Sưu tầm tên tuổi, công trạng của các vị anh hùng dân tộc người thiểu số trong lị…
Hôm nay, cô và các em sẽ cùng nhau giải quyết một bài tập rất ý nghĩa, không chỉ củng cố kiến thức lịch sử mà còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, một nội dung quan trọng trong chương trình Giáo dục công dân lớp 12. Bài tập này giúp chúng ta thấy rằng, lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt Nam được viết nên bởi công sức, xương máu của cộng đồng 54 dân tộc anh em.
Để thực hiện bài tập sưu tầm này một cách hiệu quả và khoa học, các em hãy làm theo các bước cô hướng dẫn dưới đây nhé.
Bước 1: Hiểu rõ yêu cầu và xác định nguồn tư liệu
Trước hết, chúng ta cần tìm kiếm tên tuổi và công trạng của các vị anh hùng là người dân tộc thiểu số. Các em có thể tìm kiếm thông tin từ những nguồn đáng tin cậy như:
– Sách giáo khoa Lịch sử các cấp.
– Các sách Lịch sử do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Nhà xuất bản Giáo dục phát hành.
– Các trang thông tin điện tử chính thống của Đảng và Nhà nước như Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, các trang web của bảo tàng lịch sử.
– Tránh các nguồn tin không rõ nguồn gốc, các trang mạng xã hội thiếu kiểm chứng.
Bước 2: Hệ thống hóa thông tin sưu tầm được
Sau khi tìm được thông tin, các em nên trình bày một cách khoa học để dễ theo dõi. Cô gợi ý một cấu trúc như sau cho mỗi nhân vật:
– Tên tuổi anh hùng:
– Dân tộc:
– Thời kỳ lịch sử: (Ví dụ: Kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ,…)
– Công trạng tiêu biểu: (Nêu ngắn gọn những đóng góp, chiến công nổi bật nhất).
Bước 3: Trình bày một số tấm gương anh hùng tiêu biểu
Dưới đây, cô sẽ trình bày mẫu một vài tấm gương anh hùng người dân tộc thiểu số để các em tham khảo. Dựa vào đây, các em hãy tự mình tìm hiểu và bổ sung thêm nhiều vị anh hùng khác nữa nhé.
1. Anh hùng N’Trang Lơng
Dân tộc: M’Nông.
Thời kỳ lịch sử: Phong trào chống thực dân Pháp đầu thế kỷ 20 (1912 – 1935).
Công trạng tiêu biểu: Ông là thủ lĩnh kiệt xuất của phong trào khởi nghĩa của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp. Cuộc khởi nghĩa do ông lãnh đạo đã gây cho quân Pháp nhiều tổn thất nặng nề, thể hiện tinh thần bất khuất, ý chí tự cường của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung.
2. Anh hùng Đinh Núp
Dân tộc: Ba Na.
Thời kỳ lịch sử: Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954).
Công trạng tiêu biểu: Ông là một biểu tượng sáng ngời của tinh thần chiến đấu dũng cảm của đồng bào Tây Nguyên. Với vũ khí thô sơ như chông, bẫy đá, cung tên, ông đã lãnh đạo dân làng Kông Hoa đoàn kết, chiến đấu chống lại quân Pháp có vũ khí hiện đại. Tên tuổi của ông gắn liền với câu nói nổi tiếng: “Đảng còn, núi nước này còn”. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
3. Anh hùng La Văn Cầu
Dân tộc: Tày.
Thời kỳ lịch sử: Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954).
Công trạng tiêu biểu: Trong trận Đông Khê thuộc Chiến dịch Biên giới năm 1950, khi một tay bị đạn giặc bắn gãy nát, ông đã dũng cảm yêu cầu đồng đội chặt đứt cánh tay để tiếp tục chiến đấu, hoàn thành nhiệm vụ phá lô cốt địch. Hành động quên mình vì nhiệm vụ của ông đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần chiến đấu của toàn đơn vị. Ông là một trong 7 anh hùng đầu tiên được tuyên dương trong Đại hội thi đua toàn quốc lần thứ nhất.
4. Anh hùng Vừ A Dính
Dân tộc: H’Mông.
Thời kỳ lịch sử: Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954).
