Dựa vào cấu trúc phân tử giải thích tại sao phân tử H2O phân cực,phân tử CO2 khô…
Dựa vào cấu trúc phân tử giải thích tại sao phân tử H2O phân cực,phân tử CO2 không phân cực
Cần gấp
Chúng ta sẽ giải bài tập này dựa trên chương trình sách giáo khoa mới, áp dụng những nguyên tắc cơ bản về cấu trúc phân tử và độ âm điện.
BÀI TẬP: Dựa vào cấu trúc phân tử giải thích tại sao phân tử H2O phân cực, phân tử CO2 không phân cực.
Lời giải chi tiết:
Để giải thích tính phân cực của phân tử, chúng ta cần xem xét hai yếu tố chính:
1. Sự phân cực của các liên kết hóa học trong phân tử.
2. Hình dạng hình học của phân tử.
Bước 1: Phân tích phân tử H2O
1.1. Xác định các nguyên tố và loại liên kết:
Phân tử H2O được tạo thành từ nguyên tố Oxi (O) và Hidro (H). Giữa O và H hình thành liên kết cộng hóa trị.
1.2. So sánh độ âm điện và xác định sự phân cực của liên kết:
Chúng ta cần tra bảng độ âm điện. Theo đó:
– Độ âm điện của Oxi (O) là khoảng 3.44.
– Độ âm điện của Hidro (H) là khoảng 2.20.
Vì độ âm điện của O lớn hơn độ âm điện của H (3.44 > 2.20), nên liên kết O-H là liên kết cộng hóa trị có cực.
Cặp electron dùng chung trong liên kết O-H sẽ bị hút lệch về phía nguyên tử Oxi có độ âm điện lớn hơn. Điều này tạo ra một phần điện tích âm (δ-) trên nguyên tử Oxi và một phần điện tích dương (δ+) trên mỗi nguyên tử Hidro.
Ta có thể biểu diễn sự phân cực của liên kết O-H như sau:
Hδ+ – Oδ- – Hδ+
1.3. Xác định hình dạng hình học của phân tử:
Dựa vào thuyết VSEPR (Thuyết đẩy cặp electron hóa trị), nguyên tử Oxi là nguyên tử trung tâm. Oxi có 2 cặp electron liên kết với 2 nguyên tử H và 2 cặp electron không liên kết (còn gọi là cặp electron tự do).
Tổng cộng có 4 “vùng” mật độ electron xung quanh nguyên tử trung tâm. Theo thuyết VSEPR, các vùng này sắp xếp sao cho chúng cách xa nhau nhất về mặt không gian, dẫn đến hình dạng gần giống tứ diện.
Tuy nhiên, do có 2 cặp electron không liên kết, hình dạng thực tế của phân tử H2O bị bẻ cong, tạo thành hình dạng “gấp khúc” hoặc “góc”. Góc liên kết H-O-H nhỏ hơn 109.5 độ (khoảng 104.5 độ) do sự đẩy của các cặp electron không liên kết.
1.4. Kết luận về tính phân cực của phân tử H2O:
Vì phân tử H2O có hình dạng gấp khúc, các momen lưỡng cực của hai liên kết O-H (hướng từ H về O) không triệt tiêu lẫn nhau mà cộng hưởng lại tạo thành một momen lưỡng cực chung của phân tử có độ lớn khác không và hướng về phía nguyên tử Oxi.
Do đó, phân tử H2O là phân tử phân cực.
Bước 2: Phân tích phân tử CO2
2.1. Xác định các nguyên tố và loại liên kết:
Phân tử CO2 được tạo thành từ nguyên tố Cacbon (C) và Oxi (O). Giữa C và O hình thành liên kết cộng hóa trị. Thực tế, đây là liên kết đôi C=O.
2.2. So sánh độ âm điện và xác định sự phân cực của liên kết:
Tra bảng độ âm điện:
– Độ âm điện của Oxi (O) là khoảng 3.44.
– Độ âm điện của Cacbon (C) là khoảng 2.55.
Vì độ âm điện của O lớn hơn độ âm điện của C (3.44 > 2.55), nên liên kết C=O là liên kết cộng hóa trị có cực.
Cặp electron dùng chung trong liên kết C=O sẽ bị hút lệch về phía nguyên tử Oxi. Điều này tạo ra một phần điện tích âm (δ-) trên mỗi nguyên tử Oxi và một phần điện tích dương (δ+) trên nguyên tử Cacbon.
Ta có thể biểu diễn sự phân cực của liên kết C=O như sau:
Oδ- = Cδ+ = Oδ-
2.3. Xác định hình dạng hình học của phân tử:
Nguyên tử Cacbon là nguyên tử trung tâm. Cacbon có 2 liên kết đôi với 2 nguyên tử Oxi và không có cặp electron không liên kết nào.
Theo thuyết VSEPR, 2 “vùng” mật độ electron (mỗi liên kết đôi được coi là một vùng) sẽ sắp xếp thẳng hàng nhau để xa nhau nhất.
Do đó, phân tử CO2 có hình dạng thẳng, với góc liên kết O-C-O bằng 180 độ.
2.4. Kết luận về tính phân cực của phân tử CO2:
Mặc dù các liên kết C=O là liên kết phân cực, nhưng do phân tử CO2 có hình dạng thẳng đối xứng, nên hai momen lưỡng cực của hai liên kết C=O có độ lớn bằng nhau và ngược chiều nhau.
Hai momen lưỡng cực này triệt tiêu lẫn nhau.
(Momen lưỡng cực của liên kết là một đại lượng vector, có độ lớn và hướng).
Vì vậy, momen lưỡng cực chung của phân tử CO2 bằng 0.
Do đó, phân tử CO2 là phân tử không phân cực.
Tóm lại, sự khác biệt về tính phân cực giữa H2O và CO2 chủ yếu là do sự khác nhau về hình dạng hình học của phân tử, mặc dù cả hai đều chứa các liên kết cộng hóa trị có cực. H2O có hình dạng gấp khúc nên các momen lưỡng cực của liên kết không triệt tiêu, còn CO2 có hình dạng thẳng nên các momen lưỡng cực của liên kết triệt tiêu nhau.
Hy vọng lời giải thích này đã giúp các em hiểu rõ vấn đề. Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, đừng ngần ngại hỏi thầy nhé!
\(H_2 O\) là phân tử phân cực
\(CO_2\) không phân cực
\(-\) Dù \(C;O\) là liên kết phân cực, nhưng \(CO_2\) có cấu tạo mạch thẳng nên không phân cực
\(- H_2 O\) lại khác, nó không có cấu tạo mạch thẳng, nên \(e\) bị lệch về phía \(O\)
\(@ \) Đối với phân tử \(\rm CO_2\)
Có chưa 2 liên kết \(\rm C=O\) phân cực , nhưng vì phân tử này có cấu trúc dạng thẳng nên moment của 2 lực hút triệt tiêu nhau nên mất đi sự phân cực của liên kết cộng hóa trị này .
Cấu trúc : \(\rm O=C=C\)
\(@\) Đối với phân tử \(\rm H_2O\)
Nguyên tố \(\rm O\) có độ âm điện lớn hơn nên đã kéo \(e\) của \(\rm H\) về phía mình và phân tử này không có sự triệt tiêu moment lực , góc liên kết của phân tử là \(\rm 104^05’\)