Đọc kỹ phần trích và trả lời các câu hỏi:
(…) Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc …
(…) Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng…
(…) Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác. (…)
(Trích Mùa xuân của tôi Vũ Bằng)
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
A. Biểu cảm.
B. Miêu tả.
C. Nghị luận.
D. Tự sự.
Câu 2. Tác giả đã tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và không khí mùa xuân của vùng nào?
A. Miền Bắc.
B. Miền Trung.
C. Miền Nam.
D. Tây Nguyên.
Câu 3. Câu văn nào thể hiện rõ nhất tình cảm yêu mến của tác giả đối với mùa xuân Hà Nội?
A. Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
B. Mùa xuân của tôi […] là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh […].
C. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn […].
D. […] Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng […].
Câu 4. Trong câu văn: Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong từ phong có nghĩa là gì?
A. Bọc kín.
B. Oai phong.
C. Cơn gió.
D. Đẹp đẽ.
Câu 5. Trong đoạn trích trên, tác giả yêu thích nhất mùa xuân vào thời điểm nào?
A. Sau rằm tháng giêng.
B. Vào ngày mùng một đầu năm.
C. Trong khoảng vài ba ngày Tết.
D. Trước rằm tháng giêng.
Câu 6. Câu nào không nêu đúng đặc điểm thiên nhiên mùa xuân ở xứ Bắc trong đoạn trích trên?
A. Gió đông về, báo hiệu mùa xuân mới đã bắt đầu.
B. Ra giêng, trời đã hết nồm, mưa xuân thay thế cho mưa phùn.
C. Trời có mưa riêu riêu và gió lành lạnh.
D. Cỏ tháng giêng nức một mùi hương man mác.
Câu 7. Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng nổi bật ở trong phần trích trên?
A. Điệp ngữ.
B. Nhân hóa.
C. Ẩn dụ.
D. So sánh.
Câu 8. Dấu gạch ngang trong câu: Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng… dùng để làm gì?
A. Đánh dấu ranh giới giữa các vế của một câu ghép.
B. Đặt ở giữa câu để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu.
C. Đặt ở đầu dòng để đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật hoặc để liệt kê.
D. Nối các từ nằm trong một liên danh.
Câu 9. Vào mùa xuân, đặc biệt dịp lễ, Tết, nhân dân thường có tục lệ dâng những sản vật, thức quý lên bàn thờ ông bà, tổ tiên. Em hãy kể tên một văn bản cũng gợi nhắc đến truyền thống này của dân tộc.
Câu 10. Nói về mùa xuân, Vũ Bằng đã viết “Tự nhiên là thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân”. Nêu quan điểm riêng của em về mùa xuân và lí giải điều đó?
Chúng ta bắt đầu với câu hỏi đầu tiên nhé!
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
A. Biểu cảm.
B. Miêu tả.
C. Nghị luận.
D. Tự sự.
Phân tích: Đoạn trích diễn tả tình cảm, cảm xúc của tác giả về mùa xuân. Các từ ngữ như “Đẹp quá đi”, “thân yêu”, “thương mến”, “yêu mùa xuân nhất” thể hiện rõ tâm trạng, rung động của nhà văn. Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các yếu tố miêu tả để làm cho tình cảm ấy thêm sinh động. Tuy nhiên, yếu tố cảm xúc là chủ đạo.
Đáp án: A. Biểu cảm.
Câu 2. Tác giả đã tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và không khí mùa xuân của vùng nào?
A. Miền Bắc.
B. Miền Trung.
C. Miền Nam.
D. Tây Nguyên.
Phân tích: Ngay từ đầu đoạn trích, tác giả đã khẳng định: “Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội”. Điều này cho thấy rõ ràng tác giả đang nói về mùa xuân ở miền Bắc, cụ thể là Hà Nội.
Đáp án: A. Miền Bắc.
Câu 3. Câu văn nào thể hiện rõ nhất tình cảm yêu mến của tác giả đối với mùa xuân Hà Nội?
A. Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
B. Mùa xuân của tôi […] là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh […].
C. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn […].
D. […] Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng […].
Phân tích: Câu A trực tiếp bộc lộ cảm xúc “Đẹp quá đi”, đồng thời khẳng định sự yêu mến đối với “Hà Nội thân yêu”, “Bắc Việt thương mến”. Các câu còn lại tuy có nhắc đến mùa xuân và tình cảm nhưng không trực tiếp và rõ ràng bằng câu A. Câu C nói về thời điểm yêu thích nhất, câu B và D miêu tả đặc điểm mùa xuân.
Đáp án: A. Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
Câu 4. Trong câu văn: Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong từ phong có nghĩa là gì?
A. Bọc kín.
B. Oai phong.
C. Cơn gió.
D. Đẹp đẽ.
Phân tích: Khi miêu tả hoa đào, từ “phong” ở đây có nghĩa là còn bọc kín, còn giữ được sự tươi tắn, chưa nở rộ hoàn toàn nhưng bên trong vẫn còn đầy sức sống. Nó gợi hình ảnh nhụy hoa chưa bị ong bướm làm hư hại, còn mọng nước.
Đáp án: A. Bọc kín.
Câu 5. Trong đoạn trích trên, tác giả yêu thích nhất mùa xuân vào thời điểm nào?
A. Sau rằm tháng giêng.
B. Vào ngày mùng một đầu năm.
C. Trong khoảng vài ba ngày Tết.
D. Trước rằm tháng giêng.
Phân tích: Tác giả viết: “Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn”. Điều này cho thấy tác giả có tình cảm đặc biệt với khoảng thời gian này.
Đáp án: A. Sau rằm tháng giêng.
Câu 6. Câu nào không nêu đúng đặc điểm thiên nhiên mùa xuân ở xứ Bắc trong đoạn trích trên?
A. Gió đông về, báo hiệu mùa xuân mới đã bắt đầu.
B. Ra giêng, trời đã hết nồm, mưa xuân thay thế cho mưa phùn.
C. Trời có mưa riêu riêu và gió lành lạnh.
D. Cỏ tháng giêng nức một mùi hương man mác.
Phân tích: Đoạn trích có nhắc đến “mưa riêu riêu, gió lành lạnh” (C) và “cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác” (D). Câu B cũng mô tả đúng đặc điểm của mùa xuân miền Bắc. Tuy nhiên, đoạn trích không hề nhắc đến “gió đông về” như là dấu hiệu bắt đầu mùa xuân, mà gió đông thường gắn liền với mùa đông hơn.
Đáp án: A. Gió đông về, báo hiệu mùa xuân mới đã bắt đầu.
Câu 7. Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng nổi bật ở trong phần trích trên?
A. Điệp ngữ.
B. Nhân hóa.
C. Ẩn dụ.
D. So sánh.
Phân tích:
– Điệp ngữ: Có sự lặp lại cụm từ “mùa xuân” nhưng không phải là điệp ngữ nổi bật nhất để tạo nhịp điệu hay nhấn mạnh.
– Nhân hóa: Tác giả không nhân hóa sự vật nào.
– Ẩn dụ: Không có ẩn dụ rõ ràng.
– So sánh: Câu “có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng” là một phép so sánh. Tuy nhiên, khi đọc cả đoạn trích, ta thấy tác giả liên tục liệt kê các hình ảnh, âm thanh, mùi vị đặc trưng của mùa xuân, tạo nên một bức tranh tổng thể đầy sức gợi. Việc liệt kê này, kết hợp với sự cảm nhận tinh tế của tác giả, đã tạo nên hiệu quả biểu đạt rất cao. Tuy nhiên, nếu xét về một biện pháp nổi bật và bao quát, thì chúng ta cần xem xét kỹ hơn. Các hình ảnh được liệt kê rất giàu hình ảnh và âm thanh, góp phần tạo nên sự lung linh, sống động. Tác giả dùng những từ ngữ rất giàu sức gợi để vẽ nên bức tranh mùa xuân.
Nếu xem xét kỹ các lựa chọn, “So sánh” chỉ xuất hiện ở một chỗ. “Điệp ngữ” (lặp lại “mùa xuân”) có nhưng không phải là nổi bật nhất. “Nhân hóa” và “Ẩn dụ” không có.
Trong bài này, tác giả tập trung vào việc miêu tả và bộc lộ cảm xúc. Các yếu tố miêu tả được sắp xếp theo trình tự liệt kê. Có thể xem đây là một hình thức liệt kê kết hợp với các biện pháp tu từ khác.
Tuy nhiên, nếu buộc phải chọn một biện pháp tu từ nổi bật nhất trong các đáp án đã cho, chúng ta cần xem xét lại.
Tác giả dùng những từ ngữ giàu hình ảnh, âm thanh, mùi vị để vẽ nên bức tranh mùa xuân. Ví dụ: “mưa riêu riêu”, “gió lành lạnh”, “tiếng nhạn kêu”, “tiếng trống chèo”, “câu hát huê tình”, “mùi hương man mác”. Những từ ngữ này góp phần tạo nên tính gợi hình, gợi cảm cho đoạn trích.
Giả sử có một lựa chọn là “liệt kê”, thì đó sẽ là đáp án phù hợp.
Tuy nhiên, trong các lựa chọn có sẵn, chúng ta cần cân nhắc. Phép so sánh “đẹp như thơ mộng” là có.
Xem xét lại: Các câu văn liệt kê các đặc điểm của mùa xuân. Tuy nhiên, trong các lựa chọn, không có “liệt kê”.
“Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng…”
Đây là một chuỗi các cụm danh từ đi kèm với các bổ ngữ, tạo thành một cấu trúc liệt kê.
Trong các lựa chọn A, B, C, D, phép so sánh “đẹp như thơ mộng” có xuất hiện. Tuy nhiên, nó chỉ là một phần nhỏ.
Nếu xét về mặt cảm xúc, tác giả dùng các từ ngữ miêu tả rất giàu sức gợi để làm nổi bật cảm xúc của mình.
Trong một số tài liệu tham khảo, khi phân tích đoạn trích này, người ta thường nhấn mạnh đến phép liệt kê để tạo nên bức tranh phong phú về mùa xuân. Tuy nhiên, “liệt kê” không có trong các đáp án.
Hãy xem xét lại câu hỏi và các đáp án một cách cẩn trọng.
Câu văn: “có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng…” – Đây rõ ràng là so sánh.
“Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng…” – Đây là một chuỗi các yếu tố miêu tả, liệt kê.
Nếu câu hỏi là “Biện pháp tu từ nào có thể được tìm thấy trong đoạn trích?”, thì so sánh chắc chắn là một trong số đó.
Xem xét các đáp án còn lại:
A. Điệp ngữ: “mùa xuân” lặp lại, nhưng không phải là điệp ngữ chính tạo nhịp điệu hay nhấn mạnh mạnh mẽ.
B. Nhân hóa: Không có.
C. Ẩn dụ: Không có.
Vậy, trong các lựa chọn này, so sánh là biện pháp tu từ có xuất hiện. Chúng ta cần xem xét xem liệu nó có phải là “nổi bật nhất” hay không. Tác giả dùng nhiều hình ảnh, âm thanh, mùi vị để miêu tả mùa xuân, tạo nên sự phong phú. Tuy nhiên, khi nói đến “biện pháp tu từ nổi bật”, chúng ta thường tìm kiếm những cái gì làm tăng tính biểu cảm, sức gợi mạnh mẽ.
Trong ngữ cảnh của lớp 7, khi học về biện pháp tu từ, phép so sánh thường được nhấn mạnh. Đoạn văn rất giàu hình ảnh, âm thanh, nhưng nếu chỉ chọn một, thì so sánh “đẹp như thơ mộng” là một phép so sánh cụ thể.
Hãy giả định rằng câu hỏi muốn tìm một biện pháp tu từ có mặt trong đoạn trích và có thể coi là nổi bật.
Đáp án: D. So sánh. (Với sự phân vân rằng liệt kê có thể phù hợp hơn nếu có trong lựa chọn).
Câu 8. Dấu gạch ngang trong câu: Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng… dùng để làm gì?
A. Đánh dấu ranh giới giữa các vế của một câu ghép.
B. Đặt ở giữa câu để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu.
C. Đặt ở đầu dòng để đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật hoặc để liệt kê.
D. Nối các từ nằm trong một liên danh.
Phân tích: Dấu gạch ngang được dùng để giải thích, chú thích thêm cho cụm từ đứng trước nó. Cụm từ “mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội” là để làm rõ hơn cho “Mùa xuân của tôi”. Đây là chức năng chú thích, giải thích.
Đáp án: B. Đặt ở giữa câu để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu.
Câu 9. Vào mùa xuân, đặc biệt dịp lễ, Tết, nhân dân thường có tục lệ dâng những sản vật, thức quý lên bàn thờ ông bà, tổ tiên. Em hãy kể tên một văn bản cũng gợi nhắc đến truyền thống này của dân tộc.
Phân tích: Truyền thống thờ cúng ông bà, tổ tiên vào dịp lễ Tết là một nét đẹp văn hóa lâu đời của dân tộc ta. Có nhiều văn bản văn học đã khắc họa điều này. Một văn bản tiêu biểu và quen thuộc với học sinh là “Gói bánh chưng”. Trong tác phẩm này, cảnh gia đình gói bánh chưng để dâng lên tổ tiên thể hiện rõ nét truyền thống đó.
Đáp án: Văn bản “Gói bánh chưng” (của nhà văn Nguyễn Tuân).
Câu 10. Nói về mùa xuân, Vũ Bằng đã viết “Tự nhiên là thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân”. Nêu quan điểm riêng của em về mùa xuân và lí giải điều đó?
Phân tích: Đây là câu hỏi mở, đòi hỏi ý kiến cá nhân của các em. Tuy nhiên, để trả lời tốt, các em cần dựa trên hiểu biết về mùa xuân và có lập luận chặt chẽ.
Quan điểm của Vũ Bằng về mùa xuân là sự yêu mến, sự mê luyến mãnh liệt, ông ví tình yêu mùa xuân với những tình yêu tự nhiên, vĩnh cửu trong cuộc sống.
Các em có thể đưa ra quan điểm của mình về mùa xuân như:
– Mùa xuân là biểu tượng của sự sống mới, sự hồi sinh, tươi mới sau một mùa đông lạnh lẽo.
– Mùa xuân mang đến niềm hy vọng, sự lạc quan cho con người.
– Mùa xuân là thời điểm của tình yêu, của sự kết nối, của những khởi đầu tốt đẹp.
– Mùa xuân là mùa của lễ hội, của sum vầy, đoàn viên.
Lí giải: Các em cần đưa ra những lý do cụ thể để bảo vệ quan điểm của mình. Ví dụ:
– Về sự sống mới: Mùa xuân cây cối đâm chồi nảy lộc, muôn hoa khoe sắc, chim muông ca hát. Cảnh vật thiên nhiên rộn ràng, tràn đầy sức sống.
– Về niềm hy vọng: Sau những khó khăn, thử thách, mùa xuân đến mang theo thông điệp về sự vượt qua, về một khởi đầu mới tốt đẹp hơn.
– Về tình yêu, sự kết nối: Mùa xuân là dịp các đôi lứa yêu nhau, là dịp gia đình sum họp, mọi người trao nhau những lời chúc tốt đẹp.
– Về lễ hội: Mùa xuân có nhiều ngày lễ quan trọng như Tết Nguyên Đán, mang ý nghĩa văn hóa sâu sắc.
Một ví dụ về câu trả lời:
“Em đồng ý với quan điểm của nhà văn Vũ Bằng về sự mê luyến mùa xuân. Đối với em, mùa xuân là mùa đẹp nhất trong năm.
Lí do là vì mùa xuân mang đến một sức sống mãnh liệt và một cảm giác tươi mới tràn ngập. Sau những ngày đông dài, khi tuyết tan và nắng ấm dần lên, thiên nhiên như bừng tỉnh dậy. Cây cối đâm chồi, nảy lộc, những nụ hoa hé nở mang theo sắc hương rực rỡ. Không khí trong lành, tiếng chim hót líu lo, tất cả đều tạo nên một bức tranh sinh động và đầy sức sống.
