‘Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân … sông hào kiệt đời nào cũng có ‘ hãy nêu cảm n…
Đoạn trích mà chúng ta sẽ tìm hiểu có câu mở đầu rất quen thuộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân…” và kết thúc bằng câu “…sông hào kiệt đời nào cũng có”. Các em thấy đó, chỉ hai câu này thôi đã gợi lên biết bao suy ngẫm rồi.
Để hiểu rõ hơn về đoạn trích này, cô trò mình sẽ đi từng bước một, giống như chúng ta đang xây một ngôi nhà, cần phải có nền móng chắc chắn và từng viên gạch phải được đặt đúng chỗ.
Bước 1: Xác định nguồn gốc của đoạn trích
Trước hết, chúng ta cần biết đoạn trích này đến từ đâu. Các em còn nhớ bài học về Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn không nào? Đúng rồi, đoạn trích này nằm trong bài “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, một vị tướng tài ba, anh hùng dân tộc của nước ta. Bài hịch này được viết vào thời kỳ kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược lần thứ hai.
Bước 2: Phân tích ý nghĩa của từng vế câu, từng cụm từ quan trọng
Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhau đi sâu vào nội dung của đoạn trích.
Câu đầu tiên: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.
“Nhân nghĩa” ở đây có nghĩa là gì? Đó là lòng yêu thương con người, thương dân, mong muốn mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho dân lành.
“Cốt ở yên dân” nghĩa là điều quan trọng nhất của việc nhân nghĩa chính là làm cho dân được yên ổn, không bị chiến tranh tàn phá, không bị áp bức bóc lột.
Như vậy, vế câu này khẳng định một tư tưởng lớn lao: Hành động nhân nghĩa không phải là những lời nói suông hay những việc làm hình thức, mà nó phải xuất phát từ lợi ích và sự bình yên của nhân dân. Khi đất nước thái bình, nhân dân được sống an lành, đó mới thực sự là biểu hiện cao đẹp của lòng nhân nghĩa.
Tiếp theo là vế câu: “…An dân là trên hết”.
Cụm từ “An dân” rất quen thuộc với chúng ta, nó có nghĩa là làm cho dân được an cư lạc nghiệp, được sống trong hòa bình.
“Trên hết” nhấn mạnh vai trò tối thượng, quan trọng nhất của việc an dân. Nó làm rõ hơn ý nghĩa của vế câu trước, khẳng định lại rằng mục tiêu cuối cùng của mọi hành động, mọi chủ trương phải là vì sự bình yên của đất nước và nhân dân.
Bây giờ, chúng ta xem xét cụm từ: “Bắt dân lầm than,SQLException, vô tội mà đem giết hại, thì lại là bất nhân”.
Đây là một lời khẳng định mang tính phản đề. Nếu việc yêu thương, bảo vệ nhân dân là nhân nghĩa, thì hành động làm cho nhân dân khổ cực, gây tội ác cho những người vô tội lại là “bất nhân”, tức là trái với đạo lý làm người, trái với lẽ trời.
Lời nói này vạch trần bộ mặt tàn bạo của kẻ thù xâm lược, những kẻ chỉ biết đến chiến tranh, cướp bóc, giết hại dân lành.
Cuối cùng là câu: “…sông hào kiệt đời nào cũng có”.
“Hào kiệt” là những người tài giỏi, có khí phách, có công lao lớn đối với đất nước.
Câu này mang một ý nghĩa khích lệ, động viên rất lớn. Trần Quốc Tuấn muốn nói rằng, dù kẻ thù mạnh đến đâu, dù thời thế có khó khăn thế nào, thì đất nước ta vẫn luôn sản sinh ra những anh hùng, những người tài ba có thể đứng lên chống giặc, bảo vệ non sông. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó qua nhiều thế kỷ.
Bước 3: Nêu cảm nhận chung về đoạn trích
Sau khi phân tích từng phần, chúng ta có thể rút ra những cảm nhận chung về đoạn trích này như sau:
Thứ nhất, về tư tưởng: Đoạn trích thể hiện một tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc, coi trọng sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân là mục tiêu tối thượng. Tác giả đặt “yên dân” lên hàng đầu, coi đó là cốt lõi của việc làm người, làm tướng. Đồng thời, đoạn trích cũng vạch trần bản chất tàn bạo, bất nhân của kẻ thù.
Thứ hai, về nghệ thuật: Lời văn của Trần Quốc Tuấn rất chặt chẽ, mạch lạc. Ông sử dụng phép đối lập giữa “nhân nghĩa” và “bất nhân” để làm nổi bật quan điểm của mình. Cách lập luận logic, đi từ cái chung đến cái riêng, từ khẳng định đến phủ định, rồi lại khẳng định bằng dẫn chứng lịch sử, đã làm cho lời hịch thêm sức thuyết phục.
Thứ ba, về giá trị: Đoạn trích không chỉ mang giá trị lịch sử, thể hiện ý chí quyết tâm bảo vệ non sông của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Trần Quốc Tuấn, mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc. Nó gợi cho chúng ta bài học về trách nhiệm của mỗi cá nhân, đặc biệt là những người có vai trò và vị trí trong xã hội, phải luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Đồng thời, câu nói “hào kiệt đời nào cũng có” là nguồn động viên tinh thần to lớn, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tương lai của đất nước.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, “Hịch tướng sĩ” không chỉ là một áng văn bất hủ trong lịch sử văn học dân tộc, mà còn là một bài học về lẽ sống, về đạo làm người, về tinh thần yêu nước và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam.
Đấy là những cảm nhận của cô về đoạn trích này. Các em có thể suy nghĩ và bổ sung thêm ý kiến của mình nhé. Cô tin rằng, qua việc tìm hiểu kỹ lưỡng, các em sẽ ngày càng yêu thích môn Ngữ Văn và hiểu sâu sắc hơn những giá trị mà các tác phẩm văn học mang lại.
Chúc các em học tốt!
Nguyễn Trãi (1380 – 1442) là nhà chính trị, quân sự lỗi lạc, tài ba có công lớn trong công cuộc dẹp giặc Minh đem lại nền thái bình thịnh trị cho nước nhà. Ông còn là một nhà văn nhà thơ lớn với khối lượng tác phẩm đồ sộ bao gồm cả văn học chữ Hán và chữ Nôm. Trong đó phải kể đến một số tác phẩm như: Đại cáo bình Ngô, Quân trung từ mệnh tập, Quốc m thi tập, Ức Trai thi tập… Đại cáo bình Ngô được coi là áng “Thiên cổ hùng văn” muôn đời bất hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị thế dân tộc. Trong đó, cốt lõi là phần đầu tác phẩm với lý tưởng nhân nghĩa được thể hiện rõ ràng:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Nhân nghĩa là tư tưởng chủ đạo của Đại cáo bình Ngô, là mục tiêu chiến đấu vô cùng cao cả và thiêng liêng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Mở đầu bài cáo tác giả nêu luận đề chính nghĩa. Việc nhân nghĩa của Nguyễn Trãi ở đây là “yên dân” và “trừ bạo”. “Yên dân” chính là giúp dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, như vậy dân có yên thì nước mới ổn định, mới phát triển được. Tác giả đưa vào “yên dân” như để khẳng định đạo lý “lấy dân làm gốc” là quy luật tất yếu trong mọi thời đại là tài sản, là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia.
Nguyễn Trãi thật tài tình khi nhận ra và khai sáng thành công vấn đề cốt lõi ấy. Việc nhân nghĩa tiếp theo chính là “trừ bạo” ý nói đến quân Minh, bọn gian tà chuyên đi bóc lột nhân dân. Bọn chúng thẳng tay hành hạ, cướp bóc, vùi dập dân ta trong vực thẳm của sự đau khổ. “Yên dân”, “trừ bạo”, hai việc này tưởng như không liên quan đến nhau nhưng lại là hai yếu tố có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho nhau, vì nếu không yên dân tất trừ bạo khó yên, chúng được nhấn mạnh và tiến hành cùng lúc, thống nhất với nhau. Quan tâm đến sự yên ổn, no ấm cho dân cũng đồng nghĩa với việc phải chiến đấu đánh đuổi kẻ thù của dân, diệt trừ những kẻ tham tàn bạo ngược, cụ thể là bọn “cuồng Minh” giày xéo lên cuộc sống nhân dân, gây ra bao tai hoạ.
Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là phạm trù đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội: phải chăm lo cho nhân dân được sống cuộc hạnh phúc, yên bình. Điều quan trọng hơn là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lý. Ông không nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà chỉ bằng một hai câu ngắn gọn tác giả đi vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất. Không những thế, nhân nghĩa còn gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác”
Từ Triệu , Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập
Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.
Khi khẳng định chân lí này, Nguyễn Trãi đã đưa ra một quan niệm được đánh giá là đầy đủ nhất lúc bấy giờ về các yếu tố tạo thành một quốc gia độc lập.Nếu như 400 năm trước, trong Nam Quốc Sơn Hà, Lý Thường Kiệt chỉ xác định được hai yếu tố về lãnh thổ và chủ quyền trên ý thức quốc gia cùng độc lập dân tộc thì trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Đây chính là điểm sáng tạo cho thấy trí tuệ của Nguyễn Trãi. Ở mỗi một quốc gia, nền văn hiến ngàn năm không ai có thể nhầm lẫn được, cương thổ, núi, sông, đồng ruộng, biển cả đều được chia rõ ràng. Phong tục tập quán cũng như văn hoá mỗi miền Bắc, Nam cũng khác. Ở đây, Nguyễn Trãi nhấn mạnh cả Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng không thể nhầm lẫn, thay đổi hay xóa bỏ được. Cùng với đó là từng triều đại riêng nhằm khẳng định chủ quyền. Qua câu thơ, Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại “Triệu, Đinh, Lí, Trần” của ta ngang hàng với “Hán, Đường, Tống, Nguyên” của Trung Quốc , điều đó cho ta thấy, nếu không có một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt thì không thể nào có sự so sánh cực kì hay và tinh tế như vậy. Cuối cùng chính là nhân tài, con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định nền độc lập của chính mình. Tuy thời thế “mạnh, yếu từng lúc khác nhau” song hào kiệt thì đời nào cũng có, câu thơ như lời răn đe đối với những ai, những kẻ nào, nước nào muốn thôn tính Đại Việt.
Từ năm yếu tố trên, Nguyễn Trãi đã khái quát gần như toàn diện về nền độc lập của một quốc gia. So với “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo thật sự hay hơn , đầy đủ, toàn diện hơn về nội dung cũng như tư tưởng xuyên suốt. Ngoài ra , để nhấn mạnh tư cách độc lập của nước ta, tác giả còn sử dụng cách viết sánh đôi nước ta và Trung Quốc: về bờ cõi, phong tục- hai nước ngang bằng nhau, về triều đại-bốn triều đại cường thịnh của ta so với bốn triều đại của Trung Quốc cùng nhân tài thời nào cũng có đã chứng tỏ ta không hề thua kém chúng.
Xuyên suốt đoạn thơ, Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều từ ngữ chỉ tính chất hiển nhiên vốn có khi nêu rõ sự tồn tại của Đại Việt: “từ trước”, “đã lâu” ,“đã chia”, “cũng khác” đã làm tăng sức thuyết phục lên gấp bội. Nghệ thuật thành công nhất của đoạn một – cũng như là bài cáo – chính là thể văn biền ngẫu được nhà thơ khai thác triệt để. Phần còn lại của đoạn đầu là chứng cớ để khẳng định nền độc lập, về các cuộc chiến trước đây với phương Bắc trong lịch sử chúng đều thất bại là chứng cớ khẳng định rõ nhất:
Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cứ còn ghi.
Nguyễn Trãi đã tổng kết những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn nền độc lập dân tộc. Cách liệt kê, chỉ ra dẫn chứng rõ ràng, cụ thể, xác thực đã được công nhận bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hùng, thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Người đọc thấy ở đây ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi đã vươn tới một tầm cao mới khi nêu cụ thể, rõ ràng từng chiến công oanh liệt của quân và dân ta: “cửa Hàm Tử”, “sông Bạch Đằng”,..thêm vào đó là sự xem thường, căm ghét đối với sự thất bại của những kẻ xâm lược không biết tự lượng sức: “Lưu Cung..tham công”, “Triệu Tiết… thích lớn”, Toa Đô, Ô Mã, tất cả chúng đều phải chết thảm. Đoạn thơ đã một lần nữa khẳng định rằng: Đại Việt là một quốc gia có độc lập, tự chủ, có nhân tài, có tướng giỏi, chẳng thua kém gì bất cứ một quốc gia nào. Bất cứ kẻ nào có ý muốn thôn tính, xâm lược ta đều phải chịu kết quả thảm bại. Cuộc chiến chống lại quân giặc, bảo vệ dân tộc là một cuộc chiến vì chính nghĩa, lẽ phải, chứ không như nhiều cuộc chiến tranh phi nghĩa khác, cho nên, dù thế nào đi nữa, chính nghĩa nhất định thắng gian tà theo quy luật của tạo hóa.
Mở đầu đoạn trích, tác giả đã thể hiện lòng tự hào dân tộc qua việc nêu cao nguyên lý nhân nghĩa, là nguyên lý cơ bản làm nền tảng, cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa.
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.
Nhân nghĩa vốn là khái niệm đạo đức của Nho giáo nói về đạo lí, cách ứng xử và tình thương giữa con người với nhau. Ở đây tác giả đã tiếp thu tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo theo hướng lấy lợi ích của nhân dân làm gốc và mở rộng khái niệm nhân nghĩa. Nhân nghĩa không những trong quan hệ giữa người với người mà còn có trong quan hệ giữa dân tộc với dân tộc. Đây là nội dung mới, sự phát triển tư tưởng mới về nhân nghĩa của Nguyễn Trãi so với Nho giáo. Cốt lõi tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là “yên dân” và “trừ bạo”. “Yên dân” nghĩa là nhân dân được sống yên vui, hạnh phúc. Mà muốn yên dân thì trước hết phải tiêu diệt những kẻ tàn ác, bạo ngược để bảo vệ dân lành. Người dân mà tác giả nói đến ở đây là những người dân Đại Việt đang phải chịu bao đau khổ dưới ách thống trị của giặc Minh. Những kẻ bạo ngược mà tác giả nói đến ở đây là những kẻ đã gây ra biết bao đau thương, khổ cực cho nhân dân ta, đó chính là quân xâm Minh nói riêng và bề lũ xâm lược nói chung. Đối với Nguyễn Trãi yêu nước gắn liền với đánh giặc để cứu nước cứu dân, vì độc lập của đất nước, vì tự do, hạnh phúc, hòa bình của nhân dân. Có thể nói, tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là phạm trù đạo đức hạn hẹp mà là một lí tưởng xã hội tiến bộ, tích cực, nhân quyền dân tộc: phải chăm lo cho nhân dân được sống cuộc hạnh phúc, yên bình. Điều quan trọng hơn là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lí. Ông không nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà đi vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất.Dựa vào nhân nghĩa và chính tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi mà nó đã trở thành sức mạnh vô địch để nghĩa quân của ta chiến thắng giặc Minh.
Sau khi tuyên ngôn về nhân nghĩa, tác giả đã thể hiện lòng tự hào dân tộc qua việc tuyên ngôn về nền độc lập, có chủ quyền của nước Đại Việt:
“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cỡi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu Đinh Lí Trần bao đời xây nên độc lập
Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có”
Nguyễn Trãi đã đưa ra những yếu tố căn bản để xác định độc lập, chủ quyền dân tộc: nền văn hiến lâu đời, cương vực lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử riêng, chế độ riêng với “hào kiệt đời nào cũng có”. Những thực tế khách quan mà tác giả đưa ra là chân lí không thể phủ nhận. Khi nêu chân lí khách quan, Nguyễn Trãi đã phát biểu đồng thời một cách hoàn chỉnh quan niệm của mình về quốc gia, dân tộc. Người đời sau vẫn thường xem đoạn thơ trên là tiêu biểu và kết tinh học thuyết về quốc gia, dân tộc của Nguyễn Trãi.
Sức thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi là ở chỗ kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và thực tiễn. Quả đúng như vậy! Người anh hùng Nguyễn Trãi đã tự tin khẳng định truyền thống văn hiến lâu đời của nước Việt ta, được hình thành từ khi đất nước ta tồn tại theo hàng nghìn năm lịch sử đã tạo nên một diện mạo riêng của dân tộc.
Và quả thực chúng ta rất tự hào bởi trên thực tế:
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Nhân dân ta có chủ quyền, có thuần phong mỹ tục riêng làm nên hai phương Bắc – Nam khác biệt. Ở đây, Nguyễn Trãi nhấn mạnh cả Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng không thể nhầm lẫn, thay đổi hay xóa bỏ được.
Đây là những chứng cớ về những chiến công đã từng được ghi trong sử sách có sức thuyết phục cao mang tính hiển nhiên. Kẻ nào đến xâm phạm nước ta chắc chắc sẽ bị trừng trị chuốc lấy bại vong. Nguyễn Trãi đã tổng kết những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn nền độc lập dân tộc. Cách liệt kê, chỉ ra dẫn chứng rõ ràng, cụ thể, xác thực đã được công nhận bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hùng, thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Người đọc thấy ở đây ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi đã vươn tới một tầm cao mới khi nêu cụ thể, rõ ràng từng chiến công oanh liệt của quân và dân ta: “cửa Hàm Tử”, “sông Bạch Đằng”,..thêm vào đó là sự xem thường, căm ghét đối với sự thất bại của những kẻ xâm lược không biết tự lượng sức : “Lưu Cung..tham công”, “Triệu Tiết… thích lớn”, Toa Đô, Ô Mã, tất cả chúng đều phải chết thảm. Đoạn thơ đã một lần nữa khẳng định rằng: Đại Việt là một quốc gia có độc lập, tự chủ, có nhân tài, có tướng giỏi, chẳng thua kém gì bất cứ một quốc gia nào. Kẻ nào đến xâm lược nước ta chắc chắn sẽ bị trừng trị chuốc lấy bại vong. Cuộc chiến chống lại quân giặc, bảo vệ dân tộc là một cuộc chiến vì chính nghĩa, lẽ phải, chứ không như nhiều cuộc chiến tranh phi nghĩa khác, cho nên, dù thế nào đi nữa, chính nghĩa nhất định thắng gian tà theo quy luật của tạo hóa.