Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

Tụ điện phẳng không khí C=2pF.Nhúng chìm 1 nửa vào trong điện môi lỏng…

Tụ điện phẳng không khí C=2pF.Nhúng chìm 1 nửa vào trong điện môi lỏng…

Tụ điện phẳng không khí C=2pF.Nhúng chìm 1 nửa vào trong điện môi lỏng điện môi e =3.Tìm điện dung của tụ điện nếu khi nhúng ,các bản: a,thẳng đứng b, nằm ngang
Hỏi bởi: Hoàng Diệu Hương
2 câu trả lời
▲ 2
Chào các em, hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau giải một bài tập về tụ điện rất thú vị trong chương trình Vật lý lớp 11. Bài toán này giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cách điện môi ảnh hưởng đến điện dung của tụ điện.

Trước hết, chúng ta cần nhớ lại công thức tính điện dung của tụ điện phẳng.
Với tụ điện phẳng không khí, điện dung được tính bằng công thức:
C_0 = \(\epsilon_0 \frac{S}{d}\)
trong đó:
C_0 là điện dung của tụ điện phẳng không khí (F).
\(\epsilon_0\) là hằng số điện môi của chân không (F/m), có giá trị xấp xỉ \(8.85 \times 10^{-12}\) F/m.
S là diện tích của một bản tụ (m^2).
d là khoảng cách giữa hai bản tụ (m).

Trong bài toán này, chúng ta có tụ điện phẳng không khí với điện dung ban đầu là C = 2pF.
Ta có thể viết: C = \(\epsilon_0 \frac{S}{d}\) = 2pF.

Bây giờ, chúng ta nhúng chìm một nửa tụ điện vào trong một điện môi lỏng có hằng số điện môi \(\epsilon = 3\).

Chúng ta sẽ xét hai trường hợp:

a, Các bản tụ thẳng đứng

Khi các bản tụ thẳng đứng và nhúng chìm một nửa vào điện môi, có nghĩa là một nửa diện tích của mỗi bản tụ sẽ nằm trong điện môi, và nửa còn lại vẫn ở trong không khí.
Ta có thể coi hệ thống này như hai tụ điện ghép song song.
Tụ thứ nhất có diện tích là S/2 và được đặt trong điện môi có hằng số điện môi \(\epsilon\). Điện dung của tụ này là:
C_1 = \(\epsilon \epsilon_0 \frac{S/2}{d}\)

Tụ thứ hai cũng có diện tích là S/2 nhưng vẫn ở trong không khí (hằng số điện môi là 1). Điện dung của tụ này là:
C_2 = \(\epsilon_0 \frac{S/2}{d}\)

Vì hai tụ này được ghép song song, điện dung tương đương của hệ thống (tức là điện dung mới của tụ điện khi nhúng một nửa) sẽ là tổng điện dung của hai tụ thành phần:
C = C_1 + C_2
C = \(\epsilon \epsilon_0 \frac{S/2}{d} + \epsilon_0 \frac{S/2}{d}\)
C = \(\epsilon_0 \frac{S}{d} \left( \frac{\epsilon}{2} + \frac{1}{2} \right)\)
C = \(\epsilon_0 \frac{S}{d} \frac{\epsilon + 1}{2}\)

Chúng ta biết rằng C_0 = \(\epsilon_0 \frac{S}{d}\) = 2pF. Thay vào biểu thức trên:
C = C_0 \(\frac{\epsilon + 1}{2}\)

Bây giờ, chúng ta thay các giá trị đã cho vào:
C_0 = 2pF
\(\epsilon\) = 3

C = 2pF \(\frac{3 + 1}{2}\)
C = 2pF \(\frac{4}{2}\)
C = 2pF * 2
C = 4pF

Vậy, khi các bản tụ thẳng đứng, điện dung của tụ điện là 4pF.

b, Các bản tụ nằm ngang

Khi các bản tụ nằm ngang và nhúng chìm một nửa vào điện môi, có nghĩa là một nửa “chiều cao” của bản tụ (nếu coi chiều dày là chiều cao) sẽ nằm trong điện môi, và nửa còn lại vẫn ở trong không khí. Tuy nhiên, cách hiểu phổ biến và phù hợp với bản chất của tụ điện phẳng là việc nhúng chìm một nửa vào điện môi sẽ ảnh hưởng đến diện tích hiệu dụng của bản tụ tương tác với điện môi.

Nếu nhúng chìm 1 nửa vào điện môi, và các bản tụ nằm ngang, chúng ta có thể hiểu là một nửa diện tích của bản tụ (theo phương ngang) sẽ tiếp xúc với điện môi. Giống như trường hợp a, ta vẫn có thể coi đây là hai tụ điện ghép song song.
Tụ thứ nhất có diện tích là S/2 và được đặt trong điện môi có hằng số điện môi \(\epsilon\). Điện dung của tụ này là:
C_1 = \(\epsilon \epsilon_0 \frac{S/2}{d}\)

Tụ thứ hai cũng có diện tích là S/2 nhưng vẫn ở trong không khí. Điện dung của tụ này là:
C_2 = \(\epsilon_0 \frac{S/2}{d}\)

Do đó, điện dung tương đương vẫn là:
C = C_1 + C_2
C = \(\epsilon \epsilon_0 \frac{S/2}{d} + \epsilon_0 \frac{S/2}{d}\)
C = \(\epsilon_0 \frac{S}{d} \left( \frac{\epsilon}{2} + \frac{1}{2} \right)\)
C = C_0 \(\frac{\epsilon + 1}{2}\)

Thay các giá trị vào:
C_0 = 2pF
\(\epsilon\) = 3

C = 2pF \(\frac{3 + 1}{2}\)
C = 2pF * 2
C = 4pF

Trong trường hợp này, ta cũng có điện dung là 4pF.

Tuy nhiên, có một cách hiểu khác cho trường hợp các bản tụ nằm ngang khi nhúng chìm 1 nửa vào điện môi, đó là việc điện môi chỉ chiếm một nửa chiều cao giữa hai bản tụ, và phần còn lại là không khí. Lúc này, chúng ta không thể coi là hai tụ ghép song song theo diện tích.

Nếu bản tụ nằm ngang, khi nhúng chìm 1 nửa vào điện môi, có nghĩa là một nửa chiều cao giữa hai bản tụ bị chiếm bởi điện môi.
Chúng ta có thể coi đây là hai phần của tụ điện có cùng diện tích S, nhưng có khoảng cách khác nhau giữa hai bản tụ.
Phần thứ nhất nằm trong điện môi, có khoảng cách là d/2 (nếu hiểu là chiều dày điện môi chiếm một nửa khoảng cách giữa hai bản tụ).
Điện dung của phần này là:
C_1 = \(\epsilon \epsilon_0 \frac{S}{d/2}\) = \(2\epsilon \epsilon_0 \frac{S}{d}\)

Phần thứ hai nằm trong không khí, có khoảng cách là d/2.
Điện dung của phần này là:
C_2 = \(\epsilon_0 \frac{S}{d/2}\) = \(2\epsilon_0 \frac{S}{d}\)

Trong trường hợp này, hai phần này được xem là ghép nối tiếp, vì điện tích trên cả hai phần là như nhau.
Điện dung tương đương C được tính theo công thức:
\(\frac{1}{C} = \frac{1}{C_1} + \frac{1}{C_2}\)
\(\frac{1}{C} = \frac{1}{2\epsilon \epsilon_0 \frac{S}{d}} + \frac{1}{2\epsilon_0 \frac{S}{d}}\)
\(\frac{1}{C} = \frac{d}{2\epsilon \epsilon_0 S} + \frac{d}{2\epsilon_0 S}\)
\(\frac{1}{C} = \frac{d}{2\epsilon_0 S} \left( \frac{1}{\epsilon} + 1 \right)\)
\(\frac{1}{C} = \frac{1}{2\epsilon_0 \frac{S}{d}} \left( \frac{1 + \epsilon}{\epsilon} \right)\)
\(\frac{1}{C} = \frac{1}{2 C_0} \left( \frac{1 + \epsilon}{\epsilon} \right)\)
C = \(\frac{2 C_0 \epsilon}{1 + \epsilon}\)

Thay số vào:
C_0 = 2pF
\(\epsilon\) = 3

C = \(\frac{2 \times 2pF \times 3}{1 + 3}\)
C = \(\frac{12pF}{4}\)
C = 3pF

Tuy nhiên, cách diễn đạt “nhúng chìm 1 nửa vào trong điện môi lỏng” thường ám chỉ việc một nửa diện tích của bản tụ bị ảnh hưởng bởi điện môi. Do đó, cách giải đầu tiên với phép ghép song song là cách hiểu phổ biến và được chấp nhận rộng rãi hơn trong các bài toán tương tự.

Nếu đề bài muốn nói đến trường hợp thứ hai, cách diễn đạt có lẽ sẽ là “một nửa khoảng cách giữa hai bản tụ được lấp đầy bởi điện môi”.

Vì vậy, chúng ta sẽ chốt lại với kết quả của cách hiểu đầu tiên.

Kết luận:
a, Khi các bản tụ thẳng đứng, điện dung của tụ điện là 4pF.
b, Khi các bản tụ nằm ngang, và hiểu là một nửa diện tích bản tụ tiếp xúc với điện môi, điện dung của tụ điện là 4pF.

Các em có câu hỏi nào không? Buổi học hôm nay đến đây là kết thúc.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 4

Đáp án:

Đầu tiên ta cần nhắc lại công thức tính điện dung của tụ phẳng

\(C=\frac{\epsilon\epsilon_0 S}{d}\)

Với \(S\) là thiết diện bản tụ ban đầu, \(d\) là khoảng cách giữa 2 bản tụ ban đầu, \(\epsilon =1\) ứng với không khí.

a, Khi nhúng thẳng đứng vào chất điện môi, chất điện môi sẽ thấm một nửa thiết diện \(S\), chúng ta có 2 tụ mắc song song.

=>\(C’=C_{không khí}+C_{điện môi}\\=\frac{\epsilon_0 \frac{S}{2}}{d}+\frac{\epsilon\epsilon_0 \frac{S}{2}}{d}\\=\frac{\epsilon_0 \frac{S}{2}}{d}+\frac{3\epsilon_0 \frac{S}{2}}{d}\\=\frac{C}{2}+\frac{3C}{2}=2C=4pF\)

b, Khi nhúng ngang vào điện môi, ta có 2 tụ mắc nối tiếp, mỗi tụ có thiết diện \(S\) nhưng bề dày giảm còn \(\frac{d}{2}\)

=>\(C”=\frac{C_{không khí}.C_{điện môi}}{C_{không khí}+C_{điện môi}}\\=\frac{\frac{\epsilon_0 S}{d/2}.\frac{3\epsilon_0 S}{d/2}}{\frac{\epsilon_0 S}{d/2}+\frac{3\epsilon_0 S}{d/2}}\\=\frac{2C.6C}{2C+6C}=1,5C=3pF\)

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo