Cảm nhận về bài thơ hỏi của Hữu thỉnh
Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau khám phá một bài thơ rất hay và giàu ý nghĩa, đó là bài thơ “Hỏi” của nhà thơ Hữu Thỉnh. Bài thơ này nằm trong chương trình Ngữ Văn lớp 7 của chúng ta.
Để cảm nhận được trọn vẹn vẻ đẹp của bài thơ, cô trò mình sẽ cùng đi qua từng bước phân tích, giống như chúng ta đang từng bước chinh phục một ngọn núi cao vậy.
Bước 1: Đọc và cảm nhận chung về bài thơ
Trước tiên, các em hãy mở sách giáo khoa trang … và đọc bài thơ “Hỏi” một lượt. Khi đọc, các em hãy chú ý đến giọng điệu của bài thơ, những hình ảnh nào đọng lại trong tâm trí các em, và cảm xúc ban đầu mà bài thơ mang lại là gì.
(Sau khi học sinh đọc xong, giáo viên sẽ lắng nghe một vài cảm nhận ban đầu của học sinh, có thể hỏi những câu như: “Em cảm nhận thế nào về không khí chung của bài thơ?”, “Có từ ngữ hay hình ảnh nào làm em ấn tượng nhất không?”)
Bước 2: Tìm hiểu về tác giả và hoàn cảnh sáng tác (nếu có trong sách giáo khoa)
Trong sách giáo khoa, chúng ta thường có phần giới thiệu về tác giả. Các em hãy xem qua thông tin về nhà thơ Hữu Thỉnh. Hiểu biết về tác giả, về thời kỳ sáng tác có thể giúp chúng ta hiểu sâu hơn về ý đồ nghệ thuật của nhà thơ.
Đối với bài thơ “Hỏi”, sách giáo khoa có cung cấp thông tin gì về hoàn cảnh ra đời của bài thơ không? (Giáo viên sẽ dẫn dắt học sinh tìm thông tin trong sách).
Bước 3: Phân tích chi tiết từng khổ thơ, từng câu thơ
Bây giờ, chúng ta sẽ đi sâu vào từng phần của bài thơ.
Khổ 1:
Đầu tiên, các em hãy đọc thật kỹ khổ thơ đầu tiên.
“Hỏi con cái cuốc
cái thuổng
cái cào
Mấy con người
mấy con người
làm ra lúa
làm ra ngô?”
Các em thấy gì qua những câu thơ này? Nhà thơ đã đặt ra những câu hỏi gì? (Giáo viên dẫn dắt học sinh nhận ra những vật dụng lao động quen thuộc, và câu hỏi về con người làm ra lương thực).
Những vật dụng như “cuốc”, “thuổng”, “cào” gợi cho các em điều gì? (Gợi lên sự cần cù, vất vả, gắn bó với đất đai).
Câu hỏi “Mấy con người / mấy con người / làm ra lúa / làm ra ngô?” thể hiện điều gì về cách nhìn của nhà thơ? (Nhấn mạnh vai trò của con người trong lao động sản xuất, sự quan trọng của việc nuôi sống bản thân và cộng đồng).
Khổ 2:
Tiếp theo, chúng ta sang khổ thơ thứ hai.
“Hỏi con chim sâu
con chim chích chòe
Mấy con người
lấy đâu ra
sâu
lấy đâu ra
lúa?”
Ở khổ thơ này, nhà thơ lại đặt ra những câu hỏi về điều gì? (Giáo viên dẫn dắt học sinh nhận ra sự kết nối giữa con người và thiên nhiên, vai trò của các loài chim trong nông nghiệp).
Tại sao nhà thơ lại hỏi về “con chim sâu”, “con chim chích chòe”? Chúng có vai trò gì trong việc bảo vệ mùa màng? (Giúp diệt sâu hại).
Câu hỏi “Mấy con người / lấy đâu ra / sâu / lấy đâu ra / lúa?” thể hiện mối quan hệ gì? (Nhấn mạnh sự tương quan, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa con người và thiên nhiên. Nếu không có chim sâu thì lúa sẽ bị sâu ăn, dẫn đến mất mùa).
Khổ 3:
Chúng ta cùng tiếp tục với khổ thơ thứ ba.
“Hỏi con ong
con bướm
con chuồn chuồn
Mấy con người
mấy con người
làm ra mật
làm ra đường?”
Nhà thơ lại tiếp tục mở rộng phạm vi câu hỏi với những loài vật nào? Chúng có vai trò gì? (Giáo viên dẫn dắt học sinh nhận ra vai trò của ong trong thụ phấn và làm mật, bướm, chuồn chuồn tuy không trực tiếp làm ra mật nhưng cũng là một phần của hệ sinh thái).
Câu hỏi “Mấy con người / mấy con người / làm ra mật / làm ra đường?” gợi lên ý nghĩa gì về sự sáng tạo và lao động của con người? (Liên hệ đến việc con người từ những sản vật thiên nhiên làm ra những thứ có ích cho đời sống).
Khổ 4:
Và khổ thơ cuối cùng.
“Hỏi con gà
con vịt
con lợn nái
Mấy con người
mấy con người
làm ra trứng
làm ra thịt
làm ra sữa?”
Ở khổ thơ này, nhà thơ hướng sự chú ý của chúng ta đến những vật nuôi quen thuộc. Chúng có vai trò gì trong đời sống con người? (Cung cấp thực phẩm).
Câu hỏi “Mấy con người / mấy con người / làm ra trứng / làm ra thịt / làm ra sữa?” thể hiện điều gì về sự gần gũi và gắn bó giữa con người với vật nuôi? (Con người chăm sóc, vỗ về và nhận lại những giá trị thiết thực).
Bước 4: Khái quát chủ đề và ý nghĩa của bài thơ
Sau khi phân tích từng khổ thơ, các em hãy suy nghĩ xem bài thơ “Hỏi” của nhà thơ Hữu Thỉnh muốn gửi gắm đến chúng ta điều gì? Chủ đề chính của bài thơ là gì?
(Giáo viên gợi ý để học sinh nhận ra chủ đề về tình yêu quê hương, đất nước, con người, sự gắn bó, hài hòa giữa con người với thiên nhiên và với lao động sản xuất).
Bài thơ dùng cách đặt câu hỏi tu từ để làm nổi bật điều gì? (Sự suy tư, trăn trở của tác giả về giá trị của lao động, về mối quan hệ giữa con người và vạn vật).
Những câu hỏi trong bài thơ, dù tưởng chừng đơn giản, nhưng lại gợi ra một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống, về sự mưu sinh, về vẻ đẹp của lao động và sự hài hòa của tự nhiên.
Bước 5: Liên hệ và mở rộng (nếu có yêu cầu hoặc phù hợp)
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, những câu hỏi mà nhà thơ Hữu Thỉnh đặt ra có còn ý nghĩa không? Chúng ta cần làm gì để phát huy những giá trị tốt đẹp mà bài thơ mang lại?
(Giáo viên khuyến khích học sinh suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với quê hương, đất nước, với lao động và với thiên nhiên).
Kết luận:
Bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh là một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc về những điều tưởng chừng như bình dị, nhưng lại là nền tảng cho cuộc sống của chúng ta. Đó là sự lao động cần cù, sự gắn bó với thiên nhiên, và tình yêu thương dành cho quê hương.
Cô hy vọng qua bài học hôm nay, các em đã cảm nhận sâu sắc hơn về vẻ đẹp của bài thơ và ý nghĩa mà nó mang lại. Các em hãy ghi chép lại những ý chính và tập cảm nhận riêng của mình về bài thơ nhé!
Bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh là một tác phẩm thơ đầy tình cảm và sâu sắc. Từng câu chữ trong bài thơ đều mang đến cho người đọc những cảm xúc và suy nghĩ sâu sắc về cuộc sống và tình yêu. Ngay từ đầu bài thơ, tôi đã cảm nhận được sự tò mò và sự tìm kiếm của tác giả. Hữu Thỉnh đặt ra những câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống, về tình yêu và về ý nghĩa của việc tồn tại. Những câu hỏi này không chỉ là những câu hỏi đơn giản, mà chúng còn đặt ra những câu hỏi sâu xa về ý nghĩa của cuộc sống và tình yêu. Bài thơ “Hỏi” cũng thể hiện sự tâm hồn nhạy cảm và tình cảm của tác giả. Hữu Thỉnh thể hiện sự khao khát tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống và tình yêu, nhưng đồng thời cũng thể hiện sự bất mãn và hoài nghi. Tôi cảm nhận được sự mâu thuẫn trong tâm trạng của tác giả, giữa sự tìm kiếm và sự bất lực. Bài thơ “Hỏi” cũng mang đến cho người đọc những hình ảnh tươi đẹp và sắc nét. Từng câu chữ trong bài thơ được chọn lọc một cách tỉ mỉ, tạo nên những hình ảnh sống động và sâu sắc. Tôi cảm nhận được sự tinh tế trong việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh của tác giả.
Hữu Thỉnh là một cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là người viết nhiều, viết hay về cuộc sống ở nông thôn, thơ ông giản dị nhưng vô cùng tinh tế và sâu sắc. Xuyên suốt sự nghiệp làm văn, ông đã mang đến cho kho tàng văn học nước nhà những tác phẩm lớn như: “ Thương lượng với thời gian”, “ Sang thu” hay “ Âm vang chiến hào”, đồng thời bài thơ “ Hỏi” sáng tác năm 1992, in trong tập “Thư mùa đông” cũng là một áng văn khiến tên tuổi ông càng thêm sâu đậm trong lòng độc giả. Bài thơ là những chiêm nghiệm của tác giả về cuộc đời, qua những câu thoại giữa tác giả với thiên nhiên đã dẫn đến quan niệm sâu sắc của Hữu Thỉnh về cách sống giữa người với người.
Hữu Thỉnh sinh ra trong chiến tranh và cũng lớn lên trong chiến tranh. Dường như ông đã quá hiểu và nhìn thấu con người trong thời kỳ bom rơi đạn nổ, khi mà mọi số phận đều phải nương tựa nhau mà sống. Ông đã chứng kiến con người thương nhau, nhường nhau từng hạt gạo, bát cơm, nhìn thấy những người mẹ già lưng còng cặm cụi nấu cơm nuôi bộ đội. Cho mãi đến sau này, hòa bình trải dài trên khắp quê hương, thì sự đùm bọc, gắn kết giữa những con người đất Việt vẫn tròn vẹn, ấm áp, trở thành nếp sống, thành một nét tính cách đáng trận trọng của dân tộc Việt Nam. Cũng từ đó mà hồn thơ Hữu Thỉnh luôn trân quý và nâng niu cách sống ấy, đưa vào những vẫn thơ của chính mình để chiêm nghiệm và ngợi ca, giúp nó trường tồn mãi với thời gian.
Đến với sáu câu thơ đầu, tác giả đã đưa đến những cảm nhận của bản thân về cách sống của đất, nước, cỏ một cách sáng tạo và mới lạ hơn bao giờ hết :
“Tôi hỏi đất: Đất sống với đất như thế nào?
– Chúng tôi tôn cao nhau
Tôi hỏi nước: Nước sống với nước như thế nào?
– Chúng tôi làm đầy nhau
Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào?
– Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời”
Bằng biện pháp nhân hóa và hình thức đối thoại, đoạn thơ trên đã đưa người đọc đến các kết luận về cách sống của thiên nhiên: “ tôn cao nhau”, “làm đầy nhau” và “đan vào nhau”.
Với “đất”, tác giả dùng từ “tôn cao” như muốn nhắc đến sự tôn trọng, trân quý lẫn nhau giữa người với người. “Đất” tuy thấp nhưng luôn đề cao lẫn nhau, bồi đắp cho nhau nên mới có núi, có đồi. Con người cũng thế, sống trong cộng đồng cần tôn trọng, nâng đỡ và nương tựa vào nhau mà sống. Cuộc đời lắm điều đắng cay nhưng giữa cái đắng cay ấy sẽ thật hạnh phúc nếu như có những người thiện lương cho ta những thứ ngọt ngào. Trên dòng đời tấp nập vội vã, ta sẽ luôn mong gặp được một tấm lòng ấm áp, một đôi tay xa lạ nhưng chẳng ngần ngại chìa về phía ta. Trong mắt Hữu Thỉnh, con người cũng sống như đất, cho dù thấp bé cũng không vì cái “tôi” cá nhân mà đánh đổ lợi ích của cái “ta” chung. Có như vậy, con người mới xây dựng được cộng đồng vững vàng, thiên nhiên mới có những thắng cảnh hùng vĩ mà người người ao ước được chiêm ngưỡng.
Đến với dòng nước, tác giả lại lần nữa đặt câu hỏi: “Nước sống với nước như thế nào?”. Từ đó, đưa độc giả đến câu trả lời của nước chính là “đan vào nhau”. Biện pháp nhân hóa tài tình khiến cho những thông điệp ẩn trong câu thơ càng dễ đi vào lòng người. Cụm từ “ đan vào nhau” cho ta cảm giác về sự lấp đầy, từ đó nói lên rằng chẳng ai sinh ra là hoàn hảo cả, luôn phải biết giúp đỡ nhau hoàn thiện bản thân, cùng nhau lấp đầy những khoảng trống của chính mình. Con người cũng như nước, chẳng nên bới móc những điều không hoàn hảo của nhau để dìm nhau xuống đáy sâu mà hòa vào tập thể, che lấp đi những thiếu sót của nhau bằng sự bao dung. Từ đó, dòng nước trở thành những dải sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời còn con người thì cùng nhau hoàn thiện, cùng nhau trở thành phiên bản tốt nhất của chính mình rồi tỏa sáng rực rỡ khi chạm vào ước mơ của bản thân.
Cuối cùng, Hữu Thỉnh dẫn dắt ta đến với câu trả lời của “cỏ” là “đan vào nhau”. Câu trả lời của “cỏ” nhấn mạnh vào tình đoàn kết, gợi cho ta về câu ca dao quen thuộc :
“ Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao”
Cỏ là như vậy đấy, cọng cỏ bé nhỏ mọc ven đường riêng lẽ thì người ta chẳng tiếc gì mà dẫm lên, suốt đời nó chỉ mãi được gọi là cỏ dại mà thôi. Nhưng khi chúng cạnh nhau, kết nối, đan xen vào nhau, chúng tạo nên những “dải lụa xanh” tuyệt đẹp mà người người khát khao được ngắm nhìn. Chính con người cũng thế, “đoàn kết là sức mạnh” nên cần chung sức để tạo ra những điều dường như không thể. Những người cùng chung một tập thể cần có sự kết nối vững vàng để cùng nhau hướng đến một giá trị to lớn hơn. Con người cũng như ngọn cỏ, khi đơn độc luôn sợ bị quật đổ bởi gió lớn nhưng khi những ngọn cỏ nhỏ bé đã kết thành thảo nguyên xanh mướt thì ngọn gió chỉ làm cho chúng như đang nhảy múa dưới bầu trời mà thôi…
Kết thúc cuộc đối thoại với thiên nhiên, mạch thơ nhẹ nhàng êm ắng dừng lại ở đó. Nhà thơ bắt đầu đưa độc giả đến với những chiêm nghiệm sâu sắc và trực tiếp hơn về cách sống của con người:
“Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
– Người sống với người như thế nào?”
