XUÂN
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi, tất cả …
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi, tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Ai đâu trở lại mùa thu trước
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng?
Với của hoa tươi, muôn cánh rã
Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!
Ai biết hồn tôi say mộng ảo
Ý thu góp lại cản tình xuân?
Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!
Có đứa trẻ thơ không biết khóc
Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran!
Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ!
Một cánh chim thu lạc cuối ngàn
(Vũ Thị Thường, Chế Lan Viên toàn tập, NXB Văn học, Hà Nội, 2002, trang 224)
PHẦN ĐỌC HIỂU: 6 điểm
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ?
Câu 2. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 3. Chủ thể trữ tình trong bài thơ là ai?
Câu 4. Nhân vật trữ tình đã thể hiện những cảm xúc gì với mùa xuân?
Câu 5. Chỉ ra ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh xuân và thư trong bài thơ.
Câu 6. Hãy kể tên một bài thơ khác viết về đề tài mùa xuân và nêu tên tác giả của tác phẩm đó.
Câu 7. Nhận xét về bức tranh đời sống và tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai dòng thơ:
Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!
Câu 8. Anh/ Chị có đồng ý với trạng thái mong chờ của nhân vật trữ tình ở cuối bài thơ không? Vì sao?
Câu 9. So sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ sau:
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi, tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
(Trích Xuân của Chế Lan Viên)
Của ong bướm này đây tuần trăng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
PHẦN ĐỌC HIỂU: 6 điểm
Câu 1. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ?
Để xác định phương thức biểu đạt chính, chúng ta cần xem xét bài thơ tập trung vào việc bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ hay kể chuyện, miêu tả.
* Quan sát bài thơ, chúng ta thấy giọng thơ chủ yếu là lời tâm sự, bày tỏ nỗi lòng, cảm xúc cá nhân của nhân vật trữ tình. Các câu thơ thể hiện sự u uất, sầu bi, sự vô nghĩa của cuộc sống, nỗi mong nhớ tha thiết.
* Ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu sức gợi nhưng mục đích chính không phải là để tả cảnh hay kể chuyện.
Vậy, phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài thơ là biểu cảm.
Câu 2. Bài thơ trên được viết theo thể thơ nào?
Chúng ta cần xem xét cấu trúc, vần điệu, nhịp điệu của bài thơ.
* Các câu thơ có độ dài không đồng đều nhau, không theo một quy luật cố định về số chữ (có câu 5 chữ, có câu 7 chữ, có câu 6 chữ).
* Vần không tuân theo một khuôn mẫu chặt chẽ của các thể thơ truyền thống như lục bát, song thất lục bát hay thất ngôn bát cú.
* Tuy nhiên, bài thơ vẫn có sự liên kết giữa các câu, các khổ thơ, thể hiện dòng chảy cảm xúc.
Đây là dấu hiệu của thể thơ thơ tự do.
Câu 3. Chủ thể trữ tình trong bài thơ là ai?
Chủ thể trữ tình là người đang bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ trong bài thơ.
* Bài thơ sử dụng các đại từ nhân xưng “tôi”, “với tôi”.
* Những cảm xúc, nỗi niềm được thể hiện đều là của “tôi”.
Do đó, chủ thể trữ tình trong bài thơ là cái tôi trữ tình của nhân vật suy tư, chán nản, cô đơn, không tìm thấy ý nghĩa trong cuộc sống và trong mùa xuân.
Câu 4. Nhân vật trữ tình đã thể hiện những cảm xúc gì với mùa xuân?
Chúng ta cần đọc kỹ các câu thơ để nhận diện thái độ, cảm xúc của nhân vật trữ tình đối với mùa xuân.
* Khổ 1: “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu / Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu? / Với tôi, tất cả như vô nghĩa / Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!” -> Nhân vật trữ tình không đón nhận mùa xuân, thậm chí còn trách móc mùa xuân mang đến sầu muộn, bi quan. Đối với nhân vật, mùa xuân càng làm nổi bật sự vô nghĩa, khổ đau của cuộc đời.
* Khổ 2: “Ai đâu trở lại mùa thu trước / Nhặt lấy cho tôi những lá vàng? / Với của hoa tươi, muôn cánh rã / Về đây, đem chắn nẻo xuân sang!” -> Nhân vật trữ tình muốn níu kéo quá khứ (mùa thu), muốn ngăn cản mùa xuân đến.
* Khổ 3: “Ai biết hồn tôi say mộng ảo / Ý thu góp lại cản tình xuân?” -> Cho thấy tâm hồn nhân vật chìm đắm trong quá khứ, trong những suy tư, mộng ảo của mùa thu, mà không thể đón nhận tình xuân.
Như vậy, nhân vật trữ tình thể hiện thái độ chán ghét, bi quan, thậm chí là oán trách mùa xuân. Mùa xuân đến không mang lại niềm vui mà ngược lại, càng làm nổi bật nỗi sầu, sự vô nghĩa, khổ đau trong lòng nhân vật. Nhân vật trữ tình không đón nhận mà còn muốn ngăn cản mùa xuân đến.
Câu 5. Chỉ ra ý nghĩa tượng trưng của hình ảnh xuân và thu trong bài thơ.
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xem xét vai trò của hai hình ảnh này trong việc thể hiện tâm trạng và tư tưởng của nhân vật.
* Xuân: Thường tượng trưng cho sự sống, sinh sôi, nảy nở, niềm vui, sự tươi mới. Tuy nhiên, trong bài thơ này, mùa xuân lại mang ý nghĩa hoàn toàn trái ngược. Nó không còn là mùa của sự sống mà trở thành biểu tượng cho sự vô nghĩa, sự gợi nhắc nỗi sầu, sự đau khổ và sự tàn khốc của thời gian, của cuộc đời khi tâm hồn nhân vật đang chìm trong bi quan. Xuân “gợi thêm sầu”, “chắn nẻo xuân sang” cho thấy sự đối lập gay gắt.
* Thu: Thường tượng trưng cho sự lãng mạn, nỗi buồn man mác, sự suy tư. Trong bài thơ này, mùa thu lại được nhân vật trữ tình níu giữ, khao khát. Nó có thể tượng trưng cho thời gian đã qua, cho những ký ức, cho nỗi buồn và sự tĩnh lặng mà nhân vật đang chìm đắm, tìm kiếm sự đồng cảm hoặc là nơi trú ẩn khỏi cái xuân “gợi sầu”. “Lá vàng”, “hoa tươi muôn cánh rã” có thể là biểu tượng cho sự tàn phai, úa tàn của mùa thu, nhưng lại là thứ nhân vật muốn giữ lại. “Ý thu” góp lại “cản tình xuân” cho thấy sự xung đột giữa thực tại đau khổ và tâm trạng chìm đắm trong quá khứ.
Câu 6. Hãy kể tên một bài thơ khác viết về đề tài mùa xuân và nêu tên tác giả của tác phẩm đó.
Đây là câu hỏi kiểm tra kiến thức văn học ngoài bài. Có rất nhiều bài thơ hay viết về mùa xuân.
* Một bài thơ tiêu biểu là bài “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh.
* Hoặc có thể kể đến “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.
* Hay bài “Vội vàng” của Xuân Diệu với những câu thơ miêu tả vẻ đẹp rực rỡ của mùa xuân.
Chúng ta có thể chọn một trong các bài đó. Ví dụ: Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của tác giả Thanh Hải.
Câu 7. Nhận xét về bức tranh đời sống và tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai dòng thơ:
Có một người nghèo không biết Tết
Mang lì chiếc áo độ thu tàn!
Chúng ta cần phân tích nội dung và ý nghĩa của hai câu thơ này.
* “Người nghèo không biết Tết”: Hình ảnh này vẽ nên một bức tranh đời sống nghèo khổ, thiếu thốn, thậm chí là cùng cực. Tết là dịp đoàn viên, sum vầy, là biểu tượng của niềm vui, sự no đủ. Việc “không biết Tết” cho thấy sự xa lạ, mất mát, không có gì để mong chờ, để vui mừng trong dịp lễ quan trọng nhất của năm.
* “Mang lì chiếc áo độ thu tàn”: Chiếc áo “lì” (rách, cũ, sờn) và lại “độ thu tàn” (vào cuối thu, khi mùa đông sắp đến) càng tô đậm thêm sự túng quẫn, cơ cực. Người nghèo này không có nổi một bộ quần áo tươm tất để đón mùa đông hay chuẩn bị cho dịp lễ.
* Tâm trạng của nhân vật trữ tình: Qua hình ảnh này, nhân vật trữ tình bộc lộ một nỗi xót xa, cảm thông sâu sắc đối với những mảnh đời bất hạnh, thiếu thốn. Đồng thời, nó cũng phản ánh một phần tâm trạng chung của nhân vật: một cuộc đời đầy bi quan, vô nghĩa, giống như sự tàn tạ, úa tàn của mùa thu. Sự tương phản giữa cái “không biết Tết” và “tiếng cười ran” ở câu thơ tiếp theo (nếu có trong ngữ cảnh đầy đủ của bài thơ gốc, nhưng ở đây chỉ trích hai câu này) hoặc sự đối lập với mùa xuân tươi đẹp càng làm nổi bật sự khắc nghiệt của cuộc sống và tâm trạng u uất, bất lực của nhân vật.
Câu 8. Anh/ Chị có đồng ý với trạng thái mong chờ của nhân vật trữ tình ở cuối bài thơ không? Vì sao?
Chúng ta cần đọc kỹ câu thơ cuối và xem xét nó có mâu thuẫn hay nhất quán với các cảm xúc đã thể hiện trước đó hay không.
* Cuối bài thơ có câu: “Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ! / Một cánh chim thu lạc cuối ngàn”.
* Trạng thái ở đây là “mong nhớ”, nhưng đây là sự mong nhớ về “một cánh chim thu lạc cuối ngàn”. Đây không hẳn là sự mong chờ một điều tốt đẹp, một niềm vui. Nó là sự mong nhớ một hình ảnh cô đơn, lạc lõng, tàn úa trong mùa thu, một hình ảnh có lẽ đồng cảm với nỗi cô đơn, lạc lõng, tàn úa trong tâm hồn nhân vật trữ tình.
* Nếu hiểu “mong chờ” là sự mong đợi một sự thay đổi tích cực, một niềm vui, thì chúng ta có thể không đồng ý. Bởi vì xuyên suốt bài thơ, nhân vật trữ tình thể hiện sự chán nản, bi quan, muốn ngăn cản mùa xuân, muốn níu kéo mùa thu úa tàn. Việc “mong nhớ” một hình ảnh cô đơn, lạc lõng ở cuối bài thơ càng củng cố thêm tâm trạng u uất, cô đơn đó, chứ không phải là sự mong chờ một điều gì tốt đẹp, tươi sáng.
* Ngược lại, nếu hiểu “mong chờ” ở đây là sự mong mỏi, khát khao một sự đồng cảm, một sự sẻ chia trong nỗi cô đơn, lạc lõng của mình, hoặc là một sự níu giữ những gì còn sót lại của quá khứ, thì có thể đồng ý ở một khía cạnh nào đó, nhưng đó là một trạng thái mong chờ đầy bi quan, sầu muộn.
(Lưu ý: Phần này có thể có hai cách diễn giải tùy thuộc vào cách hiểu về “mong chờ” và “mong nhớ” ở cuối bài. Tuy nhiên, dựa trên mạch cảm xúc chung của bài thơ là bi quan, ta nghiêng về sự không đồng ý với trạng thái “mong chờ” theo nghĩa tích cực).
Ví dụ cách trả lời theo hướng “không đồng ý”:
Tôi không đồng ý với trạng thái mong chờ tích cực của nhân vật trữ tình ở cuối bài thơ. Xuyên suốt bài thơ, nhân vật trữ tình đã thể hiện một thái độ tiêu cực, chán nản với mùa xuân và cuộc sống. Những câu thơ như “Đem chi xuân lại gợi thêm sầu?”, “Với tôi, tất cả như vô nghĩa / Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!” cho thấy một tâm hồn đang chìm đắm trong bi quan. Hình ảnh “một cánh chim thu lạc cuối ngàn” được nhân vật “mong nhớ” ở cuối bài càng củng cố thêm trạng thái cô đơn, lạc lõng, tàn úa, chứ không phải là sự mong chờ một điều gì tốt đẹp, tươi sáng hay sự thay đổi tích cực. Do đó, “mong nhớ” ở đây mang màu sắc của sự đồng cảm với nỗi cô đơn, sự níu giữ quá khứ buồn, chứ không phải là sự mong chờ đón nhận một tương lai hay một niềm vui.
Câu 9. So sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ sau:
Đoạn 1:
Tôi có chờ đâu, có đợi đâu
Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu?
Với tôi, tất cả như vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Đoạn 2:
Của ong bướm này đây tuần trăng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Chúng ta cần phân tích tâm trạng trong từng đoạn rồi chỉ ra điểm giống và khác nhau.
* Phân tích tâm trạng Đoạn 1:
* Đây là lời bộc bạch trực tiếp về nỗi lòng của nhân vật trữ tình.
* Tâm trạng chủ đạo là sự chán chường, bi quan, u uất, tuyệt vọng.
* Nhân vật cảm thấy cuộc sống vô nghĩa, mọi thứ chỉ mang lại khổ đau.
* Mùa xuân đến không mang lại niềm vui mà còn “gợi thêm sầu”.
* Có sự oán trách, phủ nhận sự tồn tại của mùa xuân.
* Phân tích tâm trạng Đoạn 2:
* Đoạn thơ này (nếu đây là trích dẫn từ một bài thơ khác, ví dụ như “Vội vàng” của Xuân Diệu) khắc họa một bức tranh mùa xuân tràn đầy sức sống, vẻ đẹp rực rỡ và một tâm hồn đầy yêu đời, say đắm.
* Tâm trạng chủ đạo là hân hoan, say đắm, vui tươi, tràn đầy sức sống, yêu đời.
* Nhân vật cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên, của sự sống: ong bướm, hoa, lá, yến anh.
* Có sự hưởng thụ, tận hưởng vẻ đẹp và không khí của mùa xuân, của “tuần trăng mật”.
* Thậm chí còn có sự chủ động “muốn chóng mùa xuân”.
* So sánh:
* Điểm khác nhau cơ bản nhất: Tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ hoàn toàn trái ngược nhau.
* Đoạn 1 thể hiện sự bi quan, chán nản, tuyệt vọng, cô đơn.
* Đoạn 2 thể hiện sự hân hoan, say đắm, yêu đời, tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống và mùa xuân.
* Điểm chung (nếu có thể tìm thấy ở một góc độ nào đó, nhưng ở đây rất ít): Nếu xét về việc cùng miêu tả mùa xuân, cả hai đoạn đều lấy mùa xuân làm bối cảnh hoặc chủ đề. Tuy nhiên, cách cảm nhận và phản ứng với mùa xuân là hoàn toàn đối lập.
* Sự đối lập gay gắt: Đoạn thơ “Xuân” của Chế Lan Viên thể hiện một cái nhìn bi thương, đầy u uất về mùa xuân, trái ngược hoàn toàn với cái nhìn nồng nhiệt, say đắm, vui tươi của đoạn thơ kia (với giả định đoạn 2 là của Xuân Diệu). Điều này cho thấy sự đa dạng trong cách con người cảm nhận và đón nhận mùa xuân, tùy thuộc vào tâm trạng, hoàn cảnh sống và thế giới quan của mỗi người.
Chúc các em học tốt!
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm.
Câu 2: Bài thơ viết theo thể thơ 7 chữ.
Câu 3: Chủ thể trữ tình trong bài thơ là tôi.
Câu 4: Nhân vật trữ tình thể hiện cảm xúc với mùa xuân: buồn bã, chán nản và không còn mong chờ mùa xuân, sự bất lực với xã hội hiện tại, mùa xuân đến mang theo những u buồn, sầu não cho những kiếp người bất hạnh trong xã hội thực dân nửa phong kiến bấy giờ.
Câu 5:
Hình ảnh “xuân” tượng trưng cho niềm vui, sự sống mới, hy vọng, tấp nập nhưng với tác giả là điều vô nghĩa.
Hình ảnh “thu” tượng trưng cho nỗi buồn, sự tàn phai, mất mát, những kí ức khổ đau vì mùa thu mang trong lòng tác giả.
Câu 6:
– ” Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.
– ” Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử.
– ” Nụ cười xuân” của Xuân Diệu.
Câu 7:
Qua hai dòng thơ “Có một người nghèo không biết Tết / Mang lì chiếc áo độ thu tàn!”, có thể thấy bức tranh đời sống và tâm trạng của nhân vật trữ tình là nỗi cô đơn, thiếu thốn. Người nghèo không biết đến niềm vui của Tết, chỉ mang trong mình nỗi buồn của mùa thu đã tàn. Trước sự đổi sắc của cảnh vật thì nhân vật trữ tình vẫn chỉ mang một chiếc áo tàn thu.Điều này thể hiện sự khắc nghiệt của cuộc sống và nỗi đau trong tâm hồn, sự cố hữu trong tâm hồn thi nhân trước sự thay đổi của đất trời.
