vì sao giai đoạn 1954-1960 gọi là chiến tranh 1 phía hay thường gọi là chiến tranh đơn Phương
Chào các em học sinh thân mến,
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về một giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và bi tráng của dân tộc ta, đó là giai đoạn 1954-1960, thường được gọi là “chiến tranh một phía” hay “chiến tranh đơn phương”. Để giải thích rõ điều này, chúng ta cần phân tích tình hình cụ thể của miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954.
Phương pháp giải:
Để giải thích được câu hỏi này, chúng ta sẽ áp dụng phương pháp phân tích lịch sử, cụ thể là:
- Xác định bối cảnh chính trị – xã hội của miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ.
- Phân tích hành động của chính quyền Ngô Đình Diệm và lực lượng cách mạng miền Nam trong giai đoạn 1954-1960.
- So sánh tính chất của các hành động đó để làm rõ sự “một phía” hay “đơn phương” của cuộc chiến.
Lý do áp dụng phương pháp này là vì nó giúp chúng ta xâu chuỗi các sự kiện, hành động của các bên liên quan một cách logic, từ đó rút ra bản chất và tên gọi của giai đoạn lịch sử đó một cách chính xác nhất theo kiến thức lịch sử lớp 9.
Lời giải chi tiết:
Bước 1: Bối cảnh sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954.
Sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết vào tháng 7 năm 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền: miền Bắc được giải phóng và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam do chính quyền Ngô Đình Diệm quản lý, được sự hậu thuẫn của đế quốc Mĩ. Theo Hiệp định, lẽ ra phải tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào tháng 7 năm 1956. Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm đã từ chối thực hiện tổng tuyển cử.
Bước 2: Hành động của chính quyền Ngô Đình Diệm và lực lượng cách mạng miền Nam.
- Hành động của chính quyền Ngô Đình Diệm:
Với sự giúp sức của Mĩ, chính quyền Ngô Đình Diệm đã ra sức xây dựng chính quyền độc tài, tiến hành các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” quy mô lớn ở khắp miền Nam. Mục tiêu là tiêu diệt các lực lượng cách mạng, đặc biệt là những cán bộ, đảng viên cộng sản, những người yêu nước từng tham gia kháng chiến chống Pháp còn ở lại miền Nam.
Chính quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều thủ đoạn tàn bạo:- Ban hành các đạo luật hà khắc như “Luật 10/59” (ban hành năm 1959), cho phép bắt bớ, tra tấn, thủ tiêu những người bị nghi là cộng sản mà không cần xét xử.
- Mở các chiến dịch càn quét, khủng bố, lập các nhà tù, trại giam khắp miền Nam (như nhà tù Côn Đảo, Phú Lợi…).
- Thực hiện các vụ thảm sát, điển hình là vụ thảm sát ở Phú Lợi (1958).
- Buộc những người từng tham gia kháng chiến phải “ra trình diện”, “khai báo”, gây cảnh ly tán, đau khổ cho hàng trăm nghìn gia đình.
Những hành động này đã gây ra những tổn thất nặng nề cho lực lượng cách mạng và quần chúng nhân dân miền Nam.
- Hành động của lực lượng cách mạng miền Nam:
Trong giai đoạn 1954-1960, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) chủ trương chỉ đạo lực lượng cách mạng miền Nam tập trung vào đấu tranh chính trị.
Cụ thể:- Yêu cầu chính quyền Sài Gòn và Mĩ phải thi hành Hiệp định Giơnevơ, tổ chức tổng tuyển cử.
- Đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chống lại các chính sách đàn áp của chính quyền Ngô Đình Diệm.
- Cố gắng bảo toàn lực lượng, giữ vững cơ sở cách mạng trong điều kiện bị khủng bố, đàn áp ác liệt.
Trong giai đoạn này, lực lượng cách mạng miền Nam chưa được phép tiến hành đấu tranh vũ trang quy mô lớn, mà chủ yếu phải chịu đựng sự đàn áp, khủng bố của địch. Họ chỉ tự vệ cục bộ khi bị tấn công.
Bước 3: Giải thích vì sao gọi là “chiến tranh một phía” hay “chiến tranh đơn phương”.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể thấy rõ:
- Một bên (chính quyền Ngô Đình Diệm được Mĩ hậu thuẫn) đã chủ động phát động các chiến dịch tấn công, đàn áp, khủng bố, giết hại dã man lực lượng cách mạng và nhân dân miền Nam bằng bạo lực vũ trang. Đây là phía chủ động “gây chiến” và tiến hành chiến tranh.
- Bên còn lại (lực lượng cách mạng miền Nam) chủ yếu thực hiện đấu tranh chính trị, đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, và tìm cách tự bảo vệ, bảo toàn lực lượng trong tình thế bị động, chịu đựng sự đàn áp, khủng bố. Họ chưa tiến hành đấu tranh vũ trang một cách có tổ chức, quy mô lớn để chống lại.
Do đó, trong giai đoạn 1954-1960, chỉ có một phía là chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng bạo lực vũ trang để tiêu diệt đối phương, trong khi phía cách mạng chủ yếu đấu tranh bằng biện pháp chính trị và bị động hứng chịu. Sự mất cân đối, không cân sức về mặt hành động quân sự này đã khiến giai đoạn đó được gọi là “chiến tranh một phía” hay “chiến tranh đơn phương”.
Giai đoạn này chỉ chấm dứt khi Đảng Lao động Việt Nam, trước tình hình nhân dân miền Nam bị đàn áp quá tàn bạo, vào tháng 1 năm 1959 đã ra Nghị quyết 15, cho phép lực lượng cách mạng miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Điều này đã dẫn đến phong trào Đồng Khởi (cuối năm 1959 – đầu 1960), mở đầu cho một giai đoạn đấu tranh mới, chuyển sang hình thức đấu tranh quân sự song song với đấu tranh chính trị.
Mong rằng qua lời giải chi tiết này, các em đã hiểu rõ hơn về giai đoạn lịch sử quan trọng này.
Vì đó là cách gọi “châm biếm” của những nhà báo thời bấy giờ để đả kích những hành động quân sự mang tính 1 chiều từ phía Mỹ, trong khi Miền Nam nước ta chưa hề có 1 lực lượng quân sự nào (có thể nói là tay không) mà Miền Bắc lúc bấy giờ lại chủ trương đấu tranh hòa bình kết hợp với đấu tranh chính trị để yêu cầu phía Mỹ và những bên liên quan tuân thủ theo đúng hiệp định Giơnevơ đã ký kết..
=> như vậy trong khi nước ta vẫn đang chấp hành tốt những nội dung trong hiệp định Giơnevơ thì Mỹ-Diệm lại liên tục dùng những hành động quân sự, không chấp hành hiệp định ( tức là 1 phía thì đang tay không, 1 phía thì hùng dũng lực lượng ào ào càn quét..) và cách gọi “châm biếm” trên đã phần nào phản ánh được bản chất cũng như hành động của Mỹ-Diệm nên khái niệm “chiến lược chiến tranh đơn phương” được sử dụng rộng rãi tới giờ.
Về thời gian tồn tại của nó như Thu Hoàng đã nói từ năm 1954 đến 1960. Tức là sau hiệp định Giơnevơ đến sau phong trào Đồng Khởi.