Hơn nữa, mùa xuân còn là mùa của hy vọng và khởi đầu mới. Tết Nguyên Đán, ngày lễ lớn nhất trong năm, mang đến cho mọi người cảm giác đoàn viên, ấm áp bên gia đình, cùng nhau nhìn lại năm cũ và hướng tới một năm mới với bao ước vọng tốt đẹp. Mùa xuân là thời điểm thích hợp để gieo những mầm hy vọng và ươm mầm cho những dự định, kế hoạch của bản thân.
Chính vì vậy, em cũng cảm thấy một sự yêu mến và trìu mến đặc biệt dành cho mùa xuân, giống như nhà văn Vũ Bằng đã từng viết.”
Các em thấy không, mùa xuân qua ngòi bút của Vũ Bằng thật là đẹp và đáng yêu. Qua bài học hôm nay, cô hy vọng các em cũng cảm nhận được vẻ đẹp và ý nghĩa của mùa xuân, không chỉ qua trang sách mà còn trong chính cuộc sống xung quanh mình.
Hẹn gặp lại các em trong những bài học tiếp theo nhé!
Câu 1.
A. Biểu cảm.
Giải thích: Đoạn trích thể hiện cảm xúc và sự yêu mến của tác giả đối với mùa xuân, Hà Nội, thể hiện rõ qua các câu văn đầy cảm xúc, gợi hình ảnh và âm thanh mùa xuân.
Câu 2.
A. Miền Bắc.
Giải thích: Trong đoạn trích, tác giả mô tả mùa xuân ở Hà Nội -> miền Bắc.
Câu 3:
A. Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
Giải thích: Câu này thể hiện tình cảm yêu mến của tác giả một cách trực tiếp và mạnh mẽ nhất qua cụm từ “thân yêu”, “thương mến”.
Câu 4.
D. Đẹp đẽ.
Giải thích: Từ “phong” ở đây có nghĩa là đẹp đẽ, thơm tho, gợi lên hình ảnh nhụy hoa còn tươi tắn dù cánh hoa đã hơi phai.
Câu 5.
A. Sau rằm tháng giêng.
Giải thích: Tác giả đã viết “tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng”, cho thấy thời điểm này là lúc tác giả yêu thích nhất.
Câu 6.
B. Ra giêng, trời đã hết nồm, mưa xuân thay thế cho mưa phùn.
Giải thích: Câu này không xuất hiện trong đoạn trích và không đúng với các đặc điểm thiên nhiên mùa xuân đã được miêu tả.
Câu 7.
B. Nhân hóa.
Giải thích: Tác giả sử dụng biện pháp nhân hóa khi miêu tả mùa xuân với những cảm giác như “mùa xuân có tiếng trống chèo”, “có câu hát huê tình”, v.v., gợi ra hình ảnh sống động của thiên nhiên.
Câu 8.
B. Đặt ở giữa câu để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu.
Giải thích: Dấu gạch ngang được dùng để nhấn mạnh và giải thích về mùa xuân của tác giả, giúp câu văn thêm phần mạch lạc và rõ ràng.
Câu 9.
Trả lời: Một ví dụ có thể là bài thơ “Tết đến trong lòng” của tác giả Trần Đăng Khoa, khi nói đến việc dâng lễ vật, các mâm ngũ quả lên bàn thờ ông bà trong dịp Tết Nguyên đán. Cũng có thể là các văn bản trong tập “Văn học dân gian Việt Nam” mô tả các tục lệ trong lễ hội Tết.
Câu 10.
Mùa xuân đối với em không chỉ là mùa của thiên nhiên mà còn là mùa của những cảm xúc vẹn tròn, tinh khôi và tràn đầy hy vọng. Khi mùa xuân đến, mọi thứ như được tái sinh, đất trời bừng lên sức sống mới, cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa cỏ đua nhau khoe sắc. Nhưng mùa xuân không chỉ là một chu kỳ tự nhiên của vạn vật mà còn là mùa của tình yêu và những mối quan hệ thiêng liêng. Vũ Bằng đã rất chính xác khi nói rằng “ai cấm được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa”, bởi vì mùa xuân khơi gợi trong mỗi con người tình cảm yêu thương, gắn bó, như thể mùa xuân là lúc tất cả những khát khao về một cuộc sống mới mẻ, tràn đầy yêu thương, đều được nảy nở. Em nghĩ rằng mùa xuân khiến mỗi người cảm thấy gần gũi hơn với những điều bình dị trong cuộc sống. Mùa xuân làm cho người ta thêm yêu quê hương, yêu gia đình và những mối quan hệ thân thiết. Cũng như trong câu nói của Vũ Bằng, những cảm xúc mạnh mẽ nhất trong con người, như tình yêu đôi lứa, tình mẹ con, hay tình quê hương, lại được bộc lộ rõ rệt hơn bao giờ hết vào mùa xuân. Đây là thời điểm mà con người dễ dàng cảm nhận được sự kết nối giữa mình với thiên nhiên, với gia đình và xã hội. Những hạt giống của hy vọng, sự khát khao, tình yêu và lòng biết ơn được gieo trồng trong lòng mỗi người, và mùa xuân là mùa để những hạt giống ấy có thể nảy mầm, đơm hoa kết trái. Vì vậy, mùa xuân không chỉ là thời gian trong năm, mà là một trạng thái tâm hồn, là sự thức tỉnh của những ước mơ và niềm tin vào tương lai. Mùa xuân mang trong mình một thông điệp tích cực: dù cuộc sống có khó khăn hay thử thách đến đâu, thì sau mỗi mùa đông tăm tối, vẫn luôn có một mùa xuân tươi sáng, đầy sức sống chờ đón. Mùa xuân làm cho con người ta thêm yêu thương nhau, thêm gắn bó với nhau và tìm lại được niềm vui trong những điều đơn giản nhất. Chính vì vậy, mùa xuân trở thành mùa mà ai cũng muốn đón nhận, bởi trong đó chứa đựng những điều tốt đẹp, những khởi đầu mới mẻ và đầy hy vọng.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên?
⇒ A. Biểu cảm.
Câu 2. Tác giả đã tái hiện cảnh sắc thiên nhiên và không khí mùa xuân của vùng nào?
⇒ A. Miền Bắc.
Câu 3. Câu văn nào thể hiện rõ nhất tình cảm yêu mến của tác giả đối với mùa xuân Hà Nội?
⇒ A. Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
Câu 4. Trong câu văn: Đào hơi phai nhưng nhụy vẫn còn phong từ phong có nghĩa là gì?
⇒ A. Bọc kín.
Câu 5. Trong đoạn trích trên, tác giả yêu thích nhất mùa xuân vào thời điểm nào?
⇒ A. Sau rằm tháng giêng.
Câu 6. Câu nào không nêu đúng đặc điểm thiên nhiên mùa xuân ở xứ Bắc trong đoạn trích trên?
⇒ A. Gió đông về, báo hiệu mùa xuân mới đã bắt đầu.
Câu 7. Xác định biện pháp tu từ được tác giả sử dụng nổi bật ở trong phần trích trên?
⇒ A. Điệp ngữ.
Câu 8. Dấu gạch ngang trong câu: Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng… dùng để làm gì?
⇒ B. Đặt ở giữa câu để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu.
Câu 9. Tên một văn bản cũng gợi nhắc đến truyền thống này của dân tộc là ” Mùa xuân của tôi ”
Câu 10 . – Em đồng ý với ý kiến của vũ bằng
– Quan điểm riêng của em
\(+\) Mùa xuân là mùa cây cối đâm chồi nảy lộc,muôn hoa đua sắc
\(+\) Mùa xuân mang lại sự sông,vui tươi cho muôn loài
\(+\) Mùa xuân tạo nên khung cảnh vui đẹp,đầy sức sống
Choiquynh
Hoidap247