Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

Nhận xét về truyện Kiều của Nguyễn Du Mộng Liên Đường chủ nhân viết nguyễn du là…

Nhận xét về truyện Kiều của Nguyễn Du Mộng Liên Đường chủ nhân viết nguyễn du là…

Nhận xét về truyện Kiều của Nguyễn Du Mộng Liên Đường chủ nhân viết nguyễn du là người có” con mắt trông thấu cả 6 cõi, có tấm lòng suốt cả nghìn đời”. Dựa vào đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích làm sáng tỏ ý kiến trên
Hỏi bởi: nguyenphong175
3 câu trả lời

▲ 1
Chào các em học sinh yêu quý của cô! Hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào một kiệt tác văn chương của dân tộc – Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du.
Đề bài yêu cầu chúng ta nhận xét về lời khen ngợi của Mộng Liên Đường chủ nhân dành cho Nguyễn Du: “con mắt trông thấu cả sáu cõi, có tấm lòng suốt cả nghìn đời”, và làm sáng tỏ ý kiến này dựa vào đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”.
Chúng ta sẽ cùng nhau phân tích từng bước một nhé.

Bước 1: Hiểu rõ ý kiến của Mộng Liên Đường chủ nhân
Lời nhận xét “con mắt trông thấu cả sáu cõi, có tấm lòng suốt cả nghìn đời” có ý nghĩa gì?
– “Con mắt trông thấu cả sáu cõi”: Ý này ca ngợi khả năng quan sát, nhìn nhận tinh tường, vượt lên trên giới hạn thông thường của Nguyễn Du. “Sáu cõi” ở đây có thể hiểu là khắp vũ trụ, thế gian, thấu hiểu lẽ đời, kiếp người, cả những điều ẩn sâu bên trong.
– “Có tấm lòng suốt cả nghìn đời”: Ý này khẳng định sự đồng cảm, thấu hiểu sâu sắc của Nguyễn Du đối với nỗi khổ, niềm đau của con người qua mọi thời đại. Tấm lòng ấy không chỉ giới hạn ở một thời kỳ nhất định mà còn vang vọng, lay động lòng người qua hàng ngàn năm.
Nói tóm lại, Mộng Liên Đường chủ nhân muốn khen Nguyễn Du là một bậc thiên tài có tầm nhìn xa trông rộng, có trái tim nhân ái, biết đồng cảm và trân trọng giá trị nhân văn.

Bước 2: Phân tích đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” để tìm dẫn chứng
Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” miêu tả cảnh Kiều bị giam cầm ở lầu Ngưng Bích sau khi bị Thúc Sinh phản bội và bị Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt. Đây là đỉnh điểm của bi kịch cuộc đời Kiều.
Chúng ta sẽ xem xét hai khía cạnh để làm sáng tỏ ý kiến của Mộng Liên Đường chủ nhân:

2.1. Khía cạnh “con mắt trông thấu cả sáu cõi”:
Nguyễn Du đã thể hiện “con mắt trông thấu” của mình qua việc:

  • Phân tích bức tranh thiên nhiên trong đoạn trích:

    Tác giả chọn những hình ảnh thiên nhiên có tính chất đối lập, gợi buồn, cô đơn để làm nền cho tâm trạng Kiều.

    Ví dụ:

    • “Tây phong rít qua cửa bể,” : Gió tây thổi mạnh, gợi sự khắc nghiệt, lạnh lẽo, dự báo điềm chẳng lành. (Tác giả nhìn thấy cả sự vận động của tự nhiên, và liên hệ với số phận con người).
    • “Mây tầng phơ phất nhẹ bay.” : Mây trôi lững lờ, vô định, gợi sự trôi dạt, không nơi nương tựa của Kiều.
    • “Cỏ non xanh tận chân trời,” : Màu xanh mơn mởn của cỏ non có thể gợi sự sống, sức sống, nhưng ở đây lại là sự tương phản với cảnh ngộ của Kiều, càng làm nổi bật sự nhỏ bé, lạc lõng của nàng.
    • “Hoa bay man mác có bay đâu?” : Hoa bay đi, không biết về đâu, giống như sự nổi trôi, mất phương hướng của Kiều. (Đây là cách tác giả nhìn nhận sự vật, hiện tượng và gửi gắm tâm trạng).
  • Phân tích tâm trạng của Kiều:

    Tác giả không chỉ miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên mà còn vô cùng tinh tế khi khắc họa nỗi lòng của Kiều qua cách nàng liên tưởng, suy tư.