Công trạng tiêu biểu: Là một thiếu niên trẻ tuổi, Vừ A Dính đã sớm tham gia làm liên lạc, tiếp tế cho bộ đội và dân quân. Khi bị giặc Pháp bắt và tra tấn dã man, dù tuổi còn rất nhỏ, anh vẫn kiên quyết không khai báo, giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng cho đến hơi thở cuối cùng. Anh đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Kết luận và dặn dò
Các em thân mến,
Những tấm gương trên chỉ là một vài trong số rất nhiều các vị anh hùng người dân tộc thiểu số đã cống hiến, hy sinh cho sự nghiệp chung của đất nước. Việc tìm hiểu về họ giúp chúng ta nhận thức sâu sắc rằng: khối đại đoàn kết toàn dân tộc là cội nguồn sức mạnh, là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Mỗi dân tộc, dù đa số hay thiểu số, đều là một phần không thể tách rời của đại gia đình Việt Nam.
Là công dân tương lai của đất nước, các em có trách nhiệm kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp này, tôn trọng sự đa dạng văn hóa, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chúc các em hoàn thành tốt bài tập của mình
\(#QLinkVN\).
Sau đây là 3 dân tộc chính mà mình sẽ nhắc tới, mỗi dân tộc sẽ có 3 người tiêu biểu nha!
1. Người Tày:
– Bế Văn Đàn (1931 – 1953): Liệt sĩ, Anh hùng LLVTNDVN thời kháng chiến chống Pháp, hy sinh trong chiến dịch Điện Biên Phủ với gương “lấy thân làm giá súng”, quê ở xã Triệu Ẩu, huyện Phục Hoà, Cao Bằng.
– La Văn Cầu (1932 – hiện còn sống): Đại tá QĐNDVN, Anh hùng LLVTND thời kháng chiến chống Pháp. Trong Trận Đông Khê thuộc Chiến dịch biên giới năm 1950, La Văn Cầu là chỉ huy tổ bộc phá hàng rào để đơn vị phía sau tiến công đồn. Ông Cầu bị trúng đạn dập nát một phần cánh tay phải. La Văn Cầu đã nghiến răng nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay bị thương và tiếp tục chiến đấu. Ông dùng tay trái ôm bọc phá đánh mở đường, tạo thời cơ cho các lực lượng khác tiếp đánh chiếm đồn quân đối phương.
– Nông Đức Mạnh (1940 – hiện còn sống): Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam nhiệm kỳ 2001 – 2011. Tháng 4 năm 2001, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông là Tổng bí thư và cũng là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên là một người dân tộc thiểu số.
2. Người Mường:
– Lê Lai (? – 1418): Viên tướng nổi tiếng của khởi nghĩa Lam Sơn, có công phù Lê Thái Tổ gây dựng sự nghiệp. Ông hy sinh thân mình cứu Lê Thái Tổ thoát khỏi vòng vây của quân Minh, được đời sau truyền tụng, gọi là Lê Lai cứu chúa.
– Bùi Đình Phái (1953 – hiện còn sống): Thiếu tướng QĐNDVN, đại biểu QHVN khóa 11, quê xã Địch Giáo, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
– Đinh Tiên Phong (1956 – hiện còn sống): Đại tá QĐNDVN, đại biểu QHVN khóa 12, 13, quê xã Cẩm Châu, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hoá
3. Người Ba Na:
– Wừu (Bok Wừu) (1905 – 1952): Liệt sĩ, Anh hùng LLVTND thời kỳ Kháng chiến chống Pháp. Quê xã Đăk Sơ Mei, huyện Đắk Đoa, tỉnh Gia Lai.
– Đinh Núp (1914 – 1999): Thường gọi là Anh hùng Núp, người lãnh đạo nhân dân Tây Nguyên chống lại thực dân Pháp, nổi tiếng với sự kiện năm 1935 “dùng nỏ bắn Pháp chảy máu“. Ông là Đại biểu Quốc hội Việt Nam, Ủy viên UBTVQH VN khóa 6. Quê xã Tơ Tung, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai.
– Ksor Nham (1960 – hiện còn sống): (Người mang hai dòng máu Gia Rai và Ba Na) Trung tướng CANDVN, Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai (2004-2006). Quê xã Tơ Tung, huyện K’Bang, tỉnh Gia Lai