I. ĐỌC HIỂU
Đọc bài thơ sau
Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa Xuân đâu hỡi …
Đọc bài thơ sau
Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,
Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?
Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.
Bờ cõi xưa đà chia đất khác,
Nắng sương nay há đội trời chung.
Chừng nào Thánh đế ân soi thấu
Một trận mưa nhuần rửa núi sông.
(Xúc cảnh, Nguyễn Đình Chiểu)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0.75 điểm)
Câu 2: Tìm 03 từ ngữ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ
Câu 3: Nêu hiệu quả của phép đối được sử dụng trong hai câu thơ:
Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn
Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng
Câu 4: Khát vọng của tác giả được thể hiện như thế nào qua bài thơ?
Câu 1: Bài thơ được viết theo thể thơ nào? (0.75 điểm)
Để xác định thể thơ, chúng ta cần quan sát cách gieo vần, số chữ trong mỗi câu và bố cục của bài thơ.
* Đầu tiên, chúng ta đếm số chữ trong mỗi câu thơ:
* “Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,” – 8 chữ
* “Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?” – 8 chữ
* “Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn” – 8 chữ
* “Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.” – 8 chữ
* “Bờ cõi xưa đà chia đất khác,” – 8 chữ
* “Nắng sương nay há đội trời chung.” – 8 chữ
* “Chừng nào Thánh đế ân soi thấu” – 8 chữ
* “Một trận mưa nhuần rửa núi sông.” – 8 chữ
Như vậy, tất cả các câu thơ đều có 8 chữ.
* Tiếp theo, chúng ta xét vần:
* Chữ “đông” (câu 1) vần với “không” (câu 2), “hồng” (câu 4).
* Chữ “nhạn” (câu 3) vần với “khác” (câu 5)? À không, chúng ta cần xem lại cách gieo vần của thơ Đường luật hoặc thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
* Trong thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, vần thường rơi vào các chữ cuối câu 1, 2, 4, 6, 8 và có thể cả câu 3, 5, 7 tùy theo luật.
* Ở đây, ta thấy chữ cuối các câu 2, 4, 6, 8 đều có vần “ông”, “ông”, “ung”, “ông” (gần âm). Cụ thể là: “không”, “hồng”, “chung”, “sông”.
* Bây giờ ta xem xét các câu còn lại. Chữ “đông” ở câu 1, nếu nó có vần thì sẽ là vần “ông”. “đông” và “không” có cùng vần “ông”.
* Tiếng “nhạn” ở câu 3 và tiếng “khác” ở câu 5 không cùng vần với nhau.
* Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy có sự hiệp vần giữa các câu 2, 4, 6, 8. Bên cạnh đó, câu 1 cũng có vần với câu 2.
* Bài thơ có 8 câu, mỗi câu 8 chữ. Đây là dấu hiệu rõ ràng của thể thơ Thất ngôn bát cú Đường luật. Luật thơ này quy định cấu trúc và cách gieo vần chặt chẽ.
Kết luận: Bài thơ được viết theo thể Thất ngôn bát cú Đường luật.
Câu 2: Tìm 03 từ ngữ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ
Chúng ta cần đọc kỹ từng câu thơ để tìm những từ ngữ thể hiện tâm trạng, cảm xúc của người nói trong bài.
* Câu 1: “Hoa cỏ ngùi ngùi ngóng gió đông,”
* Từ “ngùi ngùi” gợi lên một nỗi buồn man mác, một sự trông mong da diết, có thể là sự trống vắng.
* Câu 2: “Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?”
* Câu hỏi tu từ “Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?” bộc lộ sự sốt ruột, mong mỏi, thậm chí là sự trách móc nhẹ nhàng khi mùa xuân (tượng trưng cho sự tươi mới, an lành, đoàn viên) dường như vắng bóng hoặc không mang lại niềm vui.
* Câu 3: “Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn”
* Từ “trông” thể hiện sự chờ đợi, hy vọng.
* Câu 4: “Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.”
* “Bặt tiếng hồng” – tiếng chim hồng (tượng trưng cho tin tức tốt lành, sự đoàn tụ) đã tắt hẳn. Sự “bặt tiếng” này gợi lên sự im lặng đáng sợ, sự cô đơn, mất mát.
* Câu 5 & 6: “Bờ cõi xưa đà chia đất khác, / Nắng sương nay há đội trời chung.”
* Câu thơ diễn tả sự chia cắt, mất mát quê hương. Cảm xúc ở đây là đau xót, uất hận.
* Câu 7 & 8: “Chừng nào Thánh đế ân soi thấu / Một trận mưa nhuần rửa núi sông.”
* “Chừng nào” thể hiện sự trông đợi, một niềm hy vọng xa vời.
Trong các từ ngữ trên, ta có thể chọn 3 từ hoặc cụm từ nổi bật nhất thể hiện tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình:
1. Ngùi ngùi (ở câu 1): Diễn tả nỗi buồn, sự trống vắng, mong mỏi.
2. Trông (ở câu 3): Thể hiện sự chờ đợi, hy vọng vào một điều gì đó.
3. Bặt tiếng (ở câu 4): Gợi lên sự cô đơn, mất mát, tuyệt vọng khi không còn nghe thấy những tin tức tốt lành.
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể chọn: “đâu hỡi có hay không?” (sự sốt ruột, mong mỏi), “chia đất khác” (nỗi đau xót, uất hận). Tuy nhiên, 3 từ ngữ trên là trực tiếp và giàu sức gợi nhất.
Kết luận: Ba từ ngữ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của nhân vật trữ tình là: ngùi ngùi, trông, bặt tiếng.
Câu 3: Nêu hiệu quả của phép đối được sử dụng trong hai câu thơ: Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn / Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng
Chúng ta cần phân tích hai câu thơ này để xem chúng đối nhau ở những điểm nào và sự đối nhau đó mang lại tác dụng gì.
* Phân tích phép đối:
* Vị trí địa lý: “ải Bắc” đối với “non Nam”. Đây là sự đối lập không gian, một bên là phương Bắc, một bên là phương Nam, gợi sự chia cắt về địa lý.
* Thời gian: “Mây giăng” (thời điểm có thể là ban ngày, có thể kéo dài) đối với “ngày xế” (buổi chiều tà, thời gian cuối ngày). Sự đối lập này làm tăng cảm giác thời gian trôi đi trong sự chờ đợi vô vọng.
* Hình ảnh và tín hiệu: “tin nhạn” (nhạn là loài chim di cư, thường mang tin tức, đặc biệt là tin tức từ phương xa, ở đây là tin tức từ phương Bắc) đối với “tiếng hồng” (chim hồng là biểu tượng của tin vui, tin lành). Cả hai đều là những tín hiệu về tin tức, nhưng một bên là “trông” (mong mỏi nhận được) và một bên là “bặt tiếng” (im bặt, không còn nghe thấy).
* Hành động và trạng thái: “trông tin nhạn” (hành động chờ đợi, hy vọng) đối với “bặt tiếng hồng” (trạng thái im lặng, mất mát).
* Hiệu quả của phép đối:
* Tăng tính biểu cảm: Sự đối lập giữa Bắc – Nam, ban ngày – chiều tà, hy vọng – mất mát, tín hiệu – sự im lặng làm nổi bật nỗi niềm của nhân vật trữ tình.
* Nhấn mạnh sự chia cắt và nỗi buồn: Phép đối “ải Bắc” và “non Nam” trực tiếp nói lên sự chia cắt đất nước, giang sơn. Cùng với đó, việc “trông tin nhạn” ở phương Bắc mà “bặt tiếng hồng” ở phương Nam cho thấy sự bế tắc, vô vọng trong việc nhận được tin tức đoàn tụ, tin vui. Sự im lặng của “tiếng hồng” tương phản với sự trông đợi khắc khoải “tin nhạn” càng làm tăng nỗi buồn, sự cô đơn.
* Gợi suy ngẫm về thời thế: Phép đối còn gợi cho người đọc suy ngẫm về hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, về sự mong mỏi thống nhất, về tương lai mịt mờ.
* Tăng tính nhạc điệu và thẩm mĩ cho câu thơ: Phép đối làm cho hai câu thơ trở nên cân đối, hài hòa, giàu nhạc điệu và tạo ấn tượng sâu sắc về mặt thị giác và thính giác cho người đọc.
Kết luận: Hiệu quả của phép đối trong hai câu thơ này là làm nổi bật sự chia cắt về không gian địa lý (Bắc – Nam), sự khắc khoải, chờ đợi vô vọng của nhân vật trữ tình (trông tin nhạn – bặt tiếng hồng), qua đó diễn tả sâu sắc nỗi niềm đau xót, uất hận trước cảnh đất nước chia lìa và sự bế tắc trong thời đại.
Câu 4: Khát vọng của tác giả được thể hiện như thế nào qua bài thơ?
Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xem xét toàn bộ bài thơ, đặc biệt là những câu thơ cuối bài để tìm ra mong muốn, ước nguyện lớn lao nhất của tác giả.
* Phân tích bài thơ theo mạch cảm xúc:
* Mở đầu bài thơ là nỗi lòng buồn bã, ngậm ngùi của cảnh vật (hoa cỏ ngùi ngùi) và sự sốt ruột, mong mỏi (Chúa Xuân đâu hỡi có hay không?). Đây là tâm trạng chung của một thời kỳ đen tối, có thể là triều đình suy yếu hoặc sự bế tắc trong cuộc sống.
* Tiếp theo là nỗi buồn bã, cô đơn khi nhìn về hai miền đất nước chia cắt: “Mây giăng ải Bắc trông tin nhạn / Ngày xế non Nam bặt tiếng hồng.” Cảnh vật thiên nhiên cũng nhuốm màu u buồn, gợi sự chia ly, mất mát.
* Đặc biệt, hai câu 5 và 6 diễn tả thẳng thắn nỗi đau của sự chia cắt đất nước: “Bờ cõi xưa đà chia đất khác, / Nắng sương nay há đội trời chung.” Từ “chia đất khác” cho thấy sự mất mát về lãnh thổ, bờ cõi. Cụm từ “há đội trời chung” thể hiện sự uất hận, đau xót khi hai miền không còn chung một bầu trời hòa bình, an lành.
* Cuối cùng, bài thơ bộc lộ khát vọng mãnh liệt nhất của tác giả qua hai câu thơ: “Chừng nào Thánh đế ân soi thấu / Một trận mưa nhuần rửa núi sông.”
* Khát vọng được thể hiện:
* Khát vọng thống nhất đất nước: Qua hình ảnh “bờ cõi xưa đà chia đất khác”, tác giả bày tỏ nỗi đau đớn và mong muốn đất nước được đoàn tụ, không còn chia cắt.
* Khát vọng an bình và thái bình: “Một trận mưa nhuần rửa núi sông” là hình ảnh ẩn dụ cho sự thanh tẩy, gột rửa những tai ương, ách nạn, mang lại sự bình yên, tươi tốt cho đất nước. “Mưa nhuần” là cơn mưa đúng lúc, tốt tươi, trái ngược với “mưa đá”, “gió tanh mưa máu” của thời loạn lạc. Tác giả mong mỏi có một vị “Thánh đế” (người lãnh đạo anh minh, sáng suốt) xuất hiện, ban ân huệ soi xét để “rửa sạch” những gì đang làm đau khổ đất nước, mang lại cuộc sống an lành, phồn vinh.
* Khát vọng về một triều đại minh quân: Cụm từ “Thánh đế ân soi thấu” thể hiện niềm tin và mong mỏi vào một vị vua anh minh, biết quan tâm đến dân, đến nước, có thể đưa đất nước thoát khỏi cảnh lầm than, chia cắt.
Kết luận: Khát vọng của tác giả qua bài thơ là khát vọng thống nhất non sông, cầu mong thái bình an lạc, thoát khỏi cảnh chia cắt, lầm than, và mong mỏi sự xuất hiện của một minh quân để đưa đất nước trở về với sự toàn vẹn, phồn thịnh.
Các em thấy đó, bài thơ “Xúc cảnh” của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ là những vần thơ tả cảnh mà còn chứa đựng những tâm tư, tình cảm sâu sắc, những khát vọng lớn lao của một người yêu nước thương dân. Các em về nhà đọc lại bài thơ và suy ngẫm thêm nhé.
C1. Thể thơ thất ngôn bát cú
C2. ngùi ngùi, trông tin, há đội trời chung
C3.
– Diễn tả không gian mênh mông, thời gian đằng đẵng.
– Biểu hiện nỗi niềm trông ngóng rất thực ở nhà thơ
C4. Khát vọng đất nước yên bình, không còn bị chia cắt.