Tác giả đã lặp lại đến ba lần câu thơ của mình, tạo nhịp điệu khẩn trương, dồn dập, mạch thơ trở nên khắc khoải. Thật lạ thay, Hữu Thỉnh tuy đã đặt câu hỏi đến ba lần nhưng ông chẳng hề đưa ra câu trả lời nào cho cách sống giữa người với người. Phải chăng tác giả muốn nói rẳng con người sống cũng như “đất”, như “nước”, như “cỏ”, luôn tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ, bù đắp và đoàn kết với nhau ?
Có ý kiến cho rằng : “Hữu Thỉnh đã “đưa thơ về với cuộc sống thường nhật”, khám phá bí ẩn thẳm sâu trong tâm hồn con người bằng những suy tư chân thật tự đáy lòng mình”. Thật vậy, tuy là một bài thơ đơn giản nhưng chứa đựng lắm suy tư: con người sống với nhau thế nào ? Cuộc đời muôn hình vạn trạng, thế giới hàng tỉ người, mỗi người có một đức tin và bản ngã của riêng mình. Vậy nên, “người sống với người” chính là sống thật với cái tôi của chính mình, sống đẹp, sống đúng với đạo đức và lương tâm của bản thân.
Bài thơ là lời nhắc nhở, khuyên nhủ mỗi người phải sống có trách nhiệm với cộng đồng, sống như thiên nhiên, cây cỏ – thật xanh, thật đẹp, thật vững vàng. Mạnh dạn né tránh những điều xấu xa, vị kỷ, thói gian manh phàm tục hay sự thờ ơ, lạnh nhạt với đồng loại. Đây còn là thông điệp gửi gắm đến độc giả, nhắc nhở chúng ta hãy nhìn nhận lại chính mình, nhìn lại thái độ và cách sống của mình để điều chỉnh sao cho phù hợp với luân thường đạo lý. Và cũng thật đẹp khi lời thơ của Hữu Thỉnh còn vang vọng âm hưởng câu ca dao từ ngàn xưa :
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”
Đó là bài học, là lẽ sống đích thực của cha ông ta từ bao đời nay. Sống đúng là sống vị tha, đoàn kết; sống đùm bọc, bao dung mới là cách sống đáng tôn thờ. Như trong tác phẩm “ Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân từng viết về hình ảnh bà cụ Tứ – người mẹ hiền từ, nhân hậu, ngay cả khi đang bên bờ vực của cái đói, cái chết, bà cụ không ngần ngại mà đưa tay cứu vớt thị, bà cụ chẳng hề tuôn một câu nào nhằm hắt hủi người đàn bà tội nghiệp kia. Qua đó, ta thấy rằng, những cảm nhận và chiêm nghiệm của Hữu Thỉnh về cách sống con người chính là vấn đề muôn thuở luôn được đặt ra và tôn vinh xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của xã hội cũng như của văn học.
Bằng nghệ thuật nhân hóa, phép điệp ngữ, hình thức đối thoại độc đáo đầy sáng tạo, Hữu Thỉnh đã cho người đọc một cơ hội để nhìn nhận bản thân, nhìn nhận cuộc sống. Những dòng thơ hàm súc và đầy ý nghĩa ấy là sự tôn vinh của nhà thơ đối với lối sống đẹp của con người, đồng thời cũng là lời nhắc tới những cá nhân đang sống lệch lạc và thiếu trách nhiệm.
Dù trải qua dòng chảy khắc nghiệt của thời gian, nhưng những vần thơ nhẹ nhàng mà hàm súc trên cùng những suy tư sâu lắng mà nó mang lại thật khó phai trong lòng độc giả. Nó như dòng suối vô tận cứ tuôn mãi, tuôn mãi trong tâm thức mỗi người, nhắc nhớ phải sống đúng với bản ngã của chính mình.
<chúc bạn học tốt>