Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

cho em hỏi là khi nào cos dùng ( pi/2 + kpi) và khi nào dùng k2pi v ạ, đừng trả …

cho em hỏi là khi nào cos dùng ( pi/2 + kpi) và khi nào dùng k2pi v ạ, đừng trả …

cho em hỏi là khi nào cos dùng ( pi/2 + kpi) và khi nào dùng k2pi v ạ, đừng trả lời tùy bài. em khóc mất
Hỏi bởi: Vũ Kiều Ngọc Lan
3 câu trả lời

▲ 8
Chào em, cô hiểu nỗi băn khoăn của em về các dạng nghiệm của phương trình lượng giác. Đây là một phần kiến thức quan trọng và đôi khi gây nhầm lẫn, nhưng đừng lo lắng, chúng ta sẽ cùng nhau làm rõ vấn đề này nhé.
Câu hỏi của em rất hay và thiết thực: “Khi nào cos dùng (π/2 + kπ) và khi nào dùng k2π vậy ạ?”
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của hàm cosin và cách biểu diễn các góc đặc biệt trên đường tròn lượng giác. Cô sẽ giải thích chi tiết từng trường hợp.

Trường hợp 1: Khi nào cos(x) = 0?

Chúng ta biết rằng hàm cosin biểu diễn hoành độ của một điểm trên đường tròn lượng giác. Vậy, khi nào hoành độ bằng 0?

  • Trên đường tròn lượng giác, hoành độ bằng 0 tại hai điểm:
    • Điểm ứng với góc π/2 (tương ứng với trục Oy phía trên).
    • Điểm ứng với góc 3π/2 (tương ứng với trục Oy phía dưới).
  • Hai góc này cách nhau một khoảng là π (tức là 3π/2 – π/2 = π).
  • Do tính tuần hoàn của hàm cosin với chu kỳ 2π, nên các góc làm cho cos(x) = 0 sẽ là: π/2, 3π/2, π/2 + 2π, 3π/2 + 2π, … và π/2 – 2π, 3π/2 – 2π, …
  • Ta có thể gộp các trường hợp này lại thành một dạng tổng quát. Quan sát dãy các góc: π/2, 3π/2, 5π/2, 7π/2, … (bằng cách cộng thêm bội của 2π vào π/2) hoặc -π/2, -3π/2, -5π/2, … (bằng cách trừ đi bội của 2π từ π/2).
  • Tuy nhiên, cách biểu diễn gọn gàng nhất là nhận thấy sự chênh lệch giữa các nghiệm liên tiếp là π. Nghĩa là, nếu một nghiệm là α, thì nghiệm tiếp theo là α + π, rồi α + 2π, … hoặc α – π, α – 2π, …
  • Ta có thể chọn nghiệm đầu tiên là π/2. Khi đó, các nghiệm sẽ là: π/2, π/2 + π, π/2 + 2π, π/2 + 3π, … và π/2 – π, π/2 – 2π, …
  • Điều này có thể viết gọn lại là: \( x = \frac{\pi}{2} + k\pi \), với k là một số nguyên (k ∈ ℤ).

Tóm lại: Khi em gặp phương trình dạng cos(x) = 0, nghiệm sẽ là \( x = \frac{\pi}{2} + k\pi \), với k ∈ ℤ.

Trường hợp 2: Khi nào cos(x) = 1 hoặc cos(x) = -1?

Tương tự, chúng ta xem xét hoành độ trên đường tròn lượng giác.

  • cos(x) = 1:
    • Hoành độ bằng 1 xảy ra tại điểm ứng với góc 0 (hoặc 2π, 4π, … và -2π, -4π, …).
    • Các góc này cách nhau một khoảng là 2π.
    • Do đó, nghiệm của phương trình cos(x) = 1 là \( x = k2\pi \), với k ∈ ℤ.
  • cos(x) = -1:
    • Hoành độ bằng -1 xảy ra tại điểm ứng với góc π (hoặc 3π, 5π, … và -π, -3π, …).
    • Các góc này cách nhau một khoảng là 2π.
    • Do đó, nghiệm của phương trình cos(x) = -1 là \( x = \pi + k2\pi \), với k ∈ ℤ.

Lưu ý: Đôi khi, người ta cũng gộp hai trường hợp cos(x) = 1 và cos(x) = -1 lại. Ta thấy các góc 0, π, 2π, 3π, 4π, … là các bội số nguyên của π. Do đó, ta có thể viết gọn nghiệm cho cả hai trường hợp này là \( x = k\pi \), với k ∈ ℤ. Tuy nhiên, cách này sẽ bao gồm cả hai trường hợp riêng lẻ: nếu k chẵn (k=2n), ta có \( x = 2n\pi \), cho cos(x) = 1; nếu k lẻ (k=2n+1), ta có \( x = (2n+1)\pi \), cho cos(x) = -1.

Phân biệt khi nào dùng \( \frac{\pi}{2} + k\pi \) và khi nào dùng \( k2\pi \)

Bây giờ, chúng ta sẽ làm rõ câu hỏi cốt lõi của em:

  • Dùng \( \frac{\pi}{2} + k\pi \):
    • Công thức này được sử dụng khi em giải các phương trình lượng giác mà kết quả yêu cầu các góc có cos bằng 0.
    • Ví dụ điển hình nhất là khi giải phương trình cos(x) = 0, như chúng ta đã phân tích ở Trường hợp 1.
    • Nó cũng có thể xuất hiện khi em biến đổi các biểu thức lượng giác khác, ví dụ như khi giải phương trình sin(x) = 1 hoặc sin(x) = -1. Bởi vì sin(x) = 1 khi \( x = \frac{\pi}{2} + k2\pi \) và sin(x) = -1 khi \( x = \frac{3\pi}{2} + k2\pi \). Nếu em xét một cách tổng quát hơn, ví dụ như sin(x) = ±1, thì em sẽ có \( x = \frac{\pi}{2} + k\pi \). Hoặc khi em gặp các dạng phương trình như \( \cos(2x) = 0 \), thì \( 2x = \frac{\pi}{2} + k\pi \), suy ra \( x = \frac{\pi}{4} + \frac{k\pi}{2} \).
  • Dùng \( k2\pi \):
    • Công thức này, hoặc dạng tương tự \( \alpha + k2\pi \), được sử dụng khi em giải các phương trình lượng giác mà kết quả yêu cầu các góc có giá trị cosin lặp lại sau mỗi chu kỳ 2π.
    • Ví dụ điển hình là khi em giải phương trình cos(x) = 1, nghiệm là \( x = k2\pi \).
    • Hoặc khi em giải phương trình cos(x) = a (với \( -1 < a < 1 \) và \( a \neq 0 \)). Nếu bạn tìm được một nghiệm \( x_0 \) (ví dụ, sử dụng máy tính bỏ túi hoặc bảng giá trị), thì tất cả các nghiệm sẽ là \( x = x_0 + k2\pi \)\( x = -x_0 + k2\pi \).
    • Lý do là vì hàm cosin có chu kỳ là 2π. Điều này có nghĩa là cos(x) = cos(x + 2π) = cos(x + 4π) = … và cos(x) = cos(x – 2π) = cos(x – 4π) = …

Lời khuyên quan trọng

Điều quan trọng nhất là em phải xác định được giá trị cụ thể mà hàm cosin (hoặc sin, tan, cot) bằng. Sau đó, em sẽ sử dụng kiến thức về đường tròn lượng giác và tính tuần hoàn để xác định dạng nghiệm tổng quát.

  • cos(x) = 0 ⇒ nghiệm là \( \frac{\pi}{2} + k\pi \)
  • cos(x) = 1 ⇒ nghiệm là \( k2\pi \)
  • cos(x) = -1 ⇒ nghiệm là \( \pi + k2\pi \)
  • cos(x) = a (với \( |a| < 1, a \neq 0 \)) ⇒ nghiệm là \( \pm \arccos(a) + k2\pi \)

Hy vọng với phần giải thích chi tiết này, em sẽ không còn nhầm lẫn nữa. Hãy luyện tập thêm nhiều bài tập để nắm vững kiến thức nhé. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào khác, đừng ngần ngại hỏi cô!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 3

\(cos x=0⇔x=π/2 +kπ\)

\(cos x=1⇔x=k2π\)

 

Trả lời bởi: Đặng Dương Hiếu
▲ 1

Đây là công thức của lượng giác:

+)\(\cos x =0 <=> x = \frac{\pi}{2}+k\pi\) 

+)\(\cos x =1 <=> x= k2\pi\)

+)\(\cos x=-1 <=> x= \pi +k2\pi\)

+)\(\sin x=0 <=> x=k\pi\)

+)\(\sin x =1 <=> \frac{\pi}{2}+k2\pi\) 

+)\(\sin x=-1 <=> -\frac{\pi}{2}+k2\pi\) 

Trả lời bởi: Trung Nguyên Lò

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo