệm:
Trong ống tia âm cực, hai điện cực (cực âm và cực dương) được nối với nguồn điện áp cao. Khi có điện áp, một chùm tia phát ra từ cực âm (catot) và đi về phía cực dương (anot). Chùm tia này gọi là tia âm cực.
b. Vai trò của màn huỳnh quang trong thí nghiệm của Thomson:
Trong thí nghiệm này, màn huỳnh quang được đặt ở phía cuối ống tia âm cực, phía đối diện với cực âm.
* Quan sát: Khi tia âm cực chạm vào màn huỳnh quang, màn huỳnh quang sẽ phát sáng tại điểm chạm.
* Công dụng: Màn huỳnh quang ở đây có công dụng là vật phát hiện và hiển thị đường đi của tia âm cực. Nhờ có sự phát sáng này, Thomson có thể:
* Quan sát được sự tồn tại của tia âm cực.
* Xác định được vị trí tia âm cực chạm vào màn.
* Quan sát được sự lệch của tia âm cực khi đặt thêm các điện trường hoặc từ trường tác dụng lên nó, từ đó tính toán được tỉ số khối lượng trên điện tích của hạt mang điện trong tia âm cực (chính là electron).
2. Thí nghiệm kiểm chứng mô hình nguyên tử của E. Rutherford (Thí nghiệm tán xạ hạt alpha)
Tiếp theo, chúng ta sang thí nghiệm vĩ đại hơn của Rutherford, thí nghiệm đã dẫn đến việc phát hiện ra hạt nhân nguyên tử.
a. Sơ lược về thí nghiệm:
Rutherford và các cộng sự đã cho các hạt alpha (hạt nhân nguyên tử Heli, mang điện tích dương) bắn phá một lá vàng mỏng.
b. Vai trò của màn huỳnh quang trong thí nghiệm của Rutherford:
Trong thí nghiệm này, màn huỳnh quang được sử dụng bao bọc xung quanh lá vàng mỏng.
* Quan sát: Khi các hạt alpha chuyển động và va chạm vào màn huỳnh quang, màn huỳnh quang sẽ phát ra những đốm sáng nhỏ.
* Công dụng: Màn huỳnh quang ở đây có công dụng là vật phát hiện các hạt alpha đã bị tán xạ. Cụ thể:
* Nó cho phép quan sát được hướng bay của các hạt alpha sau khi tương tác với lá vàng.
* Bằng cách đếm số lượng đốm sáng xuất hiện tại các vị trí khác nhau trên màn huỳnh quang, Rutherford và cộng sự có thể xác định được góc tán xạ của các hạt alpha.
* Kết quả quan sát (đa số hạt alpha đi thẳng, một số bị lệch góc, rất ít hạt bật ngược trở lại) đã dẫn đến kết luận quan trọng về cấu tạo nguyên tử: nguyên tử có hạt nhân mang điện tích dương, rất nhỏ và đặc, còn phần lớn thể tích nguyên tử là rỗng.
Như vậy, chúng ta thấy rằng, dù ở hai thí nghiệm khác nhau, màn huỳnh quang đều đóng vai trò then chốt trong việc phát hiện ra các hạt tích điện và hiển thị đường đi hoặc điểm va chạm của chúng. Đây là một minh chứng cho sự phát triển liên tục của các phương pháp thực nghiệm trong khoa học.
Hy vọng qua phần giải thích này, các em đã nắm vững hơn kiến thức về hai thí nghiệm lịch sử này. Nếu có câu hỏi gì, đừng ngần ngại hỏi cô nhé!
Đáp án:
Trong thí nghiệm tìm ra hạt electron của Thomson, màn huỳnh quang được sử dụng để phát hiện ra tia âm cực. Tia âm cực có bản chất là dòng electron tốc độ cao nên khi các electron đập vào màn huỳnh quang thì màn hình quang sáng lên tại vị trí tiếp xúc với electron. Ta thấy có những vị trí, màn huỳnh quang sáng lên theo hướng lệch đi so với chiều của dòng electron, chứng tỏ hạt electron đã đổi hướng do tác dụng của điện trường áp dụng vào.
Trong thí nghiệm tìm ra hạt nhân của Rutherford, màn huỳnh quang được sử dụng để phát hiện ra hạt \(\alpha\). Chùm tia \(\alpha\) được bắn vào lá vàng. Khi hạt \(\alpha\) tiếp xúc với màn huỳnh quang thì màn huỳnh quang sáng lên tại vị trí tiếp xúc. Ta thấy có những vị trí, màn huỳnh quang sáng lên theo hướng lệch đi so với chiều của dòng \(\alpha\), chứng tỏ hạt \(\alpha\) đã đổi hướng do va chạm với hạt nhân nguyên tử vàng.