Tìm thành ngữ:
-Có yếu tố chỉ động vật
-Có yếu tố chỉ thực vật
-sử dụng trong vă…
-Có yếu tố chỉ động vật
-Có yếu tố chỉ thực vật
-sử dụng trong văn chương
(mỗi ý tìm nhiều thành ngữ)
Cô sẽ hướng dẫn các em giải bài tập này một cách chi tiết, từng bước một nhé.
Trước hết, các em cần nhớ lại: Thành ngữ là gì?
Thành ngữ là một cụm từ có cấu tạo cố định, biểu thị một ý nghĩa hoàn chỉnh (thường là nghĩa bóng, có tính hình tượng).
Bây giờ, chúng ta sẽ đi vào từng yêu cầu của bài tập.
A. Thành ngữ có yếu tố chỉ động vật
Đây là nhóm thành ngữ rất phong phú trong tiếng Việt. Các con vật gần gũi trong đời sống thường được ông cha ta quan sát và đưa vào lời nói để ví von, so sánh. Cô sẽ nêu một vài ví dụ tiêu biểu:
1. Chuột sa chĩnh gạo
Giải thích: Nghĩa đen là con chuột bị rơi vào hũ đựng gạo. Nghĩa bóng của thành ngữ này chỉ hoàn cảnh may mắn, sung sướng bất ngờ, rơi vào nơi có đầy đủ của cải, không cần lo lắng gì.
Ví dụ: Cậu ấy lấy được cô vợ vừa đẹp người vừa giàu có, đúng là chuột sa chĩnh gạo.
2. Cưỡi ngựa xem hoa
Giải thích: Nghĩa đen là vừa ngồi trên lưng ngựa đi nhanh vừa ngắm hoa ven đường. Vì đi nhanh nên chỉ nhìn được một cách qua loa, đại khái. Nghĩa bóng chỉ việc làm một điều gì đó một cách sơ sài, không đi sâu vào chi tiết, không tìm hiểu kỹ lưỡng.
Ví dụ: Khi đi du lịch, chúng ta nên dành thời gian khám phá, chứ không nên đi theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa.
3. Đầu voi đuôi chuột
Giải thích: Phần đầu thì to như đầu con voi, nhưng phần cuối thì bé tí như đuôi con chuột. Thành ngữ này dùng để chê bai một công việc lúc bắt đầu thì rầm rộ, hoành tráng nhưng kết quả cuối cùng lại chẳng ra sao, rất nhỏ bé hoặc thất bại.
Ví dụ: Kế hoạch này lúc đầu nghe rất hay nhưng khi thực hiện lại đầu voi đuôi chuột, không mang lại hiệu quả gì.
4. Rồng đến nhà tôm
Giải thích: Rồng là con vật cao quý, tượng trưng cho sự sang trọng, quyền uy. Tôm là con vật nhỏ bé, tầm thường. Thành ngữ này chỉ việc người sang trọng, quyền quý đến thăm nơi ở của người bình thường, nghèo hèn. Đây là cách nói khiêm tốn của chủ nhà.
Ví dụ: Bác giám đốc mà lại đến tận nhà thăm em, thật đúng là rồng đến nhà tôm.
B. Thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật
Tương tự như động vật, cây cối, hoa lá cũng là nguồn cảm hứng vô tận để tạo nên các thành ngữ đặc sắc.
1. Lá lành đùm lá rách
Giải thích: Nghĩa đen là những chiếc lá còn lành lặn che chở, bao bọc cho những chiếc lá đã bị rách nát. Nghĩa bóng chỉ sự tương thân tương ái, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau giữa người với người, khi người có điều kiện tốt hơn giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn.
Ví dụ: Với tinh thần lá lành đùm lá rách, cả lớp đã quyên góp giúp đỡ bạn An vượt qua khó khăn.
2. Gừng càng già càng cay
Giải thích: Củ gừng để càng lâu thì càng tích tụ nhiều tinh dầu và trở nên cay nồng hơn. Thành ngữ này dùng để chỉ những người càng lớn tuổi thì càng có nhiều kinh nghiệm, trở nên sắc sảo, tài giỏi và vững vàng hơn.
Ví dụ: Dù đã lớn tuổi nhưng ông ấy vẫn điều hành công ty rất tốt, đúng là gừng càng già càng cay.
3. Cây nhà lá vườn
Giải thích: Cây cối và rau quả được trồng ngay trong vườn nhà mình. Thành ngữ này chỉ những thứ tự mình làm ra, sẵn có, đơn sơ, mộc mạc nhưng chân thật.
Ví dụ: Bữa cơm hôm nay tuy đạm bạc nhưng toàn là cây nhà lá vườn nên rất ngon và sạch sẽ.
4. Dây cà ra dây muống
Giải thích: Từ một dây cà chua lại lan sang cả dây rau muống. Thành ngữ này chỉ sự việc nói năng, viết lách dài dòng, lan man, không đi vào trọng tâm, từ chuyện này lại dính sang chuyện khác không liên quan.
Ví dụ: Khi kể chuyện, em nên nói ngắn gọn, đừng kể dây cà ra dây muống khiến người nghe mệt mỏi.
C. Thành ngữ sử dụng trong văn chương
Đây là một yêu cầu rất hay, giúp các em thấy được sức sống của thành ngữ trong các tác phẩm văn học. Ở chương trình lớp 9, các em đã học “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, đây là một kiệt tác mà tác giả đã sử dụng thành ngữ một cách vô cùng điêu luyện.
