Hỗ trợ: xuất hoá đơn GTGT 8%.
Image 1

suy ngẫm về giá trị đích thực của 1 tác phẩm văn chương , nhà văn nam cao đã khẳ…

suy ngẫm về giá trị đích thực của 1 tác phẩm văn chương , nhà văn nam cao đã khẳ…

suy ngẫm về giá trị đích thực của 1 tác phẩm văn chương , nhà văn nam cao đã khẳng định ” một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn pahir là 1 tác phẩm chung cho cảnloaif người . nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao , mạnh mẽ … nó ca tụng lòng thương tình bác ái., sự công bình… qua những tác phẩm đã học , em phân tích làm sáng tỏ nhận định trên 
Giúp em với ạ TT
Hỏi bởi: annguyen
2 câu trả lời
▲ 9
Chào em,

Cô rất vui khi nhận được câu hỏi của em. Đây là một đề bài nghị luận văn học rất hay và sâu sắc, cho thấy em có những trăn trở, suy tư về giá trị của văn chương. Đừng lo lắng nhé, đề bài này không khó nếu chúng ta đi từng bước một. Với vai trò là một giáo viên, cô sẽ hướng dẫn em cách giải quyết đề bài này một cách chi tiết và dễ hiểu nhất, bám sát chương trình Ngữ văn lớp 8 của chúng ta.

Nào, chúng ta cùng bắt đầu nhé!

HƯỚỚNG DẪN GIẢI BÀI TẬP CHI TIẾT

Để làm sáng tỏ nhận định của nhà văn Nam Cao, chúng ta cần xây dựng một bài văn nghị luận hoàn chỉnh. Dưới đây là dàn ý chi tiết và cách phân tích từng phần.

Bước 1: Tìm hiểu và phân tích đề

Trước hết, chúng ta phải “giải mã” được nhận định của nhà văn Nam Cao.

“Một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người.”

  • “Bờ cõi và giới hạn” ở đây là gì? Đó là biên giới về quốc gia, dân tộc, về không gian địa lý và cả thời gian lịch sử.
  • “Chung cho cả loài người” nghĩa là tác phẩm ấy có giá trị phổ quát, ai đọc cũng có thể đồng cảm, thấu hiểu, dù họ ở bất cứ đâu, sống ở thời đại nào.

=> Vế đầu tiên này khẳng định: Giá trị của một tác phẩm văn học nằm ở sức sống vượt thời gian và không gian, hay còn gọi là tính nhân loại.

“Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ… nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…”

  • “Cái gì lớn lao, mạnh mẽ” chính là nội dung tư tưởng sâu sắc của tác phẩm.
  • Cụ thể hơn, đó là những giá trị nhân đạo cao cả: lòng yêu thương con người (lòng thương, tình bác ái), và khát vọng về lẽ phải, sự công bằng (sự công bình).

=> Vế thứ hai này lý giải: Sở dĩ tác phẩm có tính nhân loại là vì nó đề cập đến những tình cảm, những khát vọng gốc rễ, tốt đẹp nhất của con người.

Nhiệm vụ của chúng ta: Dùng các tác phẩm đã học trong chương trình Ngữ văn lớp 8 để chứng minh nhận định trên là hoàn toàn đúng đắn.

Bước 2: Lập dàn ý chi tiết cho bài văn

A. Mở bài

  • Dẫn dắt: Giới thiệu chung về vai trò của văn học trong đời sống tinh thần của con người (Văn chương là tấm gương phản chiếu cuộc sống, là tiếng nói của tâm hồn…).
  • Nêu vấn đề: Trích dẫn nhận định của nhà văn Nam Cao. Đây là một quan niệm sâu sắc về giá trị đích thực của một tác phẩm nghệ thuật.
  • Khẳng định: Nhận định này hoàn toàn đúng đắn và qua các tác phẩm đã học, chúng ta có thể thấy rõ điều đó.

B. Thân bài

1. Giải thích nhận định

  • Khẳng định lại ý nghĩa của nhận định như chúng ta đã phân tích ở Bước 1.
  • Một tác phẩm có giá trị phải mang trong mình hai yếu tố cốt lõi:

    + Giá trị nhân đạo sâu sắc: Ca ngợi tình yêu thương, lòng nhân ái, sự hy sinh, đấu tranh cho công lý, cho quyền sống của con người.

    + Sức sống vượt thời gian, không gian: Những giá trị nhân đạo đó phải mang tính phổ quát, khiến độc giả ở mọi thời đại, mọi quốc gia đều có thể rung động và suy ngẫm.

2. Phân tích, chứng minh qua các tác phẩm đã học

Đây là phần quan trọng nhất, em hãy chọn những dẫn chứng tiêu biểu và phân tích thật sâu.

Luận điểm 1: Tác phẩm giá trị ca ngợi “sự công bình”, lên án bất công và bảo vệ phẩm giá con người.

* Dẫn chứng: Đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” (Trích tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố)

  • Phân tích:

    – Tác phẩm viết về xã hội Việt Nam trước 1945, một bối cảnh rất cụ thể. Nhưng vấn đề nó đặt ra lại không hề cũ: sự vùng lên của con người khi bị áp bức đến cùng cực.

    – Hành động của chị Dậu (“Thà ngồi tù. Để cho chúng nó làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…”) là tiếng nói phản kháng mạnh mẽ chống lại bất công, cường quyền.

    Kết nối với nhận định: Ngày nay, ở bất cứ đâu trên thế giới, cuộc đấu tranh cho “sự công bình”, cho quyền con người vẫn luôn tồn tại. Vì vậy, hình ảnh chị Dậu vẫn khiến chúng ta xúc động và khâm phục. Chị Dậu không chỉ là người phụ nữ nông dân Việt Nam, mà còn là biểu tượng cho sức mạnh tiềm tàng của những người bị áp bức. Tác phẩm đã vượt qua “bờ cõi” thời gian để sống mãi.

Luận điểm 2: Tác phẩm giá trị ca ngợi “lòng thương, tình bác ái” – những tình cảm đẹp đẽ của con người.

* Dẫn chứng 1: Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao

  • Phân tích:

    – Tác phẩm khắc họa tình phụ tử sâu nặng của Lão Hạc dành cho con trai, tình yêu thương của lão dành cho cậu Vàng.

    – Đặc biệt, tác phẩm còn thể hiện “tình bác ái” qua sự đồng cảm, thấu hiểu của nhân vật ông giáo dành cho Lão Hạc (“Cuộc đời quả thật cứ mỗi ngày một thêm đáng buồn…”).

    – Cái chết của Lão Hạc là để bảo toàn nhân phẩm, giữ trọn vẹn mảnh vườn cho con. Đó là sự hy sinh cao cả xuất phát từ tình yêu thương vô bờ bến.

    Kết nối với nhận định: Tình cha con, lòng tự trọng, sự hy sinh… là những giá trị mà bất cứ ai, ở bất cứ dân tộc nào cũng trân quý. Đọc “Lão Hạc”, một người đọc ở thế kỷ 21 vẫn có thể rơi nước mắt vì thương cảm cho một người nông dân nghèo khổ, và đó chính là minh chứng cho sức mạnh “vượt lên trên tất cả các bờ cõi” của tác phẩm.

* Dẫn chứng 2: Truyện ngắn “Cô bé bán diêm” của An-đéc-xen (nhà văn Đan Mạch)

  • Phân tích:

    – Đây là một dẫn chứng tuyệt vời để nói về việc “vượt qua bờ cõi” quốc gia. Tác phẩm viết về một em bé ở Đan Mạch xa xôi, trong một đêm giao thừa giá lạnh.

    – Tác phẩm khơi dậy “lòng thương” sâu sắc của người đọc trước số phận bất hạnh của em bé, đồng thời lên án sự vô tình, lạnh lùng của xã hội.

    – Những mộng tưởng của em bé qua mỗi que diêm (lò sưởi, bàn ăn, cây thông, người bà) là những ước mơ giản dị, chính đáng của mọi đứa trẻ.

    Kết nối với nhận định: Dù em là người Việt Nam, đọc câu chuyện về một cô bé người Đan Mạch, em vẫn cảm thấy xót xa. Điều đó chứng tỏ “lòng thương” là ngôn ngữ chung của nhân loại. Tác phẩm của An-đéc-xen đã trở thành “tác phẩm chung cho cả loài người” chính vì nó chạm đến trái tim nhân ái của tất cả chúng ta.

* Dẫn chứng 3 (Nếu muốn mở rộng): “Chiếc lá cuối cùng” của O. Hen-ri (nhà văn Mỹ)

  • Phân tích: Tác phẩm ca ngợi “tình bác ái”, sự hy sinh thầm lặng của người nghệ sĩ nghèo (cụ Bơ-men) để cứu sống một con người. Kiệt tác chiếc lá cuối cùng được vẽ nên không phải bằng bút lông, mà bằng cả tình yêu thương và lòng vị tha. Đây cũng là một giá trị mang tính toàn nhân loại.

3. Đánh giá, tổng hợp

  • Khẳng định lại một lần nữa: Nhờ chứa đựng những giá trị nhân đạo lớn lao, các tác phẩm văn học chân chính đã có sức sống mãnh liệt, vượt qua mọi giới hạn về không gian và thời gian.
  • Mở rộng: Văn chương có sứ mệnh cao cả là thanh lọc tâm hồn con người, hướng con người đến Chân – Thiện – Mĩ.

C. Kết bài

  • Tóm lược: Khẳng định lại tính đúng đắn của nhận định của nhà văn Nam Cao.
  • Liên hệ bản thân: Nêu cảm nhận của em về vai trò của văn học. Học văn không chỉ là học kiến thức mà còn là để bồi dưỡng tâm hồn, để biết yêu thương, trân trọng cuộc sống và con người hơn.

Bước 3: Những lưu ý khi viết thành bài văn hoàn chỉnh

  • Dùng từ ngữ của mình: Dàn ý này là “xương sống”, em cần thêm “da thịt” vào bằng lời văn, cảm xúc của riêng mình. Đừng sao chép nguyên văn nhé.
  • Chuyển ý mượt mà: Dùng các cụm từ nối như “Thật vậy…”, “Không chỉ vậy…”, “Bên cạnh đó…”, “Có thể thấy…”, “Tóm lại…” để các luận điểm được liên kết chặt chẽ.
  • Phân tích sâu, không kể lể: Khi phân tích dẫn chứng, tránh sa đà vào việc kể lại câu chuyện. Hãy tập trung vào việc chỉ ra chi tiết nào thể hiện “lòng thương”, “sự công bình” và lập luận xem tại sao nó lại có giá trị phổ quát.

Chúc em tự tin và hoàn thành thật tốt bài làm của mình! Nếu có bất cứ thắc mắc nào nữa, đừng ngần ngại hỏi cô nhé.

Trả lời bởi: Giáo viên Chuyên Môn
▲ 0

I, Dàn ý tham khảo

1, Mở bài

– Giới thiệu tác giả

– Giới thiệu về ý kiến

2, Thân bài

a, Giải thích ý kiến

b, Chứng minh

– Lão Hạc

+ Ông giáo

+ Lão Hạc

+ Cậu chó Vàng

c, Bình luận

– Ý kiến trên hoàn toàn đúng

– Một tác phẩm chỉ có giá trị khi nó thể hiện được tình cảm không chỉ của nhân vật mà còn của chính tác giả.

– Một tác phẩm chỉ có giá trị khi nó tồn tại bất biến cùng với thời gian.

d, Liên hệ

3, Kết bài

– Khẳng định giá trị của câu nói trên

II, Bài văn tham khảo

Nam Cao là nhà văn nổi tiếng của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông đã để lại cho nền văn học nước nhà một kho tàng các tác phẩm đồ sộ. Nhận xét về giá trị của tác phẩm, Nam Cao đã khẳng định rằng: “Một tác phẩm thật giá trị phải vượt lên tất cả bờ cõi và giới hạn phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó chứa đựng những gì lớn lao, mạnh mẽ … nó cao tụng lòng thương người, tình bác ái, sự công bằng. Nó làm con người gần người hơn”. Điều này được chứng minh rõ nét qua tác phẩm “Lão Hạc” của nhà văn.

Trước hết, ta phải hiểu ý kiến của nhà văn đề cập đến nội dung, vấn đề gì? Nhà văn đã nói “Một tác phẩm thật giá trị”. Câu này có thể hiểu là một tác phẩm văn học chân chính, một nghệ thuật lớn, có giá trị (Nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ …). Bên cạnh đó, “là một tác phẩm chung cho cả loài người” nó vừa có tính dân tộc, tính nhân loại và thấm nhuần tinh thần nhân đạo. Nhà văn phải phấn đấu cho lí tưởng nhân đạo. Hơn nữa “Nó phải chứa đựng … cho người gần người hơn”, nói lên bằng tất cả sức mạnh nghệ thuật của nó những gì liên quan tới vận mệnh loài người, thể hiện “nỗi đau nhân tình” cũng như niềm tin và khát vọng của con người trong cuộc vật lộn vươn tới một cuộc sống nhân ái, công bằng, hòa hợp. Cách diễn đạt: “Một tác phẩm thật giá trị … phải … phải là … Nó … vừa … vừa … Nó …. Nó …” là yêu cầu khắt khe và nghiêm túc của Nam Cao với “một tác phẩm thật giá trị” và cũng là biểu hiện đa dạng, phong phú của giá trị văn chương chân chính.

Viết về lão Hạc – nhân vật chính trong truyện, một người nông dân tột cùng nghèo khổ và đau thương – ngòi bút của Nam Cao đã bộc lộ một tình cảm tha thiết gắn bó. Khi chưa hiểu rõ tâm tình của lão Hạc thì giọng điệu của ông giáo dưới ngòi bút của nhà văn tưởng chừng vẫn chỉ là viết về một loại Chí Phèo, Thị Nở, Lang Rận nào đó: “Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồi… Lão nói là nói để đấy thôi… Làm quái gì có một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế”. Đôi lúc, ông còn bộc lộ sự tự tôn mình, coi thường người nghèo khổ: “Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu so với tôi quý năm quyển sách của tôi”. Một sự lạnh lùng khách quan: Tôi “dửng dưng” nhìn lão để rồi mộng tưởng về một cái thời “say mê”, đẹp đẽ, chăm chỉ và đầy “cao vọng” của riêng mình.

    Ta bắt đầu cảm thấy một bóng dáng đơn điệu của làng quê ông giáo Thứ trong truyện Sống mòn: con người lạnh nhạt, bới móc nhau… Nhưng tác giả không dừng lại ở đó, ông đưa những trang viết về tình cảm của ông giáo đối với lão Hạc tiến triển một cách chậm rãi lần theo những lời kể của ông lão, khiến người đọc ngày càng thấy sự rung động, sâu xa của cõi lòng tác giả: Người con trai lão thất tình, bỏ đi phu cao su, để lại cho người cha vài đồng bạc để “ăn quà”, một con chó và mảnh vườn nho nhỏ, biệt tích, để cho lão cứ ngóng trông, dành dụm, chắt chiu mà nào biết bao giờ nó về! Vợ mất, con biệt xứ, lão cô đơn giữa tuổi già và cái chết đang dần đến. Ngòi bút của nhà văn lại bùi ngùi, xúc động: “Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn”. Vì vậy mà “những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ bồn một chút”, nhắc đến con “lão rân rấn nước mắt”. Đến đây thì ông giáo đã thốt lên: “Bây giờ thì tôi không xót xa năm quyển sách của tôi quá như trước nữa”.

    Trước những đe dọa rình rập, những mất mát chồng chéo lên nhau, ông giáo đành an ủi lão Hạc mà ta nghe thấy biết bao đau xót, thương cảm: “Lão Hạc ơi ! ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu?”. Thì ra tác giả đâu có thờ ơ, ông thấu hiểu con người tốt đẹp ấy, mỗi lời kể như đượm nỗi xúc động: Thương con, lão không muốn bán đi con chó – kỉ vật của con. Nhưng nuôi nó thì tốn mà lão không muốn phải tiêu vào tiền lão đã dành dụm cho con. Nhưng cái nghèo khổ cứ đến: “làng mất vé sợi”, “Lão Hạc không có việc”… Sự điêu đứng cứ dồn dập đến. Ngòi bút nhà văn trở nên xót xa cho lão Hạc. Trước cảnh lão khóc vì để con chó bị bắt, ngòi bút Nam Cao bỗng như trào lên nước mắt. Ông giáo hỏi như để che giấu nỗi đau: “Thế nó cho bắt à”, rồi đau đớn và phủ nhận, ông kết luận: “Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ !”, đều khổ, đều cơ cực, kiếp người không khác kiếp con chó. Số phận một con chó chấm dứt bằng một cái chết bi thảm thì con người cũng không hơn, còn dữ dội gấp trăm lần.

Cho đến bây giờ, tác phẩm Lão Hạc vẫn còn tồn tại bất biến theo thời gian và luôn được hàng trăm bạn đọc đón nhận. Thế mới biết được tài năng của Nam Cao đến đâu!

Giữa quan niệm sáng tác và quá trình sáng tác của Nam Cao luôn có sự thống nhất. Khẳng định câu nói của Nam Cao “Một tác phẩm thật có giá trị, phải vượt lên bên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho cả loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn.” là đúng. Quan niệm đúng đã tạo nên những thành công của Nam Cao

Trả lời bởi:

Viết một bình luận

WhatsApp
Facebook
Chat Zalo
Zalo
097.538.4646
Zalo
Giới thiệu Như Hảo