Câu 8:
Tôi không đồng tình với nỗi mong chờ của tác giả ở cuối bài thơ. Điều này thể hiện tác giả không muốn bước sang mùa xuân mà cố hữu với mùa thu quá khứ, thể hiện nỗi đau trong tâm hồn, đây không chỉ là tâm trạng của nhà thơ mà còn là của những văn nhân nghệ sĩ lúc bấy giờ hy vọng tìm về quá khứ trước những biến thiên, xoay vần của cuộc sống.
Câu 9:
Trong hai đoạn thơ, tâm trạng của nhân vật trữ tình thể hiện những sắc thái rất khác nhau, phản ánh sự đối lập giữa cảm xúc tiêu cực và tích cực trong trạng thái cảm xúc của hai người nghệ sĩ. Nếu như nhà thơ Chế Lan Viên phản ánh nỗi chán chường và tuyệt vọng.Nhân vật thừa nhận rằng mình không chờ đợi mùa xuân, điều này cho thấy một tâm hồn đầy u ám:“Tôi có chờ đâu, có đợi đâu / Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu?”Câu hỏi tu từ này không chỉ diễn tả sự thờ ơ với mùa xuân mà còn nhấn mạnh rằng mùa xuân, trong mắt nhân vật, chỉ mang lại nỗi buồn và sự vô nghĩa. Nhân vật cảm thấy mình sống trong một thế giới không có ý nghĩa, chỉ là những khổ đau triền miên, vì thế mùa xuân đến thật vô nghĩa. Ngược lại, tâm trạng của Xuân Diệu lại mong chờ, háo hức đón chờ mùa xuân.“Của ong bướm này đây tuần trăng mật; / Này đây hoa của đồng nội xanh rì.”Những hình ảnh tươi sáng và tràn đầy sức sống này cho thấy một tâm trạng vui tươi, phấn chấn và đầy hy vọng. Những hình ảnh như “tuần trăng mật” và “hoa của đồng nội” không chỉ mang lại cảm giác ấm áp mà còn gợi nhớ đến những kỷ niệm đẹp, thể hiện khao khát sống, yêu thương và tận hưởng cuộc sống. Qua hai đoạn trích đã phản ánh tâm trạng của hai nhà thơ, sự thay đổi của thời đại cũng như những quan niệm về xã hội đương thời.
1. PTBĐ chính : Biểu cảm.
2. Thể thơ : 7 chữ.
3. Chủ thể trữ tình : Nhân vật “tôi” – tác giả.
4. Cảm xúc của tác giả với mùa xuân :
– Thái độ thù ghét, xua đuổi mùa xuân thực chất là một cách phản ứng, phủ nhận đối với hiện tại, với thực trạng xã hộithực dân nửa phong kiến đương thời.
– Thái độ chán ngán, bất lực của Chế Lan Viên nói riêng cũng như, bất lực của nhà thơ mới và thế hệ thanh niên tiểu tư sản nói chung.
5. Hình ảnh “xuân” và “thư” có ý nghĩa đặc trưng sâu sắc, thể hiện thái độ sống của nhà thơ :
– “Xuân” : là biểu tượng cho hiện tại náo nhiệt.
– “Thư” : là biểu tượng cho dĩ vãng, của quá khứ xa xăm.
6. Các bài thơ khác viết về đề tài mùa xuân :
– Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải.
– Mùa xuân chín – Hàn Mặc Tử.
– Mưa xuân – Nguyễn Bính.
– Chiều xuân – Anh Thơ.
– …..
7. Nhận xét :
– Bức tranh đời sống : Trong không khí Xuân, người người rộn ràng chuẩn bị đón Tết, nhưng chỉ riêng một người (lập dị, khác thường) không quan tâm đến ngày Tết. Con người ấy còn mang chiếc áo “lì lợm”, không đếm xia đến mọi chuyển biến xung quanh.
– Tâm trạng của nhân vật trữ tình : Giãy bày sự phản hồi, sự bất hợp tác, không chịu hòa nhập với bối cảnh bấy giờ của đất nước.
9. So sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong 2 đoạn thơ :
– Giống nhau : Đều viết về đề tài mùa xuân. Qua đó, bộc lộ cảm xúc tinh tế của nhân vật trữ tình.
– Khác nhau :
+ Đoạn 1 : Tâm trạng buồn bã, hoài nghi khi xuân về.
+ Đoạn 2 : Tâm trạng say mê, tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống thiết tha.