Vẽ sơ đồ với những luận điểm bài “Chí Phèo” đưa ra dẫn chứng kèm
– người nông dâ…
– người nông dân lương thiện
– Bị tha hóa + nhân hình
+ nhân tính
– Thức tỉnh + tỉnh rượu
+ tỉnh ngô
– Bị cự tuyệt quyền làm người + bị cự tuyệt
+ phản kháng
Chúng ta sẽ đi từng bước một, giống như cách chúng ta khai thác một văn bản vậy.
Bước 1: Xác định chủ đề chính của sơ đồ.
Chủ đề chính ở đây chính là Chí Phèo – Quá trình tha hóa và khát vọng lương thiện. Toàn bộ sơ đồ sẽ xoay quanh hành trình bi kịch của nhân vật Chí Phèo, từ một con người lương thiện bị đẩy vào con đường tội lỗi, đến khát vọng được làm người và bi kịch cuối cùng.
Bước 2: Phân chia các nhánh chính dựa trên yêu cầu đề bài.
Đề bài đã cho chúng ta những ý chính rất rõ ràng. Chúng ta sẽ lần lượt xây dựng các nhánh chính này trên sơ đồ của mình.
Nhánh 1: Người nông dân lương thiện.
Đây là điểm khởi đầu, là bản chất vốn có của Chí Phèo trước khi bị xã hội vùi dập.
* Dẫn chứng:
* Giới thiệu về Chí Phèo thời trai trẻ: “hắn không bao giờ làm ra tiền được”, “cả đời làm phúc phải chịu”, “hắn chỉ ăn cháo hành”, “hắn sống lành”.
* Khái niệm “lương thiện” ở đây không phải là sự giàu có, mà là sự mộc mạc, hiền lành, không làm hại ai. Chí Phèo thời này có một cuộc sống nghèo khó nhưng bình yên, có ý thức về đạo đức, có tình làng nghĩa xóm.
* Sự tự tôn, dù nghèo khổ vẫn giữ cái “khôn” của người nhà quê.
Nhánh 2: Bị tha hóa + nhân hình + nhân tính.
Đây là giai đoạn bi kịch nhất, khi Chí Phèo đánh mất đi con người thật của mình.
* Dẫn chứng:
* Bị tha hóa:
* Nguyên nhân: Bị Bá Kiến đày đọa, đẩy vào tù, và sau đó bị biến thành công cụ cho Bá Kiến. Xã hội thực dân nửa phong kiến tàn bạo đã bóp nghẹt và biến con người.
* Quá trình: Từ một anh canh điền hiền lành trở thành tay sai của Bá Kiến, chuyên đi rạch mặt, ăn vạ, đâm chém thuê.
* Biểu hiện: Sống lay lắt, vô nghĩa, chỉ biết đến rượu, thịt, tiền và những hành động tội lỗi. “Cái đầu trọc lốc, răng cạo trắng hớn, mặt đen mà rất ứng, hai mắt gườm gườm”, “rách như tổ đỉa”.
* Nhân hình:
* Ngoại hình biến dạng, xấu xí, giống như quỷ dữ, không còn giống một con người.
* Miêu tả chi tiết: “đầu trọc lốc”, “răng cạo trắng hớn”, “mặt đen mà rất ứng”, “hai mắt gườm gườm”, “cái mũi để sống như con ròi”, “hai mắt gườm gườm”, “lồng ngực nở nang”, “cái đầu hói”, “sẹo chằng chịt”.
* Sự biến dạng về ngoại hình phản ánh sự biến dạng về tâm hồn.
* Nhân tính:
* Mất đi ý thức về đạo đức, lương tâm, tình người. Sống theo bản năng tội lỗi.
* “hắn ăn cướp, ăn cướp, ăn cướp”.
* Không còn biết yêu thương, ghét bỏ một cách lành mạnh, chỉ còn sự chai sạn, vô cảm hoặc những cảm xúc méo mó.
Nhánh 3: Thức tỉnh + tỉnh rượu + tỉnh ngô.
Đây là khoảnh khắc quan trọng, đánh dấu sự trở lại của nhân tính trong Chí Phèo, dù chỉ là thoáng qua.
* Dẫn chứng:
* Tỉnh rượu:
* Sự kiện: Chí Phèo say rượu trở về nhà, gặp Thị Nở. Qua đêm với Thị Nở, Chí Phèo cảm thấy lòng mình “trở lại với những gì đã mất”.
* Biểu hiện: “cảm thấy những gì là tốt đẹp hơn”, “tỉnh ra”, “đã thấy rằng mình không còn là con quỷ dữ dữ tợn như trước nữa”.