1. Nghiêng nước nghiêng thành
Giải thích: Thành ngữ này có nguồn gốc từ một điển tích của Trung Quốc, ý nói vẻ đẹp của người phụ nữ có thể làm cho vua chúa mê đắm đến mức mất nước, thành trì nghiêng đổ. Thành ngữ này dùng để ca ngợi vẻ đẹp tuyệt thế, có sức quyến rũ lay động lòng người.
Trong văn chương: Khi miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã viết:
“Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.”
Cách dùng này đã cực tả vẻ đẹp của Kiều, báo hiệu một số phận éo le gắn với vẻ đẹp ấy.
2. Mặt hoa da phấn
Giải thích: Gương mặt đẹp như hoa, làn da trắng mịn như phấn. Thành ngữ này dùng để chỉ vẻ đẹp tươi tắn, yêu kiều của người phụ nữ.
Trong văn chương: Trong “Truyện Kiều”, khi giới thiệu hai chị em Thúy Kiều, Thúy Vân, Nguyễn Du viết:
“Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.”
Thành ngữ “mặt hoa” (trong “hoa cười”) và “da phấn” (ý trong “tuyết nhường màu da”) đã được vận dụng linh hoạt để khắc họa vẻ đẹp phúc hậu của Thúy Vân.
3. Bảy nổi ba chìm
Giải thích: Thành ngữ này chỉ cuộc đời long đong, vất vả, phiêu bạt, gặp nhiều gian truân, sóng gió.
Trong văn chương: Để khái quát về 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều, Nguyễn Du đã dùng thành ngữ này một cách xót xa:
“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Lạ gì bảy nổi ba chìm,
Với ba vạn sáu nghìn ngày là bao!”
Cô hy vọng qua bài giảng chi tiết này, các em đã nắm vững hơn cách tìm và hiểu ý nghĩa của các thành ngữ. Việc vận dụng thành ngữ không chỉ giúp bài làm văn của các em sinh động hơn mà còn cho thấy sự am hiểu sâu sắc về tiếng Việt.
Chúc các em học tốt
động vật
– Mèo khen mèo dài đuôi
– Mèo mả gà đồng
– Ăn như mèo ăn than – Lẻm nhẻm như mèo ăn than.
– (Hai đứa bay như ) mèo với chó
– Chó treo mèo đậy
– Nam thực như hổ, nữ thực như miu
– Lạc nhà nắm đuôi chó, lạc ngõ nắm đuôi trâu
– Đánh chó ngó chúa – Đánh chó ngó chủ nhà
– Hàm chó vó ngựa
– Ngựa quen đường cũ
– Chạy như chó phải hỏa tai
– Chạy rông như chó dái
– Cho đen không đổi được lông trắng
– Trâu buộc ghét trâu ăn
– Cọc tìm trâu chứ trâu không bao giờ tìm cọc
– Chồng cầy vợ cấy con trâu đi bừa
– Cà kê dê ngỗng
– Đầu voi đuôi chuột
– Cốc mò cò xơi
– Bút sa gà chết
– Cháy nhà ra mặt chuột
– Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà
– Mặt nhăn như khỉ ăn ớt
– Cái con khỉ khô
– Nhanh như cắt (con chim cắt)
– Chậm như rùa
– Ngu như bò
– Ngu như heo (lợn)
– Khỏe như trâu
– Khỏe như voi.
– Lí lắt như khỉ
– Ăn như hùm đổ đó
– Hỗn như gấu
– Nhát như thỏ
– (Mày chỉ là ) Dê tế thần (thôi con ạ)
– Nem công chả phượng
– Rồng bay phượng múa
– Khuyển mã chi tình
– Chim sa cá lặn
– Chim có tổ, người có tông
– Chim chích mà ghẹo bù nông, Nó đánh mot trận lạy ông tôi chừa.
– Con quạ nó đứng bên sông, quạ kêu bớ mẹ chớ lấy chồng bỏ con
– Bìm bịp bắt gà trổng thiến (không hiểu ý câu này)
– Cáo chết ba năm quay đầu về núi ( không hiểu ý câu này)
– Con gà cục tác lá chanh. Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
– Con chó khóc đứng khóc ngồi. Bà ơi đi chợ mua tôi đồng riềng.
– Con mèo mà(y) trèo cây cau. Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
– Chú chuột đi chợ đường xa. Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo.
Thực vật
Mấy ai biết lúa von, mấy ai biết con hư …
Một nuộc lạt, một bát cơm. …
Lúa khô nước cạn ai ơi. …
Cực lòng thiếp lắm chàng ơi. …
Thân em như lúa nếp tơ, …
Tháng giêng thì lúa xanh già …
Mạ non bắt nhẻ cấy biền. …
Trời mưa cho lúa thêm bông.
* Thành ngữ có yếu tố chỉ động vật:
– Mèo mả gà đồng: chỉ hạng người thiếu văn hóa, không thể giáo dục được nữa (như: mèo sống ở nghĩa địa, gà sống ở ngoài đồng không thể thuần hóa được).
– Chuột sa chĩnh gạo: chỉ sự may mắn gặp hoàn cảnh hoàn hảo, điều kiện sung sướng.
* Thành ngữ có yếu tố chỉ thực vật:
– Cây nhà lá vườn: sản vật tự làm ra không phải mua bán ở nơi khác
– Im như thóc: im lặng, không nói lên một lời nào.
Có thể tìm thêm: tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa; cây cao bóng cả, bèo dạt mây trôi; cắn rơm cắn cỏ; dây cà ra dây muống; nói hành nói xấu, cây muốn lặng mà gió chẳng dừng…