    Ví dụ:

    • Khi nhìn cảnh vật bên ngoài, Kiều nhớ về quê hương, gia đình: “Nhớ từ đi cách mấy ngàn dặm, Thân đơn chiếc biết tìm nơi nương đâu?” (Tác giả thấu hiểu nỗi nhớ quê hương, nỗi cô đơn, sự bất lực của Kiều khi xa xứ).
    • Khi Kiều nhìn ra biển, nàng nhớ đến Kim Trọng: “Nhớ người quân tử thuyền quyên…” (Tác giả nhìn thấy cả những mối tình đã qua, những day dứt, khắc khoải trong lòng nhân vật).
    • Kiều còn nhìn xa hơn, nghĩ đến tương lai mờ mịt, sự phụ bạc của người đời: “Biết đến bao giờ khuây khoả?… Thà rằng trơ mình đợi ngọc trên cành, còn hơn là rơi xuống đất làm tro than.” (Tác giả nhìn thấy cả sự tuyệt vọng, suy nghĩ về cái chết, nhưng cuối cùng vẫn níu giữ hy vọng mong manh).

Tất cả những hình ảnh thiên nhiên, những suy tư, day dứt của Kiều đều được Nguyễn Du tái hiện vô cùng chân thực, sâu sắc. Điều đó cho thấy ông không chỉ quan sát thế giới bên ngoài mà còn thấu hiểu thế giới nội tâm phức tạp của con người.

2.2. Khía cạnh “có tấm lòng suốt cả nghìn đời”:
Nguyễn Du thể hiện tấm lòng nhân ái, bao dung của mình qua việc:

  • Đồng cảm với nỗi đau của Kiều:

    Dù Kiều có những lựa chọn sai lầm, nhưng Nguyễn Du không phán xét gay gắt mà luôn đặt mình vào vị trí của nàng để thấu hiểu.

    Ngòi bút của ông tràn đầy xót xa, thương cảm cho thân phận người phụ nữ tài hoa bạc mệnh, bị cuộc đời vùi dập.

    Những câu thơ như “Thân đơn chiếc biết tìm nơi nương đâu?”, “Biết đến bao giờ khuây khoả?”… là minh chứng rõ nét cho tình cảm ấy.

  • Phê phán xã hội bất công:

    Qua bi kịch của Kiều, Nguyễn Du đã gián tiếp tố cáo những thế lực đen tối, những kẻ xấu xa trong xã hội đã làm tan nát cuộc đời nàng.

    Sự trơ tráo của Sở Khanh, sự tàn nhẫn của Tú Bà, sự bạc bẽo của Thúc Sinh… đều được miêu tả một cách chân thực, cho thấy sự bất công, tàn khốc của xã hội phong kiến.

    Điều này cho thấy Nguyễn Du không chỉ quan tâm đến cá nhân Kiều mà còn nhìn thấy những vấn đề lớn lao hơn của thời đại, của xã hội.

  • Đề cao giá trị con người:

    Dù ở hoàn cảnh nào, Kiều vẫn giữ được những phẩm chất tốt đẹp của mình: sự thông minh, tài năng, tấm lòng thủy chung.

    Nguyễn Du trân trọng những giá trị ấy và muốn gửi gắm thông điệp về sự bất tử của cái đẹp, cái thiện.

    Điều này cho thấy tấm lòng của ông hướng đến những giá trị nhân văn cao cả, có sức sống bền bỉ qua nhiều thế hệ.