* Cảm giác thanh lọc tâm hồn, sự trở về với những gì xưa cũ.
* Tỉnh ngô:
* Diễn biến: Sau đêm với Thị Nở, Chí Phèo cảm thấy yêu đời, khao khát một cuộc sống lương thiện. Hắn nhìn thấy mâu thuẫn trong chính mình, nhận ra mình không còn là con quỷ.
* Biểu hiện: “hắn thèm lương thiện”, “hắn muốn làm hòa với mụ Hương”, “hắn muốn làm hòa với cả mọi người ở cái xóm này”.
* Sự nhận thức sâu sắc về bản thân, về bi kịch của mình, khát vọng quay về với con người cũ. “Đột nhiên hắn thấy nhẹ nhàng như người ta trút được một gánh nặng”.
Nhánh 4: Bị cự tuyệt quyền làm người + bị cự tuyệt + phản kháng.
Đây là đỉnh điểm của bi kịch, khi khát vọng lương thiện bị xã hội dập tắt hoàn toàn.
* Dẫn chứng:
* Bị cự tuyệt quyền làm người:
* Nguyên nhân: Sự gặp gỡ với bà cô Thị Nở, sự khinh bỉ của bà cô, sự từ chối của Thị Nở vì “không có cái mầm mống gì của con người”.
* Biểu hiện: Chí Phèo bị tước đi cả những điều cơ bản nhất của một con người, ngay cả khi hắn đã khao khát lương thiện. “những người lương thiện không bao giờ cầu viện đến messy – sự khát khao đó của hắn đã bị cự tuyệt”.
* Sự bế tắc tuyệt đối.
* Bị cự tuyệt:
* Sự từ chối của xã hội, của Thị Nở đối với Chí Phèo khi hắn muốn trở lại làm người. “hắn đã bị cụ tuyệt bởi tất cả mọi thứ”.
* Sự cô đơn, lạc lõng.
* Phản kháng:
* Hành động: Chí Phèo cầm dao đến nhà Bá Kiến để đòi quyền sống, đòi “giết cả làng”. Đây là hành động phản kháng tuyệt vọng của con người bị dồn vào bước đường cùng.
* Biểu hiện: “vừa nói vừa lảm nhảm”, “hắn lảm nhảm cái gì đó, có lúc chửi, có lúc lại nguyền rủa, có lúc lại gọi tên Bá Kiến”.
* Lời thoại “Tao muốn làm người lương thiện! Ai cho tao lương thiện?”. Đây là tiếng kêu ai oán, bi thương, và là lời tố cáo đanh thép nhất đối với xã hội đã đẩy con người vào con đường tội lỗi.
* Kết cục: Chí Phèo tự sát, giết Bá Kiến, đánh dấu sự kết thúc bi thảm.
Bước 3: Liên kết các nhánh và hoàn thiện sơ đồ.
Sau khi có đầy đủ các nhánh và dẫn chứng, chúng ta sẽ tiến hành vẽ sơ đồ.
* Trung tâm: Chí Phèo – Quá trình tha hóa và khát vọng lương thiện.
* Các nhánh chính:
* Người nông dân lương thiện
* Bị tha hóa (Nhân hình + Nhân tính)
* Thức tỉnh (Tỉnh rượu + Tỉnh ngô)
* Bị cự tuyệt quyền làm người (Bị cự tuyệt + Phản kháng)
* Các nhánh phụ: Từ mỗi nhánh chính, chúng ta sẽ phát triển các dẫn chứng cụ thể, sử dụng các câu văn, hình ảnh tiêu biểu trong tác phẩm.
* Màu sắc và hình ảnh: Để sơ đồ thêm sinh động, chúng ta có thể sử dụng màu sắc khác nhau cho mỗi nhánh, hoặc thêm các biểu tượng nhỏ minh họa. Ví dụ, nhánh “bị tha hóa” có thể dùng màu tối, nhánh “thức tỉnh” dùng màu sáng hơn.
Lưu ý khi vẽ sơ đồ:
* Sử dụng từ khóa ngắn gọn, dễ nhớ.
* Liên kết chặt chẽ các ý.
* Đảm bảo tính logic, tuần tự của câu chuyện.
Bằng cách vẽ sơ đồ này, các em sẽ thấy được toàn bộ bức tranh về bi kịch của Chí Phèo, hiểu rõ hơn về giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm. Đây là một phương pháp học tập rất hiệu quả, giúp các em ghi nhớ kiến thức sâu sắc và lâu hơn.
