Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Móc khóa mica Tại Xưởng
2.100+ Đã đặt hàng

Móc Khóa Mica & Standee

In Anime, Logo Trường, Lớp Học
MUA 1 TẶNG 1 HÔM NAY
Free Thiết Kế Freeship từ 10c

So sánh phương pháp chiếu gốc thứ nhất và phương pháp chiếu góc thứ ba

So sánh phương pháp chiếu gốc thứ nhất và phương pháp chiếu góc thứ ba

So sánh phương pháp chiếu gốc thứ nhất và phương pháp chiếu góc thứ ba
Hỏi bởi: Đó Hách
3 câu trả lời
▲ 5
Chào các em học sinh yêu quý của thầy/cô! Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau đi sâu vào một chủ đề rất quan trọng trong môn Công nghệ lớp 11, đó là so sánh hai phương pháp biểu diễn hình chiếu: phương pháp chiếu gốc thứ nhất và phương pháp chiếu góc thứ ba. Thầy/cô sẽ hướng dẫn các em chi tiết từng bước dựa trên kiến thức trong Sách giáo khoa nhé.

Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của hai phương pháp này.

1. Nguyên tắc chung của phép chiếu:

Trước khi đi vào so sánh hai phương pháp cụ thể, chúng ta cần nhớ lại nguyên tắc cơ bản của phép chiếu thẳng góc để tạo ra hình chiếu.
– Phép chiếu thẳng góc: Là phép chiếu mà các tia chiếu song song với nhau và vuông góc với mặt phẳng hình chiếu.
– Mặt phẳng hình chiếu: Là mặt phẳng mà trên đó ta thu được hình ảnh của vật thể.
– Vật thể: Là đối tượng mà chúng ta cần biểu diễn.

2. Phương pháp chiếu gốc thứ nhất (Phương pháp Châu Âu):

Phương pháp này có nguồn gốc từ Châu Âu và được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam.

a. Nguyên tắc xác định vị trí các mặt phẳng hình chiếu:

Trong phương pháp chiếu gốc thứ nhất, chúng ta tưởng tượng đặt vật thể vào trong một “hộp” kính trong suốt. Các mặt phẳng hình chiếu được đặt ở các vị trí tương ứng với các mặt của hộp này.
– Mặt phẳng hình chiếu đứng (mặt phẳng P1): Thường đặt phía trước vật thể.
– Mặt phẳng hình chiếu bằng (mặt phẳng P2): Thường đặt phía dưới vật thể.
– Mặt phẳng hình chiếu cạnh (mặt phẳng P3): Thường đặt phía bên phải vật thể.

b. Cách xác định vị trí hình chiếu trên các mặt phẳng:

Điểm mấu chốt của phương pháp này là:
– Hình chiếu đứng thu được trên mặt phẳng hình chiếu đứng.
– Hình chiếu bằng thu được trên mặt phẳng hình chiếu bằng.
– Hình chiếu cạnh thu được trên mặt phẳng hình chiếu cạnh.

Sau khi có các hình chiếu trên các mặt phẳng riêng biệt, để biểu diễn trên một mặt phẳng hai chiều (ví dụ như giấy vẽ), ta sẽ “mở” hộp kính này ra. Cách mở phổ biến là:
– Giữ nguyên mặt phẳng hình chiếu đứng.
– Quay mặt phẳng hình chiếu bằng xuống dưới mặt phẳng hình chiếu đứng.
– Quay mặt phẳng hình chiếu cạnh sang bên phải mặt phẳng hình chiếu đứng.

c. Quy ước vị trí hình chiếu:

Từ cách mở hộp trên, ta có quy ước về vị trí các hình chiếu:
– Hình chiếu bằng nằm DƯỚI hình chiếu đứng.
– Hình chiếu cạnh nằm BÊN PHẢI hình chiếu đứng.

d. Ưu điểm và nhược điểm (tóm tắt):

– Ưu điểm: Có sự tương ứng trực quan giữa vị trí hình chiếu và vị trí của vật thể so với mặt phẳng hình chiếu (ví dụ: hình chiếu bằng ở dưới chứng tỏ vật thể nằm phía trên mặt phẳng bằng).
– Nhược điểm: Khi vật thể có nhiều chi tiết phức tạp, việc xác định hình chiếu cạnh có thể hơi khó khăn nếu không quen.

3. Phương pháp chiếu góc thứ ba (Phương pháp Mỹ):

Phương pháp này phổ biến ở các nước như Hoa Kỳ, Canada, và một số quốc gia khác.

a. Nguyên tắc xác định vị trí các mặt phẳng hình chiếu:

Trong phương pháp chiếu góc thứ ba, chúng ta cũng tưởng tượng một “hộp” nhưng cách đặt mặt phẳng hình chiếu có sự khác biệt:
– Mặt phẳng hình chiếu đứng (mặt phẳng P1): Thường đặt SAU vật thể.
– Mặt phẳng hình chiếu bằng (mặt phẳng P2): Thường đặt PHÍA TRÊN vật thể.
– Mặt phẳng hình chiếu cạnh (mặt phẳng P3): Thường đặt BÊN TRÁI vật thể.

b. Cách xác định vị trí hình chiếu trên các mặt phẳng:

Tương tự như trên, chúng ta có các hình chiếu trên các mặt phẳng riêng biệt. Khi mở hộp để biểu diễn trên mặt phẳng hai chiều:
– Giữ nguyên mặt phẳng hình chiếu đứng.
– Quay mặt phẳng hình chiếu bằng lên trên mặt phẳng hình chiếu đứng.
– Quay mặt phẳng hình chiếu cạnh sang bên trái mặt phẳng hình chiếu đứng.

c. Quy ước vị trí hình chiếu:

Từ cách mở hộp trên, ta có quy ước về vị trí các hình chiếu:
– Hình chiếu bằng nằm BÊN TRÊN hình chiếu đứng.
– Hình chiếu cạnh nằm BÊN TRÁI hình chiếu đứng.

d. Ưu điểm và nhược điểm (tóm tắt):

– Ưu điểm: Giúp sắp xếp các hình chiếu một cách gọn gàng, hình chiếu cạnh thường nằm bên trái, thuận tiện cho việc quan sát.
– Nhược điểm: Thiếu đi sự trực quan về vị trí tương đối của vật thể so với mặt phẳng hình chiếu.

4. Bảng so sánh chi tiết:

Để các em dễ hình dung và ghi nhớ, thầy/cô đã tổng hợp lại các điểm khác biệt chính trong bảng sau:

| Tiêu Chí | Phương Pháp Chiếu Gốc Thứ Nhất (Châu Âu) | Phương Pháp Chiếu Góc Thứ Ba (Mỹ) |
|—————————|—————————————–|————————————-|
| Vị trí vật thể so với mặt phẳng hình chiếu | Vật thể nằm giữa người quan sát và mặt phẳng hình chiếu | Mặt phẳng hình chiếu nằm giữa người quan sát và vật thể |
| Vị trí mặt phẳng hình chiếu đứng (P1) | Phía trước vật thể | Phía sau vật thể |
| Vị trí mặt phẳng hình chiếu bằng (P2) | Phía dưới vật thể | Phía trên vật thể |
| Vị trí mặt phẳng hình chiếu cạnh (P3) | Phía bên phải vật thể | Phía bên trái vật thể |
| Quy ước vị trí hình chiếu trên bản vẽ | Hình chiếu bằng DƯỚI hình chiếu đứng | Hình chiếu bằng TRÊN hình chiếu đứng |
| Quy ước vị trí hình chiếu trên bản vẽ | Hình chiếu cạnh BÊN PHẢI hình chiếu đứng | Hình chiếu cạnh BÊN TRÁI hình chiếu đứng |
| Biểu tượng trên bản vẽ | Thường có biểu tượng hình nón và hình trụ | Thường có biểu tượng hình nón và hình trụ |
| Tính trực quan | Cao hơn | Thấp hơn |

5. Cách nhận biết trên bản vẽ kỹ thuật:

Quan trọng nhất là chúng ta phải biết cách nhận biết phương pháp nào đang được sử dụng trên một bản vẽ kỹ thuật. Thông thường, các bản vẽ sẽ có một biểu tượng thể hiện phương pháp chiếu được sử dụng ở góc của bản vẽ.

– Với phương pháp chiếu gốc thứ nhất, biểu tượng thường là hình chiếu của một vật thể đơn giản (ví dụ: một hình trụ và một hình nón) được sắp xếp theo quy ước của phương pháp này.
– Với phương pháp chiếu góc thứ ba, biểu tượng cũng tương tự nhưng được sắp xếp theo quy ước của phương pháp này.

Các em cần quan sát kỹ biểu tượng này để xác định đúng phương pháp, từ đó đọc và hiểu bản vẽ một cách chính xác.

Tóm lại, cả hai phương pháp đều có mục đích là biểu diễn vật thể ba chiều trên mặt phẳng hai chiều. Sự khác biệt nằm ở cách đặt các mặt phẳng hình chiếu và quy ước vị trí của các hình chiếu trên bản vẽ. Việc nắm vững kiến thức này sẽ giúp các em rất nhiều trong việc đọc và lập bản vẽ kỹ thuật.

Chúc các em học tốt! Nếu có bất kỳ câu hỏi nào, đừng ngần ngại hỏi thầy/cô nhé.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 1

                                                             Nhớ cho mk xin ctlhn nha                                          

Phương pháp góc chiếu thứ nhất

Vị trí vật thể

Nằm trước mặt phẳng chiếu đối với người quan sát.

Vị trí các hình chiếu

Nằm sau mặt phẳng chiếu đối với người quan sát.

Phương pháp  góc chiếu thứ ba

Vị trí vật thể

Hình chiếu bằng đặt dưới hình chiếu đứng, hình chiếu cạnh đặt bên phải hình chiếu đứng.

Vị trí các hình chiếu

Hình chiếu bằng đặt trên hình chiếu đứng, hình chiếu cạnh đặt bên trái hình chiếu đứng.

                                      

Trả lời bởi: ahitor
▲ 0

 

PP góc chiếu thứ nhất

Vị trí vật thể

Nằm trước mặt phẳng chiếu đối với người quan sát.

Vị trí các hình chiếu

Nằm sau mặt phẳng chiếu đối với người quan sát.

PP góc chiếu thứ ba

Vị trí vật thể

Hình chiếu bằng đặt dưới hình chiếu đứng, hình chiếu cạnh đặt bên phải hình chiếu đứng.

Vị trí các hình chiếu

Hình chiếu bằng đặt trên hình chiếu đứng, hình chiếu cạnh đặt bên trái hình chiếu đứng.

Trả lời bởi: Nhat Vien Vo

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo