1. Thế nào là từ ghép, thế nào là từ láy? Bản chất từ ghép khác từ láy ở chỗ nào…
2. Thế nào là từ ghép đẳng lập, từ ghép chính phụ? Cho ví dụ và dựa trên VD này để chỉ rõ bản chất khác nhau của TGĐL và TGCP
Chúng ta sẽ đi vào từng phần của bài tập nhé.
PHẦN 1: THẾ NÀO LÀ TỪ GHÉP, THẾ NÀO LÀ TỪ LÁY? BẢN CHẤT TỪ GHÉP KHÁC TỪ LÁY Ở CHỖ NÀO?
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về từ ghép và từ láy.
1. Thế nào là từ ghép?
Các em hãy quan sát một số ví dụ sau:
– Gia đình: Từ này gồm có hai tiếng là “gia” và “đình”. Tiếng “gia” có nghĩa là nhà, và tiếng “đình” cũng có nghĩa là nhà. Khi kết hợp lại, “gia đình” tạo thành một từ mới với nghĩa hoàn chỉnh, chỉ chung những người cùng huyết thống hoặc cùng chung sống dưới một mái nhà.
– Sách vở: Gồm hai tiếng “sách” và “vở”. “Sách” và “vở” đều là những vật dụng dùng để ghi chép hoặc đọc. Ghép lại, “sách vở” có nghĩa chung là tài liệu học tập, đọc.
– Cây cối: Gồm “cây” và “cối”. “Cây” chỉ thực vật thân gỗ, “cối” ở đây có nghĩa là nhiều loại cây. Ghép lại, “cây cối” chỉ chung các loại thực vật có thân gỗ.
Từ những ví dụ trên, chúng ta có thể định nghĩa:
Từ ghép là những từ được tạo nên bằng cách kết hợp hai hay nhiều tiếng có nghĩa lại với nhau. Nghĩa của tiếng mới được tạo thành thường là sự hợp nghĩa hoặc phụ nghĩa từ các tiếng có sẵn.
2. Thế nào là từ láy?
Bây giờ, các em hãy thử phân tích một số ví dụ sau:
– Xinh xinh: Từ này có hai tiếng “xinh” và “xinh”. Tiếng thứ hai lặp lại tiếng thứ nhất, tạo ra một sắc thái ý nghĩa mới, chỉ sự “xinh” ở mức độ nhỏ, đáng yêu.
– Lấp lánh: Gồm hai tiếng “lấp” và “lánh”. Hai tiếng này có âm đầu giống nhau (âm /l/), nhưng thanh điệu và vần có thể khác nhau hoặc giống nhau, tạo ra một âm thanh gợi tả. Nghĩa của từ láy này gợi lên hình ảnh ánh sáng phản chiếu lung linh.
– Long lanh: Tương tự, gồm “long” và “lanh”. Âm đầu giống nhau (/l/), thanh điệu và vần tạo nên âm hưởng gợi hình, gợi cảm. Nghĩa của từ này cũng gợi lên hình ảnh trong sáng, rực rỡ.
– Đo đỏ: Gồm “đo” và “đỏ”. Âm đầu giống nhau (/đ/), thanh điệu giống nhau. Nghĩa của từ láy này chỉ màu đỏ nhạt, sắc thái của màu đỏ.
Từ những ví dụ này, ta có thể định nghĩa:
Từ láy là những từ được tạo nên bằng cách lặp lại hoặc biến đổi âm của một tiếng gốc hoặc hai tiếng gốc có âm đầu, vần hoặc thanh điệu giống nhau. Nghĩa của từ láy thường là tăng tiến, giảm nhẹ, hoặc mô phỏng âm thanh, hình ảnh.
3. Bản chất từ ghép khác từ láy ở chỗ nào?
Điểm khác biệt cốt lõi giữa từ ghép và từ láy nằm ở cơ chế tạo nghĩa và hình thức cấu tạo.
* Về cơ chế tạo nghĩa:
* Từ ghép: Nghĩa của từ ghép được tạo thành từ nghĩa của các tiếng gốc tạo nên nó. Các tiếng gốc trong từ ghép thường giữ nguyên hoặc gần nguyên nghĩa gốc của nó, và khi ghép lại thì nghĩa của từ mới là sự kết hợp hoặc bổ sung nghĩa. Ví dụ: sách vở (sách có nghĩa, vở có nghĩa, kết hợp lại là “sách và vở”).
* Từ láy: Nghĩa của từ láy thường là sự biến đổi, mở rộng hoặc mô phỏng nghĩa của tiếng gốc, hoặc tạo ra một sắc thái nghĩa hoàn toàn mới. Tiếng láy phụ thường có âm thanh hoặc thanh điệu lặp lại hoặc tương đồng với tiếng gốc, tạo nên hiệu quả âm thanh gợi hình, gợi cảm. Tiếng láy phụ có thể không có nghĩa độc lập hoặc nghĩa của nó mờ nhạt đi so với tiếng gốc. Ví dụ: xinh xinh (từ xinh có nghĩa, nhưng xinh xinh nhấn mạnh sự nhỏ bé, đáng yêu của cái xinh).
* Về hình thức cấu tạo:
* Từ ghép: Các tiếng trong từ ghép thường có nghĩa độc lập hoặc ít nhất là có âm tiết rõ ràng.
* Từ láy: Các tiếng trong từ láy có thể có sự lặp lại âm thanh, vần hoặc thanh điệu, có thể có tiếng láy phụ không có nghĩa độc lập hoặc nghĩa không rõ ràng.
Chúng ta có thể hình dung một cách đơn giản:
Từ ghép giống như việc ghép hai viên gạch có sẵn để xây nên một bức tường.
Từ láy giống như việc tạo ra âm thanh vang vọng, có thể từ một tiếng gốc và tạo ra âm hưởng tương tự hoặc biến đổi.
PHẦN 2: THẾ NÀO LÀ TỪ GHÉP ĐẲNG LẬP, TỪ GHÉP CHÍNH PHỤ? CHO VÍ DỤ VÀ DỰA TRÊN VD NÀY ĐỂ CHỈ RÕ BẢN CHẤT KHÁC NHAU CỦA TGĐL VÀ TGCP
Bây giờ, chúng ta sẽ đi sâu hơn vào các loại từ ghép.
1. Thế nào là từ ghép đẳng lập?
Để hiểu từ ghép đẳng lập, các em hãy xem ví dụ:
– Cây cối: Gồm “cây” và “cối”. “Cây” có nghĩa là thực vật thân gỗ, “cối” ở đây chỉ các loại cây khác hoặc cây nhỏ hơn. Khi ghép lại, “cây cối” chỉ chung các loại cây nói chung.
– Quan hệ: Gồm “quan” và “hệ”. “Quan” có thể chỉ sự liên quan, “hệ” có thể chỉ dòng dõi, mối quan hệ. Ghép lại, “quan hệ” chỉ mối liên hệ giữa người với người.
– Sách vở: Gồm “sách” và “vở”. “Sách” là vật để đọc, “vở” là vật để ghi. Ghép lại, “sách vở” chỉ chung các tài liệu học tập.
Trong các ví dụ trên, các em thấy rằng, nếu ta đổi chỗ hai tiếng cho nhau, từ mới vẫn giữ nguyên hoặc gần như nguyên nghĩa.
– Cối cây -> Vẫn hiểu là các loại cây.
– Hệ quan -> Vẫn có thể hiểu là mối liên hệ.
– Vở sách -> Vẫn hiểu là sách và vở.
Từ đây, ta có định nghĩa:
Từ ghép đẳng lập là những từ ghép mà các tiếng có nghĩa tương đương nhau, không phân biệt chính phụ. Khi đổi chỗ các tiếng cho nhau, nghĩa của từ không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể. Các tiếng trong từ ghép đẳng lập thường có quan hệ đồng loại hoặc bổ sung nghĩa cho nhau.
2. Thế nào là từ ghép chính phụ?
Hãy xem các ví dụ sau:
– Xe đạp: Gồm “xe” và “đạp”. “Xe” là phương tiện di chuyển, “đạp” là hành động dùng chân tác động. “Xe đạp” là loại xe do hành động “đạp” mà di chuyển. Tiếng “xe” là chính, tiếng “đạp” là phụ bổ nghĩa cho “xe”. Nếu đổi chỗ: đạp xe -> nghĩa khác, chỉ hành động đi xe đạp.
– Quần áo: Gồm “quần” và “áo”. “Quần” là trang phục cho phần dưới thân, “áo” là trang phục cho phần trên thân. “Quần áo” là chỉ chung các loại trang phục. Trong trường hợp này, “quần” và “áo” có thể được coi là bình đẳng (về mặt loại hình), nhưng xét về cấu trúc, nếu có một tiếng chính và một tiếng phụ thì nó sẽ thuộc về loại chính phụ. Tuy nhiên, ví dụ này có thể thiên về đẳng lập hơn nếu xét nghĩa. Ta lấy ví dụ rõ hơn.
– Vở bài tập: Gồm “vở”, “bài”, “tập”. Tuy nhiên, đây là từ ghép ba tiếng. Ta xét từ ghép hai tiếng: bài tập. “Bài” là một đơn vị kiến thức, “tập” là hành động làm. “Bài tập” là bài để làm. “Bài” là chính, “tập” là phụ. Đổi chỗ: tập bài -> không có nghĩa.
– Sân bay: Gồm “sân” và “bay”. “Sân” là khu vực đất rộng, “bay” là hành động di chuyển trên không. “Sân bay” là sân dành cho máy bay. “Sân” là chính, “bay” là phụ. Đổi chỗ: bay sân -> không có nghĩa.
Từ những ví dụ này, ta có định nghĩa:
Từ ghép chính phụ là những từ ghép mà một tiếng có nghĩa chính, tiếng còn lại có nghĩa phụ bổ sung, làm rõ nghĩa cho tiếng chính. Tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau (hoặc ngược lại, tùy loại). Nếu đổi chỗ các tiếng cho nhau, nghĩa của từ sẽ thay đổi hoặc trở nên vô nghĩa.
3. Dựa trên ví dụ này để chỉ rõ bản chất khác nhau của TGĐL và TGCP
Ta lấy lại hai ví dụ tiêu biểu để làm rõ:
* TGĐL: Cây cối
* Cấu tạo: “cây” + “cối”. Cả hai tiếng đều có nghĩa và tương đương.
* Nghĩa: Chỉ chung các loại thực vật có thân gỗ. Nghĩa này là sự kết hợp ý nghĩa của “cây” và “cối” (nhiều loại cây).
* Tính chất: Có thể đổi chỗ: “cối cây”. Nghĩa của “cối cây” vẫn gợi lên hình ảnh nhiều loại cây. Hai tiếng có vai trò ngang nhau.
* TGCP: Sân bay
* Cấu tạo: “sân” + “bay”. Tiếng “sân” là chính, tiếng “bay” là phụ.
* Nghĩa: “sân” (khu vực) được bổ nghĩa bởi “bay” (dành cho máy bay). Nghĩa của “sân bay” là một loại “sân” cụ thể.
* Tính chất: Không thể đổi chỗ: “bay sân” là vô nghĩa hoặc hiểu sai nghĩa. Tiếng “sân” giữ vai trò chính, tiếng “bay” bổ sung ý nghĩa.
Bản chất khác nhau của TGĐL và TGCP nằm ở mối quan hệ về nghĩa và vị trí của các tiếng tạo nên từ.
* TGĐL: Các tiếng ngang hàng, tương đương nghĩa. Giống như hai người bạn đứng cạnh nhau, cùng nhau tạo nên một nhóm. Nghĩa của từ là sự tổng hợp hoặc bổ sung ý nghĩa của các tiếng một cách bình đẳng.
* TGCP: Có một tiếng “chủ đạo” (chính) và một tiếng “phụ tá” (phụ). Giống như người chỉ huy và người thực hiện mệnh lệnh, hoặc người làm rõ và người được làm rõ. Tiếng phụ có vai trò xác định, thu hẹp, hoặc bổ sung nghĩa cho tiếng chính, tạo ra một đơn vị nghĩa mới, cụ thể hơn.
Qua bài học hôm nay, cô hy vọng các em đã nắm vững được sự khác nhau giữa từ ghép và từ láy, cũng như hai loại từ ghép đẳng lập và chính phụ. Việc nắm chắc kiến thức này sẽ giúp các em tự tin hơn khi phân tích từ ngữ, sử dụng từ ngữ trong các bài viết của mình sao cho hiệu quả và sinh động nhất.
Các em về nhà ôn lại bài và làm bài tập trong sách giáo khoa nhé. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, đừng ngần ngại hỏi cô vào buổi học sau. Chúc các em học tốt!
1.
– Từ ghép: Là từ được cấu tạo bởi hai tiếng khác nhau. Đặc biệt cả hai tiếng đều có nghĩa
Ví dụ: ăn uống, nhà cửa, truyện tranh,….
– Từ láy: Là những từ có các tiếng lặp lại cả âm và vần. Ví dụ: ào ào, luôn luôn, xa xa, dành dành, xanh xanh, hằm hằm, khom khom… Một số từ láy có tiếng thay đổi thanh điệu hoặc phụ âm cuối, để tạo sự hài hoà về âm thanh.
Phân biệt từ ghép với từ láy
Cách 1: ghép những tiếng có nghĩa lại với nhau. Đó là các từ ghép . Cách 2: Phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu và vần) giống nhau. Đó là các từ láy.
2.
– Từ ghép chính phụ có tiếng chính và tiếng phụ (một hoặc nhiều tiếng phụ) bổ sung nghĩa cho tiếng chính. Tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau.
– Trật tự các tiếng trong từ ghép chính phụ thuần Việt: tiếng chính đứng trước, tiếng phụ đứng sau.
– Từ ghép chính phụ có tính chất phân nghĩa, nghĩa của từ ghép chính phụ hẹp hơn nghĩa của tiếng chính.
Ví dụ từ ghép chính phụ: Sách giáo khoa, bàn học, ghế bành, hoa hồng, đỏ rực, viết bi, vở tập viết…..
Từ ghép đẳng lập là từ ghép không phân ra tiếng chính, tiếng phụ, có các tiếng bình đẳng với nhau về mặt ngữ pháp.
– Từ ghép đẳng lập có tính chất hợp nghĩa, nghĩa của từ ghép đẳng lập khái quát hơn nghĩa của tiếng tạo ra nó.
Ví dụ từ ghép đẳng lập: Yêu thương, tươi tốt, áo quần, sách vở, bàn ghế, tươi trẻ, trầm bổng……
*Lưu ý:
– Không suy luận một cách máy móc nghĩa của từ ghép từ nghĩa của các tiếng.
1.
– Khái niệm của từ ghép: là từ có 2 từ đơn trở lên tạo thành. Mỗi tiếng của từ ghép đó đều có nghĩa cụ thể.
– Khái niệm của từ láy: Từ láy là những từ có cấu tạo 2 tiếng trở nên. Mỗi tiếng của từ đó không có nghĩa hoặc chỉ một từ có nghĩa giống nhau về âm đầu, vần hoặc toàn bộ.
\(->\) Từ láy và từ ghép khác nhau ở chỗ:
+ Từ ghép là những từ được cấu tạo bằng cách ghép những tiếng lại với nhau. Mỗi tiếng của từ đó đều có nghĩa
+ Từ láy là những từ được tạo nên bởi các tiếng giống nhau về âm đầu, vần hoặc toàn bộ. Mỗi tiếng của từ đó không có nghĩa hoặc chỉ một từ có nghĩa.
2.
– Khái niệm về ghép đẳng lập: là những từ ghép không phân ra tiếng chính hay tiếng phụ. Mỗi tiếng của từ đó bình đẳng với nhau về mặt ngữ pháp.
+ VD: xe cộ, phố phường, bàn ghế, ông bà,sách vở….
– Khái niệm về ghép chính phụ: là những từ có phân ra tiếng chính tiếng phụ, tiếng phụ đứng trước bổ nghĩa cho tiếng chính.
+ VD: Bà ngoại, bà nội, xe đạp,xe máy, xe ô tô, bút chì,…..
\(->\) Bản chất khác nhau: Nghĩa của từ ghép chính phụ hẹp hơn nghĩa của từ ghép đẳng lập.