Các em có thể bắt đầu vẽ sơ đồ của mình dựa trên những hướng dẫn chi tiết này. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, đừng ngần ngại hỏi cô nhé!
– Người nông dân lương thiện: Chí Phèo vốn là một người nông dân hiền lành, chân chất.
– Bị tha hóa nhân hình, nhân tính: Chí Phèo bị xã hội phong kiến bóc lột, chèn ép trở thành “con quỷ làng Vũ Đại”. Bá Kiến – đại diện cho bọn cường hào ác bá đã đẩy Chí Phèo vào tù, biến Chí từ một nông dân tốt bụng trở thành một tên du côn và trở thành tay sai đắc lực cho bọn cường hào trong làng. Chí Phèo sống gần như vô thức, bị xã hội ruồng bỏ, bị tước đoạt quyền làm người, bị tước đoạt cả nhân hình lẫn nhân tính. Và cứ thế, Chí Phèo chìm trong những cơn say, hắn chẳng bao giờ tỉnh, và có lẽ hắn cũng chưa bao giờ tỉnh táo để nhớ mình còn sống ở trên đời.
– Thức tỉnh: Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở chỉ rất ngắn ngủi nhưng đã làm thay đổi cỏa con người hắn. Chí đã có nhận thức về thời gian, hắn đã cảm thấy buổi sáng rực rỡ hơn: “Khi Chí Phèo mở mắt thì trời đã sáng lâu. Mặt trời chắc đã cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cứ nghe chim ríu rít bên ngoài là đủ biết.” Hắn cũng đã sự thay đổi trong suy nghĩ, tư tưởng: “Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh. Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn.” Một người nghiện rượu như hắn mà sợ rượu cho thấy một sự thay đổi rõ rệt trong tâm hồn. Hắn cũng bắt đầu sợ cô đơn, sợ chết. Hắn đang khao khát sống, khao khát mãnh liệt. Hôm nay hắn mới nghe thấy và lòng thấy buồn nôn nao. Hắn buồn vì hắn muốn được trở lại làm người và liệu có thể được làm người hay không. Hắn dần nhận biết ra bi kịch của cuộc đời mình, đó là đói rét, già nua và ốm đau cô độc. Hắn đã thức tỉnh thật sự, thức tỉnh phần lương tri con người và có cảm xúc đời thường. Một con người tưởng chừng đã mất hết nhân hình và nhân tính nhưng đã thức tỉnh, đồng thời cho thấy giá trị nhân đạo trong sáng tác của Nam Cao.
“- Ai cho tao lương thiện? Làm sao để xóa hết được những mảnh chai trên khuôn mặt này…?”Trước khi đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình, Chí Phèo – nhân vật trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, đã hét lên như thế. Câu chuyện của một con người đi đòi lương thiện, đòi xóa những mảnh chai trên khuôn mặt chính mình trong thiên truyện đã khiến bao thế hệ bạn đọc thổn thức trong rất nhiều thập kỉ qua. Nông nỗi nào đẩy con người ấy vào tình cảnh trớ trêu ấy? Trong truyện ngắn được coi là kiệt tác của Nam Cao – Chí Phèo, người đọc đã tìm thấy câu trả lời. Đó chính là quá trình tha hóa của nhân vật Chí Phèo, từ một anh nông dân hiền lành chất phác thành con người tha hóa cả về tâm hồn lẫn ngoại hình, tuy vậy Chí vẫn còn nhân tính.
Chí Phèo ra đời vào năm 1941, khi mà những tác phẩm về đề tài người nông dân đã trở nên quá cũ. Thậm chí để tăng sự hấp dẫn, tò mò đối với người đọc, một nhà xuất bản còn thay đổi nó với cái tên hợp thời hơn Đôi lứa xứng đôi. Nhưng không, bằng tài năng và sự sáng tạo độc đáo của mình, Nam Cao đã viết nên số phận của người nông dân với những nét riêng và khác biệt. Ngay từ tên nhan đề sau này ông đặt lại là Chí Phèo cũng đã gợi cho người đọc về một hiện tượng của xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám – 1945. Từ Chí biến thành Chí Phèo là cả một câu chuyện về cuộc đời của một con người trượt dài trên cái dốc của tha hóa. Đến khi muốn dừng lại, muốn quay đầu mà không thể được nữa.
Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu con người ta sinh ra trong hoàn cảnh thiệt thòi, thiếu may mắn để rồi sa ngã, biến chất. Đó là do hoàn cảnh sinh ra không có cha mẹ, không có người dạy bảo, nuôi dưỡng tử tế. Rất nhiều định kiến như thế đã hình thành trong tư duy của mỗi chúng ta từ lâu. Nhưng với trường hợp của Chí trong tác phẩm này thì khác. Bất hạnh ngay từ lúc sinh ra. Trong bộ dạng trần truồng, xám xịt ở cái lò gạch cũ, Chí cứ từng ngày lớn lên bằng cách truyền tay nhau của người làng. Lúc thì anh bị đem cho, khi thì bị đem bán rồi cũng lớn lên trở thành một thanh niên hai mươi tuổi vạm vỡ, khỏe khoắn và làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Nhìn nhận ở năng lực vươn lên của con người trong hoàn cảnh như thế, Chí là chàng trai đầy nghị lực. Không gia đình, không nhà cửa, không tấc đất cắm dùi, thân phận thì ở đợ, làm nô bộc cho nhà giàu. Vậy mà tâm tính lại tốt. Biết ước mơ về một cuộc sống bình dị, giản đơn mà hạnh phúc: chồng cày thuê, cuốc mướn, vợ dệt vải. Biết nhục nhã, xấu hổ khi bị bà ba – vợ Bá Kiến, dụ dỗ, sàm sỡ. Trước khi bước vào tác phẩm với bộ dạng say khướt, vừa đi vừa chửi, Chí đã là một anh cố nông hiền lành, chất phác, lương thiện như thế.
Nhưng thói đời cơ cực lại thường hay giơ vuốt, con người tốt tính đến đâu nếu không tự mình gian trá, lọc lừa mà sống trong hoàn cảnh ấy thì cũng sẽ bị nó xô cuốn đi mà vùi dập cho đến khi còn chẳng nhận ra là người. Đánh giá một cách khách quan, xã hội thực dân nửa phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám – 1945 là thói đời như thế. Người đọc vẫn bàn tán rằng, cơn ghen vu vơ của Bá Kiến sẽ rất đỗi bình thường nếu ông ta cũng chỉ là một người nông dân của làng Vũ Đại. Nhưng nó lại trở thành cơn thịnh nộ cùng cực của một kẻ háo sắc đã làm đến chức vụ cao nhất ở nơi đây. Vậy là quyền sinh, quyền sát trong tay, muốn cho ai sống thì sống, muốn cho ai chết thì chết, hoặc tàn nhẫn hơn thì có kẻ còn sống không bằng chết. Cơn ghen ấy trở thành hiểm họa, bàn đạp để đẩy Chí lao vào guồng quay của sự tha hóa. Mà trước hết là tha hóa về nhân hình.
Nhà tù thực dân đã nhanh chóng biến anh Chí ngày nào trở thành một tên côn đồ, một tên lưu manh ngay từ dáng vẻ bên ngoài. Chính nhà văn Nam Cao phải hai lần thốt lên trông gớm chết khi miêu tả bộ dạng của anh ta sau bảy, tám năm ở tù về. Cái đầu trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mắt gườm gườm, cái mặt rất cơng cơng, mặc cái áo tây vàng, cái quần nái đen, ngực và cánh tay trạm trổ đầy những ông tướng cầm chùy. Người ta không còn nhận ra anh canh điền hiền lành, lương thiện ngày nào nữa. Nhưng đã là gì, dáng vẻ ấy còn chưa khiến họ cảm thấy bắt đầu sợ Chí, kinh hãi Chí và hoàn toàn xa lánh Chí cho đến khi hắn dần dần có những hành động mất hết nhân tính.
Mới ở tù về mà hắn đã ngồi uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến chiều. Và rồi từ đấy, ngày nào người ta cũng thấy hắn say. Chí làm náo loạn cả làng Vũ Đại với những trận say điên cuồng, lảo đảo xách chai đến nhà Bá Kiến mà chửi bới, mà ăn vạ. Hành động uống rượu say đã đẩy hắn đi xa hơn người ta tưởng. Ban đầu Chí chỉ làm trong vô thức, say để chửi Bá Kiến nhưng dần dần say để vòi vĩnh, để đòi lợi ích cho bản thân. Muốn vậy Chí tình nguyện biến mình trở thành tay sai cho Bá Kiến. Bao nhiêu gia đình tan hoang bởi Chí, máu cũng đã đổ, Chí đã trở nên ngang ngược, hung hãn trong những cơn say triền miên. Chẳng biết tự lúc nào Chí đã bán linh hồn cho quỷ dữ. Từ việc bị đẩy nhưng rồi Chí tự trượt dài trên cái dốc của sự tha hóa. Chí mất hết tính người và người làng Vũ Đại cũng chẳng ai coi Chí là người. Chí trở thành Chí Phèo – một phần thừa thãi, bỏ đi của xã hội. Vậy nên những gì Chí Phèo làm ngay từ khi mở đầu tác phẩm đó là chửi nhưng cũng chẳng ai thèm đáp trả. Tiếng hắn chửi cũng chỉ như tiếng những con vật bình thường của cuộc sống, chẳng ai buồn nghe, buồn đáp lại.
Đó cũng là lúc Chí đã hoàn toàn rơi xuống vực sâu của sự tha hóa. Nỗi cô độc tuyệt cùng ấy Chí không thể giải tỏa được cùng ai, Chí đã bị đẩy ra khỏi thế giới loài người, ra ngoài rìa của xã hội. Sự tha hóa của Chí là một sự phản ánh chân thực, nghiệt ngã nhất về xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Đồng thời cũng là lời tố cáo mạnh mẽ những kẻ tàn nhẫn, độc ác đã cố tình đẩy Chí và lợi dụng Chí để biến anh thành con quỷ của làng Vũ Đại. Chân dung ấy của anh chính là hiện thân cho nỗi thống khổ lớn nhất của người nông dân trong xã hội lúc bây giờ.
Nhưng dưới ngòi bút nhân đạo của Nam Cao, Chí Phèo không hề đơn độc. Trong cơn cùng cực của cuộc đời, Chí được nhà văn khơi dậy phần người ít ỏi còn sót lại. Tiếng chửi trong hình hài của con quỷ dữ ấy ẩn chứa những thèm khát vô cùng được trở về thế giới loài người. Đó là tiếng gào thét của một con người đã chót bán linh hồn cho quỷ dữ. Nam Cao như đồng cảm, thấu hiểu điều ấy dù giọng văn có phần sắc lạnh. Đây chính là căn nguyên để Chí hoàn toàn thức tỉnh, trỗi dậy khát vọng hoàn lương sau cái đêm định mệnh gặp Thị Nở. Thực chất bản tính lương thiện của Chí không hề mất đi, mà nó chỉ tạm thời bị vùi sâu, âm ỉ. Nếu không còn nhân tính, Chí chẳng thể nhận ra một cuộc đời đắng cay với quá khứ tưởng như bình yên mà đầy nhục nhã, với hiện tại già nua, cô độc và với tương lai mờ mịt, đáng sợ bởi sự cô độc. Chí cũng chẳng thể nghe được những âm thanh, cảm nhận được những hương vị của cuộc sống nếu vẫn cứ triền miên trong những cơn say. Chí càng không thể cảm nhận được vị ngon của tình người qua bát cháo hành…
Bao cảm xúc, suy tư của một con người lại trỗi dậy, Chí ao ước, khao khát được quay về xã hội bằng phẳng của loài người. Rồi ngay cả khi niềm hi vọng ngắn ngủi ấy nhanh chóng bị dập tắt bởi định kiến, Chí vẫn mơ tưởng. Hành động đòi lương thiện, đòi xóa những mảnh chai trên mặt trước Bá Kiến là một việc làm đầy dũng cảm. Không phải là con người sao Chí dám dõng dạc mà cất tiếng như thế. Thực chất, đó là nỗi đau của đời Chí. Bi kịch không được làm người đẩy Chí đến một hành vi quả quyết, giết kẻ thù và tự kết liễu đời mình. Đó là cách duy nhất Chí có thể làm lúc này để minh chứng cho khát vọng làm người của anh là có thật. Đây không phải là hành vi của một con quỷ, mà đó là sự bế tắc, đau đớn không có sự lựa chọn nào khác của một con người. Phần nhân tính của Chí đã trỗi dậy mạnh mẽ, Chí đã hồi sinh.
Quá trình tha hóa của Chí Phèo là bước miêu tả quá chân thực về số phận người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám – 1945. Từ một người nông dân hiền lành, chất phác, Chí biến thành một con quỷ của làng Vũ Đại. Đó là tiếng chuông tiếp tục cảnh tỉnh con người về một xã hội tàn nhẫn, bất công và vô nhân đạo. Nhưng Nam Cao đã để ngòi bút chan chứa tình yêu thương của mình khai thác, khám phá và khẳng định bản chất lương thiện trong con người anh. Dù Chí Phèo chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời, nhưng chắc chắn người ta đã cảm thông, đã tin về phần nhân tính vẫn còn trong con người anh.