Bước 3: Khái quát và kết luận
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định:

  • “Con mắt trông thấu cả sáu cõi” của Nguyễn Du được thể hiện qua việc ông miêu tả thiên nhiên tinh tế, gợi cảm và đặc biệt là khả năng đi sâu vào phân tích tâm trạng, suy tư phức tạp của nhân vật. Ông nhìn thấy cả thế giới bên ngoài và thế giới nội tâm sâu thẳm.
  • “Tấm lòng suốt cả nghìn đời” của ông được thể hiện qua tình cảm xót thương, đồng cảm sâu sắc với Kiều, lên án xã hội bất công và đề cao những giá trị nhân văn tốt đẹp. Tình cảm ấy vượt ra khỏi phạm vi thời đại, lay động trái tim con người qua bao thế hệ.

Như vậy, lời nhận xét của Mộng Liên Đường chủ nhân hoàn toàn chính xác. Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” chính là một minh chứng hùng hồn cho tài năng và tấm lòng vĩ đại của Đại thi hào Nguyễn Du, khẳng định Truyện Kiều xứng đáng là kiệt tác của dân tộc và có giá trị vượt thời gian.

Chúc các em học tốt!

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 2

Kể đến những tác giả, tác phẩm xuất sắc của văn học trung đại Việt Nam, ta nghĩ ngay đến Nguyễn Du và tác phẩm Truyện Kiều của ông. Với tấm lòng nhân đạo tha thiết và tài năng văn học kiệt xuất, Nguyễn Du để lại ấn tượng sâu sắc qua những sáng tác của ông, đặc biệt là Truyện Kiều.

Nguyễn Du tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên (1765 – 1820), quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong gia đình quý tộc, nhiều đời làm quan, có truyền thống văn chương. Cha là Nguyễn Nghiễm làm tới tể tướng dưới triều Lê, cũng là người giỏi văn chương. Mẹ là bà Trân Thị Tân người con gái xứ Kinh Bắc. Anh khác mẹ (con bà chính) Nguyễn Khản làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều. Nguyễn Du sống ở thời đại đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam, đó là sự kì khủng hoảng trầm trọng, giai cấp thông trị thối nát, tham lam, tàn bạo, các tập đoàn phong kiến (Lê – Trịnh- Nguyễn) chém giết lẫn nhau. Nông dân nổi dậy khởi nghĩa ở khắp nơi, đời sống nhân dân khổ cực, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, tiêu biểu là phong trào Tây Sơn mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Huệ. Những yếu tố này tác động nhiều tới tình cảm, nhận thức của Nguyễn Du. Ông sớm lâm vào cảnh mồ côi (9 tuổi cha mất, 12 tuổi mẹ mất), phải sống phiêu bạt nhiều năm, nhiều nơi, lúc ở Thăng Long, lúc lại vào quê nội Hà Tĩnh, có giai đoạn về quê vợ ở Thái Bình. Những biến động lịch sử và cuộc đời đó đã tác động nhiều đến tâm hồn và tư tưởng của Nguyễn Du. Bởi thế ông cũng có nhiều tâm trạng: trung thành với nhà Lê, chống quân Tây sơn, sau này làm quan triều Nguyễn nhưng lại rụt rè, u uất. Có thể nói cuộc đời ông chìm nổi, gian truân, đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều hạng người, đời từng trải, vôn sông phong phú, có nhận thức sâu rộng, được coi là một trong năm người giỏi nhất nước Nam lúc bấy giờ. Ông còn là người có trái tim giàu lòng yêu thương, cảm thông sâu sắc với những người nghèo khổ, với nhũng đau khổ của nhân dânệ Nguyễn Du nổi tiếng trước hết bởi cái tâm của một người luôn nghĩ đến nhân dân, luôn bênh vực cho những cuộc đời. nhữne số phận éo le, oan trái, đặc biệt là thân phận người phụ nữ.

 Nguyễn Du cũng là người có năng khiếu văn học bẩm sinh, bậc thầy trong việc sử dụng tiếng Việt, ngôi sao chói lọi trong nền văn học trung đại Việt Nam. Về sự nghiệp, văn học Nguyễn Du có nhiều sáng tạo lớn cả về chữ Hán và chữ Nôm. Các sáng tác chữ Hán có Thanh Hiên thi tập (78 bài), Bắc hành tạp lục (125 bài), Nam trung tạp ngâm (40 bài)… sáng tác chữ Nôm có Vân chiêu hồn, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, tiêu biểu là tác phẩm Truyện Kiều hay còn gọi là Đoạn trường tân thanh.

 Truyện Kiều ra đời đầu thế kỉ XIX (khoảng từ 1805 – 1809), lúc đầu có tên là “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới đứt ruột), sau này đổi thành “Truyện Kiều”. Tác phẩm viết dựa trên cuốn tiểu thuyết “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng đã có sự sáng tạo tài tình và thay đổi, bổ sung nhiều yếu tố trong cốt truyện cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Là truyện thơ Nôm được viết bằng thơ lục bát, dài 3254 câu, chia làm 3 phần (Gặp gỡ và đính ước; Gia biến và lưu lạc; Đoàn tụ). Đề tài của truyện là viết về cuộc đời Kiều nhưng thông qua đó tố cáo xã hội phong kiến lúc bấy giờ đã chà đạp, xô đẩy người phụ nữ vào bước đường cùng; đồng thời ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của Thuý Kiều và của người phụ nữ nói chung. Tác phẩm còn thể hiện rất rõ hiện thực cuộc sống đương thời với “con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ tới muôn đời” của nhà thơ.

Truyện Kiều kể về cuộc đời truân chuyên của người con gái tài sắc Thuý Kiều. Thuý Kiều là một cô gái sinh trưởng trong gia đình họ Vương có ba chị em: Thuý Kiều, Thuý Vân và Vương Quan. Kiều là người con gái tài năng và nhan sắc thuộc bậc trên người. Nàng còn là người con hiếu nghĩa. Trong hội đạp thanh, Kiều gặp Kim Trọng, họ đã yêu nhau sau đó đính ước. Khi Kim Trọng về Liêu Dương hộ tang chú, gia đình Kiều gặp tai biến, Kiều phải bán mình chuộc cha. Mã Giám sinh mua Kiều về Lâm Tri. Tú Bà lập mưu biến nàng thành gái lầu xanh. Thúc Sinh chuộc Kiều và cưới nàng làm vợ lẽ. Nàng lại bị Hoạn Thư – vợ Thúc Sinh sai lính đến bắt về làm hoa nô và bày trò đánh ghen. Nàng trốn khỏi nhà Thúc Sinh. Nhưng lại rơi vào tay Bạc Bà, Bạc Hạnh phải vào lầu xanh lần thứ hai. Tại đây, Kiều gặp Từ Hải – một anh hùng “đội trời, đạp đất”, chàng chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, giúp Kiều báo ân, báo oán. Kiều lại mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị chết đứng. Kiều bị ép lấv viên thổ quanể Nhục nhã, đau đớn, nàng nhảy xuống sông Tiền Đường tự tư. được sư Giác Duyên cứu và đi tu. Kim Trọng trở lại sau nửa năm, chàng kết duyên với Thuý Vân theo lời trao duyên của Kiều.Sau này, Kim Trọng và Vương Quan đã bỏ nhiều công sức tìm Thúy Kiều. Rất may họ đã gặp lại Thuý Kiều, Kiều được đoàn tụ với gia đình và Kim Trọng sau mười lăm năm lưu lạc.

Trả lời bởi:
▲ 1

  Đúng vậy tác giả đã miêu tả vẻ đẹp của Kiều làm cho thiên nhiên hờn ghen đó kị. Qua đây tác giả đã dự cảm chính xác số phận của kiều ba chìm bảy nổi và lênh đênh lận đận.

Trả lời bởi: nguyenvandai2006

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo